Luận văn: Phong cách tư duy Hồ Chí Minh trong xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo

Luận văn: Phong cách tư duy Hồ Chí Minh & xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam hiện nay. Nghiên cứu chuyên sâu, giá trị thực tiễn.

Chuyên ngành

Hồ Chí Minh học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2008

132
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

Lời cam đoan

Danh mục các ký hiệu và chữ viết tắt

Mở đầu

1. Tính cấp thiết của luận văn

2. Tình hình nghiên cứu

3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

6. Đóng góp của luận văn

7. Kết cấu của luận văn

1. Chƣơng 1: Phong cách tƣ duy Hồ Chí Minh

1.1. Khái quát chung về phong cách tƣ duy

1.1.1. Khái niệm phong cách

1.1.2. Khái niệm tư duy

1.1.3. Phong cách tư duy

1.2. Phong c¸ch t­ duy Hå ChÝ Minh

1.2.1. Cơ sở hình thành phong cách tư duy Hồ Chí Minh

1.2.1.1. Tư duy dân tộc Việt Nam
1.2.1.2. Tư duy phương Đông
1.2.1.3. Tư duy phương Tây
1.2.1.4. Tư duy biện chứng Mác – xít
1.2.1.5. Nhân tố chủ quan thuộc của Hồ Chí Minh

1.2.2. Đặc trưng cơ bản của phong cách tư duy Hồ Chí Minh

1.2.2.1. Tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo
1.2.2.2. Mọi suy nghĩ đều xuất phát từ thực tiễn
1.2.2.3. Kế thừa và phát triển
1.2.2.4. Gắn ý chí, tình cảm cách mạng với tri thức khoa học
1.2.2.5. Cụ thể, thiết thực và hiệu quả
1.2.2.6. Linh hoạt, mềm dẻo

1.3. Tiểu kết chƣơng 1

2. Chƣơng 2: Xây dựng phong cách tƣ duy Hồ Chí Minh trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở nƣớc ta hiện nay

2.1. Thùc tr¹ng phong cách t- duy cña ®éi ngò c¸n bé l·nh ®¹o, qu¶n lý ë n­íc ta hiÖn nay

2.2. Nguyªn nh©n cña thùc tr¹ng trªn

2.3. Đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng phong cách tƣ duy của đội ngũ lãnh đạo, quản lý theo phong cách tƣ duy Hồ Chí Minh

2.3.1. Đổi mới tư duy về cán bộ và công tác cán bộ của Đảng và Nhà nước, công tác kiểm tra, giáo dục, rèn luyện và bồi dưỡng lý luận đối với cán bộ

2.3.2. Đảng cần giáo dục phong cách nói chung và đặc biệt là phong cách tư duy Hồ Chí Minh trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý

2.3.3. Cần tạo môi trường thực tiễn để người cán bộ phát huy tư duy tự chủ, sáng tạo đồng thời tạo điều kiện để nhân dân được thực thi quyền làm chủ trong việc quản lý giám sát cán bộ

