Chương 1 PHONG CÁCH TƯ DUY HỒ CHÍ MINH 1. Khái quát chung về phong cách tư duy Mỗi con người đều có một phong cách riêng. Hoàn cảnh gia đình, môi trường văn hoá, hoàn cảnh xã hội, quá trình giáo dục, nghề nghiệp, vị trí xã hội, đặc biệt là cách ứng xử của bản thân là những yếu tố hình thành phong cách của con người. Chủ tịch Hồ Chí Minh có một phong cách riêng, phong cách của một lãnh tụ mang phong cách của con người Việt Nam bình thường, phong cách của một công nhân, một trí thức, mang dáng dấp của một ông đồ xứ nghệ.
Nghiên cứu về phong cách Hồ Chí Minh, các nhà khoa học cũng như nhiều nhà hoạt động chính trị ở trong và ngoài nước thường đề cập đến phong cách sinh hoạt, phong cách làm việc, phong cách tư duy, phong cách nói và viết, … Luận văn này chỉ tập trung vào phong cách tư duy Hồ Chí Minh. Tất nhiên, trong hệ thống phong cách Hồ Chí Minh thì phong cách tư duy giữ vai trò chủ đạo, chi phối và được thể hiện thông qua các phong cách khác. Vì vậy, để hiểu phong cách tư duy Hồ Chí Minh cần tìm hiểu thông qua những hành động cụ thể, nói cách khác là thông qua phong cách làm việc, phong cách ứng xử, phong cách sinh hoạt, phong cách nói và viết của Người. Vậy, trước hết cần làm rõ ba khái niệm: “phong cách”, “tư duy” và “phong cách tư duy” là gì? 1.
Khái niệm “phong cách” Trong lịch sử tư tưởng phương Đông và phương Tây, khái niệm “phong cách” được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau; Theo nghĩa hẹp, khái niệm “phong cách” chỉ giới hạn trong văn học nghệ thuật. “Nó được thể hiện ở những đặc điểm có tính hệ thống về tư tưởng và nghệ thuật, những đặc trưng thẩm mỹ và ổn định về nội dung và hình thức 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thể hiện, tạo nên những giá trị độc đáo của một nghệ sỹ”. Người ta nói phong cách chính là con người là theo nghĩa này. Theo Đại từ điển Tiếng việt, khái niệm “phong cách” được hiểu theo 4 nghĩa sau: 1.
“Là vẻ riêng trong lối sống, làm việc của một người hay một hạng người nào đó. Là phiên dạng của ngôn ngữ có những đặc điểm trong lựa chọn, kết hợp và tổ chức các phương pháp ngôn ngữ liên quan tới giao tiếp. Là toàn bộ các thủ pháp sử dụng phương tiện ngôn ngữ đặc trưng cho từng nhà văn, tác phẩm, thể loại. Là việc lựa chọn các phương tiện ngôn ngữ theo nguyên tắc tu từ” [71, tr.1337] Theo Từ điển triết học, khái niệm “phong cách” cũng chỉ được hiểu chủ yếu trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật [65, tr.
Theo Từ điển Tiếng Việt tường giải và liên tưởng, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 1999, “Phong cách là những đặc điểm có tính hệ thống về tư tưởng, tình cảm của một nhà văn, một nghệ sỹ nói chung và là kết quả của sự vận dụng các phương tiện biểu đạt lựa chọn theo đề tài hay thể loại hoặc phản ứng của tác giả đối với hoàn cảnh” [66, tr. Trong cuốn Phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh, các tác giả cho rằng, “phong cách không chỉ được hiểu theo nghĩa hẹp, giới hạn trong văn học nghệ thuật, mà “ còn được hiểu theo nghĩa rộng tức lề lối, cung cách, cách thức, phong thái, phong độ, phẩm cách đã trở thành nề nếp ổn định của một người hay một lớp người, được thể hiện trong tất cả các mặt hoạt động như lao động, học tập, sinh hoạt, ứng xử, diễn đạt ( nói và viết)… tạo nên những giá trị, những nét riêng biệt của chủ thể đó” [26, tr. Như vậy, xung quanh khái niệm “phong cách” có nhiều cách hiểu khác nhau: theo nghĩa hẹp chỉ giới hạn trong văn học, nghệ thuật và theo nghĩa rộng được thể hiện trong tất cả các mặt hoạt động của con người. Nhưng dù được hiểu theo nghĩa nào thì “phong cách” luôn là cái riêng, độc đáo, có tính hệ 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thống, ổn định và đặc trưng của chủ thể.
Chủ thể có thể là của một người, một lớp người hay một dân tộc, một vùng lãnh thổ. Từ những yếu tố tác động đến sự hình thành phong cách, xuất hiện những cấp độ khác nhau của phong cách. Trước hết, ở cấp độ thứ nhất: phong cách là cái riêng, độc đáo, có tính hệ thống, ổn định và đặc trưng cho một con người cụ thể. Như chúng ta đều biết, đối với mỗi người thì phong cách được hình thành và chịu sự tác động của các yếu tố như: truyền thống dân tộc, gia đình, địa phương nơi cư trú, tập quán, thói quen, v.
Trong các yếu tố tác động trên thì năng lực hoạt động của bản thân người đó giữ vai trò quyết định nhất.Con người có thể tiếp thu những truyền thống tốt, tập quán đẹp và khắc phục thói quen xấu ở mức độ như thế nào hoàn toàn phụ thuộc vào trình độ và khí chất của người đó. Cùng một hoàn cảnh sống như nhau nhưng ở từng người có phong cách không hoàn toàn giống nhau. Vì thế, phong cách mang dấu ấn cá nhân rất rõ. Một nếp sống giản dị - đó chính là phong cách sinh hoạt; còn khiêm tốn lại là phong cách đạo đức của một người tự biểu hiện mình trong quan hệ với người khác.