2.3.4. Người cán bộ lãnh đạo, quản lý cần tự nâng cao tinh thần học tập, rèn luyện phong cách tư duy của bản thân

2.4. Tiểu kết chƣơng 2

Danh mục tài liệu tham khảo

Tóm tắt

I. Luận Văn Thạc Sĩ Tổng Quan Phong Cách Tư Duy Hồ Chí Minh

Mỗi người có một phong cách riêng, hình thành từ gia đình, văn hóa, xã hội, giáo dục và cách ứng xử. Chủ tịch Hồ Chí Minh có phong cách của một lãnh tụ Việt Nam bình thường, của một công nhân, trí thức, mang dáng dấp ông đồ xứ Nghệ. Nghiên cứu phong cách Hồ Chí Minh, các nhà khoa học và chính trị gia trong và ngoài nước thường đề cập đến phong cách sinh hoạt, làm việc, tư duy, nói và viết. Luận văn này tập trung vào phong cách tư duy, vai trò chủ đạo, chi phối và được thể hiện qua các phong cách khác. Để hiểu rõ phong cách tư duy Hồ Chí Minh, cần tìm hiểu qua những hành động cụ thể, tức là thông qua phong cách làm việc, ứng xử, sinh hoạt, nói và viết của Người. Để hiểu rõ, cần làm rõ các khái niệm: “phong cách,” “tư duy,” và “phong cách tư duy”. Các khái niệm này cần được làm rõ để hiểu được bản chất vấn đề Phong cách tư duy Hồ Chí Minh

1.1. Phong Cách Định Nghĩa và Cấp Độ Biểu Hiện

Khái niệm “phong cách” được hiểu theo nhiều nghĩa: hẹp (văn học nghệ thuật) và rộng (lề lối, cung cách, cách thức, phong thái). “Phong cách” luôn là cái riêng, độc đáo, có tính hệ thống, ổn định và đặc trưng của chủ thể. Chủ thể có thể là một người, một lớp người, một dân tộc. Từ những yếu tố tác động đến sự hình thành phong cách, xuất hiện những cấp độ khác nhau của phong cách. Phong cách là cái riêng, độc đáo, có tính hệ thống, ổn định và đặc trưng cho một con người cụ thể. Yếu tố năng lực hoạt động bản thân giữ vai trò quyết định nhất. Phong cách được hiểu là cái độc đáo, có tính hệ thống, ổn định và đặc trưng của một nhóm người, một lớp người hay của một giai cấp, tầng lớp nhất định. Phong cách được hiểu là cái riêng, độc đáo, có tính hệ thống, ổn định và đặc trưng của một dân tộc hay rộng hơn là một khu vực Phong cách cá nhânPhong cách tập thể đều quan trọng.

1.2. Tư Duy và Tư Tưởng Phân Biệt và Mối Quan Hệ

“Tư duy” là quá trình phản ánh hiện thực khách quan một cách gián tiếp thông qua lăng kính chủ quan của con người, được tiến hành bằng các thao tác phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu, nhằm tìm ra những mối liên hệ, quan hệ có tính quy luật của sự vật, hiện tượng mà ta chưa từng biết. “Tư tưởng” là kết quả của quá trình tư duy được thể hiện ra thành những quan điểm, lập trường, chính kiến của chủ thể tư duy. “Tư duy” là quá trình suy nghĩ, còn “tư tưởng” là kết quả của quá trình ấy. Tư duy là biểu hiện bên trong, là nội dung của nhận thức còn tư tưởng là hình thức biểu hiện bên ngoài của nhận thức. Giữa tư duy và tư tưởng có mối quan hệ qua lại nhau, trong đó, “tư duy” là cơ sở, là tiền đề để có “tư tưởng”. Năng lực tư duy và kết quả của quá trình tư duy sẽ phản ánh trình độ nhận thức và cải tạo thế giới của mỗi người là khác nhau.

1.3. Phong Cách Tư Duy Định Nghĩa và Đặc Điểm

Phong cách tư duy là những đặc điểm riêng, có tính hệ thống, ổn định trên cơ sở thực hiện phương pháp tư duy của một chủ thể nhất định. Trong phong cách tư duy có sự thống nhất giữa cách thức thực hiện phương pháp tư duy với nội dung và kết quả của tư duy. Phong cách tư duy là sự thống nhất của các yếu tố: cách thức tư duy, nội dung tư duy, kết quả tư duy và mục đích của tư duy. Phong cách tư duy và phương pháp tư duy có quan hệ mật thiết nhưng không đồng nhất. Phương pháp tư duy là một hệ thống các nguyên tắc xuất phát từ các quy luật tồn tại, vận động của bản thân sự vật, hiện tượng. Nói tới phong cách tư duy là nói tới nét độc đáo, đặc trưng của một chủ thể nhất định. Phong cách Hồ Chí Minh là một điển hình cho phong cách của người Việt Nam Phong cách tư duy độc đáo là yếu tố then chốt.

II. Cơ Sở Hình Thành Phong Cách Tư Duy Hồ Chí Minh Phân Tích

Phong cách tư duy Hồ Chí Minh được hình thành dựa trên nhiều cơ sở, bao gồm tư duy dân tộc Việt Nam, tư duy phương Đông, tư duy phương Tây và tư duy biện chứng Mác-xít. Những yếu tố này kết hợp với nhân tố chủ quan của Hồ Chí Minh tạo nên một phong cách tư duy độc đáo và hiệu quả.

2.1. Tư Duy Dân Tộc Việt Nam Triết Lý Bình Dân và Linh Hoạt

Tư duy người Việt mang tính triết lý bình dân, cụ thể, thiết thực. Tư duy triết lý về cái bình dị để nuôi lớn nhân cách con người. Đó là tư duy dùng cái cá biệt để nói cái phổ biến. Một tư duy luôn xuất phát từ thực tiễn, từ chính đời sống thường ngày để khái quát thành triết lý. Tư duy người Việt là tư duy mềm dẻo, linh hoạt, có khả năng thích nghi với mọi hoàn cảnh. Việt Nam là người Việt Nam tiêu biểu nhất cho tư duy đó. Người luôn có sự linh hoạt, tiến thoái phù hợp, tận dụng thời - thế để giành thắng lợi hoàn toàn. Tư duy sáng tạo của người Việt Nam.Tư duy ấy được thể hiện trong việc tiếp thu có chọn lọc nền văn hoá nhân loại để làm phong phú hơn bản sắc dân tộc.

2.2. Tư Duy Phương Đông Tinh Hoa Văn Hóa và Nguyên Tắc Dĩ Bất Biến

Tư duy phương Đông là một nguồn gốc quan trọng ảnh hưởng đến sự hình thành phong cách tư duy Hồ Chí Minh. Trên nền tảng của tư duy dân tộc, Người đã kế thừa, vận dụng một cách tài tình tinh hoa văn hoá phương Đông để bổ sung, phát triển và hoàn thiện phong cách tư duy Việt Nam. Một trong những nét nổi bật của truyền thống văn hoá phương Đông là “một tấm gương sống có giá trị hơn một trăm bài diễn thuyết”. Hồ Chí Minh vận dụng sáng tạo. Người thường xuyên chứng minh lý luận bằng thực tiễn, bằng hành động, bằng việc làm. Nguyên tắc “dĩ bất biến ứng vạn biến” là một điển hình của tư duy mềm dẻo, linh hoạt, uyển chuyển, một tư duy “động” của phương Đông.

2.3. Tư Duy Phương Tây Duy Lý và Khoa Học

Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng trực tiếp phong cách tư duy phương Tây (đề cao các giá trị tư tưởng và năng lực trí tuệ, nặng về tư duy - duy lý…). Thực tiễn phong phú và sinh động đó đã ảnh hưởng không nhỏ trong việc hình thành phong cách tư duy sáng tạo vừa duy lý vừa duy nghiệm ở Hồ Chí Minh. Tư tưởng phương Tây lấy lý tính và khoa học làm tiêu chuẩn chân lý, Nguyễn Ái Quốc học ở đó phương pháp phân tích, nhất là phân tích duy vật biện chứng mác xít. Nguyễn Ái Quốc cũng là trong số ít người Việt Nam đầu tiên đã tiếp nhận và tôi luyện những khái niệm “Tự do, dân chủ, tiến bộ” ở phương Tây.

III. Đặc Trưng Nổi Bật Phong Cách Tư Duy Hồ Chí Minh Phân Tích

Phong cách tư duy Hồ Chí Minh có nhiều đặc trưng nổi bật, bao gồm tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo, mọi suy nghĩ đều xuất phát từ thực tiễn, kế thừa và phát triển, gắn ý chí, tình cảm cách mạng với tri thức khoa học, cụ thể, thiết thực và hiệu quả, linh hoạt, mềm dẻo.