Phong cách còn được thể hiện cả trong cách ăn mặc, đi lại, làm việc, trong ứng xử của mỗi người là khác nhau, tạo nên cái riêng, cái độc đáo trong bức tranh đầy màu sắc của cuộc sống mà ở đó không ai hoàn toàn giống ai. Đó còn gọi là “nét riêng” của mỗi người. Thứ hai, phong cách được hiểu là cái độc đáo, có tính hệ thống, ổn định và đặc trưng của một nhóm người, một lớp người hay của một giai cấp, tầng lớp nhất định. Triết học Mác từng chỉ rõ mối quan hệ giữa cá nhân với tập thể.
Trong đó, cá nhân cần phải có xã hội mới tồn tại và phát triển được, ngược lại, sự tồn tại và phát triển của xã hội là do các cá nhân tạo thành. Điều đó cũng có nghĩa, phong cách của mỗi cá nhân được hình thành một phần dưới tác động của môi trường, nhất là môi trường làm việc. Chính môi trường ấy với những đặc trưng riêng của ngành nghề sẽ tác động vào mỗi cá nhân, ảnh hưởng đến sự hình thành nhân cách của mỗi cá nhân. Đồng thời, thông qua mỗi cá nhân ấy sẽ tạo ra phong cách chung cho một ngành nghề nhất định.
Những đặc trưng riêng 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com mang màu sắc của mỗi ngành nghề ấy được thể hiện trong nhận thức, trong lối sống, trong cách mặc, cách làm việc, cách ứng xử, v., là khác nhau. Từ đó mà trong xã hội sẽ có nhiều phong cách khác nhau giữa các nhóm người khác nhau. Cũng cần thấy rằng, phong cách theo cấp độ thứ nhất và thứ hai có mối quan hệ đan xen nhau, tác động qua lại nhau, bởi lẽ, trong mỗi môi trường nghề nghiệp nhất định đều có phong cách riêng, nhưng phong cách đó chỉ được thể hiện thông qua từng con người cụ thể làm trong các môi trường đó. Mỗi cá nhân cụ thể vừa mang những đặc trưng chung do ngành nghề, do môi trường làm việc qui định lại vừa mang những đặc trưng riêng của bản thân mỗi người.
Như thế, phong cách được thể hiện ở một con người cụ thể, nhưng con người cụ thể đó lại tồn tại trong một môi trường nhất định và chịu sự ảnh hưởng của chính môi trường ấy. Do đó, phong cách của mỗi cá nhân vừa có cái riêng nhưng cũng có cái chung, vừa là dấu ấn của riêng mình nhưng lại mang cả những đặc trưng chung của môi trường sống. Người nông dân Việt Nam, bên cạnh cái chung với nông dân của các nước trên thế giới là có tư hữu nhỏ, sản xuất nông nghiệp, sống ở nông thôn… còn có đặc điểm riêng là chịu ảnh hưởng của văn hoá làng xã, của các tập quán lâu đời của dân tộc, của điều kiện tự nhiên của đất nước nên cần cù, chịu đựng, chịu khó, có khả năng chịu đựng những khó khăn trong cuộc sống… Tuy nhiên, trong giai cấp nông dân, mỗi người nông dân cụ thể, bên cạnh những đặc trưng chung đó, họ lại có những nét riêng của mỗi người do truyền thống gia đình, do trình độ nhận thức của mỗi người qui định. Đây chính là một biểu hiện của mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, trong đó, cái riêng là cái toàn bộ, phong phú hơn cái chung, cái chung là cái bộ phận, nhưng sâu sắc hơn cái riêng.
Thứ ba, phong cách là cái riêng, độc đáo, có tính hệ thống, ổn định và đặc trưng của một dân tộc hay rộng hơn là một khu vực. Như trên đã nói, “phong cách” được hình thành và chịu tác động của các điều kiện tự nhiên, môi trường, văn hoá, xã hội, kinh tế, chính trị, tập quán, thói quen… qua các thời kỳ phát triển của lịch sử. Những yếu tố đó tạo nên những đặc trưng khác nhau của một vùng, một dân tộc, hay của một khu vực xét theo 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com lãnh thổ cư trú. Từ đó, tạo nên phong cách của người Việt Nam không giống phong cách người Trung Hoa và khác với phong cách người Pháp, người Mỹ… thậm chí, phong cách người phương Đông khác với phong cách người phương Tây.
Do vậy, mới có tư duy của người phương Đông khác tư duy người phương Tây. Sự khác biệt giữa tư duy phương Đông và tư duy phương Tây sẽ được trình bày trong phần sau của luận văn. Chính sự khác biệt về cách tư duy sẽ phần nào chi phối sự khác biệt trong lối sống, trong phong tục tập quán, trong cách ăn, mặc, đi lại, làm việc… ở mỗi vùng là không giống nhau. Người phương Tây có cách đón chào năm mới khác người phương Đông, các tập tục, lối sống cũng không hoàn toàn giống nhau.
Đến đây có thể thấy, “phong cách là cái riêng, độc đáo, có tính hệ thống, ổn định và đặc trưng của chủ thể được thể hiện cả trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người”. Phong cách được thể hiện ở nhiều cấp độ khác nhau, có thể là ở một con người cụ thể, một lớp người, một dân tộc hay rộng hơn là một khu vực, gọi chung là một chủ thể. Cơ sở để hình thành phong cách bao gồm các yếu tố: điều kiện tự nhiên, môi trường, truyền thống, phong tục tập quán, thói quen, và do năng lực của con người qui định.