3.1. Tư Duy Độc Lập Tự Chủ Sáng Tạo Nền Tảng Của Thành Công

Độc lập là không lệ thuộc, không phụ thuộc, không bắt chước, không theo đuôi. Tự chủ là tự mình làm chủ suy nghĩ của mình, làm chủ bản thân và công việc của mình, tự mình thấy trách nhiệm trước đất nước và dân tộc. Sáng tạo là sẵn sàng từ bỏ những cái cũ đã được thực tiễn kiểm nghiệm là không đúng, những gì là lạc hậu, lỗi thời, những cái cũ đã đúng trước kia nhưng đến nay không còn phù hợp. Tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo được hình thành trong phong cách tư duy Hồ Chí Minh từ rất sớm. Tư duy độc lập, tự chủ còn thể hiện ở việc xác định kẻ thù chính của dân tộc. Với các tài liệu lịch sử trên đây không cho phép chúng ta nghĩ rằng, có thể có một sự dìu dắt, khuyên bảo nào đó của Phan Chu Trinh đối với Nguyễn Ái Quốc về mặt phương hướng và quan điểm chính trị. Nhờ đó, tư duy truyền thống của dân tộc Việt Nam được nâng lên một tầm cao mới trong sự khẳng định bản sắc, lòng tự tôn dân tộc và được thế giới thừa nhận.

3.2. Xuất Phát Từ Thực Tiễn Cơ Sở Của Mọi Nhận Thức

Phong cách tư duy Hồ Chí Minh là một điển hình cho sự vận dụng phép biện chứng duy vật, quan điểm lấy thực tiễn là cơ sở, điểm xuất phát của quá trình nhận thức chân lý. Tư tưởng không trực tiếp cải tạo được hiện thực nhưng tư tưởng giúp con người có hành động phù hợp với quy luật khách quan của lịch sử. Hồ Chí Minh bao giờ cũng dựa trên thực tiễn sinh động của cuộc sống để suy nghĩ và hướng mọi suy nghĩ tới hành động cải tạo và xây dựng xã hội. Chính thực tiễn đó là điểm xuất phát để Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh ra đi tìm con đường cứu nước cho dân tộc và sau này, Người không chỉ là người tìm đường mà còn là người dẫn đường cho dân tộc Việt Nam đi đến thắng lợi cuối cùng.

3.3. Kế Thừa và Phát Triển Nâng Tầm Giá Trị

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã biết kế thừa tư duy biện chứng sơ khai ấy và nâng lên một tầm cao mới trên nền tảng triết học duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin. Từ sớm Người đã chỉ rõ đường lối đối ngoại nhất quán của Việt Nam cần mở rộng tối đa quan hệ hữu nghị, sẵn sàng làm bạn với tất cả các nước dân chủ. Tư duy độc lập tự chủ trong ngoại giao của Hồ Chí Minh tiếp tục được toả sáng trong những giai đoạn về sau, khi Việt Nam đã hoàn toàn độc lập và được thế giới công nhận.

IV. Vận Dụng Phong Cách Tư Duy Hồ Chí Minh Xây Dựng Cán Bộ

Việc vận dụng phong cách tư duy Hồ Chí Minh vào xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý hiện nay là vô cùng quan trọng. Nó giúp cán bộ có tư duy khoa học, sáng tạo, gắn bó với thực tiễn, từ đó nâng cao năng lực lãnh đạo và quản lý.

4.1. Đổi Mới Tư Duy về Cán Bộ và Công Tác Cán Bộ

Đổi mới tư duy về cán bộ và công tác cán bộ của Đảng và Nhà nước, công tác kiểm tra, giáo dục, rèn luyện và bồi dưỡng lý luận đối với cán bộ. Đảng cần giáo dục phong cách nói chung và đặc biệt là phong cách tư duy Hồ Chí Minh trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý. Cần tạo môi trường thực tiễn để người cán bộ phát huy tư duy tự chủ, sáng tạo đồng thời tạo điều kiện để nhân dân được thực thi quyền làm chủ trong việc quản lý giám sát cán bộ

4.2. Nâng Cao Tinh Thần Học Tập Rèn Luyện Tư Duy

Người cán bộ lãnh đạo, quản lý cần tự nâng cao tinh thần học tập, rèn luyện phong cách tư duy của bản thân. Cần tạo môi trường thực tiễn để người cán bộ phát huy tư duy tự chủ, sáng tạo đồng thời tạo điều kiện để nhân dân được thực thi quyền làm chủ trong việc quản lý giám sát cán bộ

19/08/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 PHONG CÁCH TƯ DUY HỒ CHÍ MINH 1. Khái quát chung về phong cách tư duy Mỗi con người đều có một phong cách riêng. Hoàn cảnh gia đình, môi trường văn hoá, hoàn cảnh xã hội, quá trình giáo dục, nghề nghiệp, vị trí xã hội, đặc biệt là cách ứng xử của bản thân là những yếu tố hình thành phong cách của con người. Chủ tịch Hồ Chí Minh có một phong cách riêng, phong cách của một lãnh tụ mang phong cách của con người Việt Nam bình thường, phong cách của một công nhân, một trí thức, mang dáng dấp của một ông đồ xứ nghệ.

Nghiên cứu về phong cách Hồ Chí Minh, các nhà khoa học cũng như nhiều nhà hoạt động chính trị ở trong và ngoài nước thường đề cập đến phong cách sinh hoạt, phong cách làm việc, phong cách tư duy, phong cách nói và viết, … Luận văn này chỉ tập trung vào phong cách tư duy Hồ Chí Minh. Tất nhiên, trong hệ thống phong cách Hồ Chí Minh thì phong cách tư duy giữ vai trò chủ đạo, chi phối và được thể hiện thông qua các phong cách khác. Vì vậy, để hiểu phong cách tư duy Hồ Chí Minh cần tìm hiểu thông qua những hành động cụ thể, nói cách khác là thông qua phong cách làm việc, phong cách ứng xử, phong cách sinh hoạt, phong cách nói và viết của Người. Vậy, trước hết cần làm rõ ba khái niệm: “phong cách”, “tư duy” và “phong cách tư duy” là gì? 1.

Khái niệm “phong cách” Trong lịch sử tư tưởng phương Đông và phương Tây, khái niệm “phong cách” được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau; Theo nghĩa hẹp, khái niệm “phong cách” chỉ giới hạn trong văn học nghệ thuật. “Nó được thể hiện ở những đặc điểm có tính hệ thống về tư tưởng và nghệ thuật, những đặc trưng thẩm mỹ và ổn định về nội dung và hình thức 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thể hiện, tạo nên những giá trị độc đáo của một nghệ sỹ”. Người ta nói phong cách chính là con người là theo nghĩa này. Theo Đại từ điển Tiếng việt, khái niệm “phong cách” được hiểu theo 4 nghĩa sau: 1.

“Là vẻ riêng trong lối sống, làm việc của một người hay một hạng người nào đó. Là phiên dạng của ngôn ngữ có những đặc điểm trong lựa chọn, kết hợp và tổ chức các phương pháp ngôn ngữ liên quan tới giao tiếp. Là toàn bộ các thủ pháp sử dụng phương tiện ngôn ngữ đặc trưng cho từng nhà văn, tác phẩm, thể loại. Là việc lựa chọn các phương tiện ngôn ngữ theo nguyên tắc tu từ” [71, tr.1337] Theo Từ điển triết học, khái niệm “phong cách” cũng chỉ được hiểu chủ yếu trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật [65, tr.

Theo Từ điển Tiếng Việt tường giải và liên tưởng, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 1999, “Phong cách là những đặc điểm có tính hệ thống về tư tưởng, tình cảm của một nhà văn, một nghệ sỹ nói chung và là kết quả của sự vận dụng các phương tiện biểu đạt lựa chọn theo đề tài hay thể loại hoặc phản ứng của tác giả đối với hoàn cảnh” [66, tr. Trong cuốn Phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh, các tác giả cho rằng, “phong cách không chỉ được hiểu theo nghĩa hẹp, giới hạn trong văn học nghệ thuật, mà “ còn được hiểu theo nghĩa rộng tức lề lối, cung cách, cách thức, phong thái, phong độ, phẩm cách đã trở thành nề nếp ổn định của một người hay một lớp người, được thể hiện trong tất cả các mặt hoạt động như lao động, học tập, sinh hoạt, ứng xử, diễn đạt ( nói và viết)… tạo nên những giá trị, những nét riêng biệt của chủ thể đó” [26, tr. Như vậy, xung quanh khái niệm “phong cách” có nhiều cách hiểu khác nhau: theo nghĩa hẹp chỉ giới hạn trong văn học, nghệ thuật và theo nghĩa rộng được thể hiện trong tất cả các mặt hoạt động của con người. Nhưng dù được hiểu theo nghĩa nào thì “phong cách” luôn là cái riêng, độc đáo, có tính hệ 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thống, ổn định và đặc trưng của chủ thể.

Chủ thể có thể là của một người, một lớp người hay một dân tộc, một vùng lãnh thổ. Từ những yếu tố tác động đến sự hình thành phong cách, xuất hiện những cấp độ khác nhau của phong cách. Trước hết, ở cấp độ thứ nhất: phong cách là cái riêng, độc đáo, có tính hệ thống, ổn định và đặc trưng cho một con người cụ thể. Như chúng ta đều biết, đối với mỗi người thì phong cách được hình thành và chịu sự tác động của các yếu tố như: truyền thống dân tộc, gia đình, địa phương nơi cư trú, tập quán, thói quen, v.

Trong các yếu tố tác động trên thì năng lực hoạt động của bản thân người đó giữ vai trò quyết định nhất.Con người có thể tiếp thu những truyền thống tốt, tập quán đẹp và khắc phục thói quen xấu ở mức độ như thế nào hoàn toàn phụ thuộc vào trình độ và khí chất của người đó. Cùng một hoàn cảnh sống như nhau nhưng ở từng người có phong cách không hoàn toàn giống nhau. Vì thế, phong cách mang dấu ấn cá nhân rất rõ. Một nếp sống giản dị - đó chính là phong cách sinh hoạt; còn khiêm tốn lại là phong cách đạo đức của một người tự biểu hiện mình trong quan hệ với người khác.

Phong cách còn được thể hiện cả trong cách ăn mặc, đi lại, làm việc, trong ứng xử của mỗi người là khác nhau, tạo nên cái riêng, cái độc đáo trong bức tranh đầy màu sắc của cuộc sống mà ở đó không ai hoàn toàn giống ai. Đó còn gọi là “nét riêng” của mỗi người. Thứ hai, phong cách được hiểu là cái độc đáo, có tính hệ thống, ổn định và đặc trưng của một nhóm người, một lớp người hay của một giai cấp, tầng lớp nhất định. Triết học Mác từng chỉ rõ mối quan hệ giữa cá nhân với tập thể.

Trong đó, cá nhân cần phải có xã hội mới tồn tại và phát triển được, ngược lại, sự tồn tại và phát triển của xã hội là do các cá nhân tạo thành. Điều đó cũng có nghĩa, phong cách của mỗi cá nhân được hình thành một phần dưới tác động của môi trường, nhất là môi trường làm việc. Chính môi trường ấy với những đặc trưng riêng của ngành nghề sẽ tác động vào mỗi cá nhân, ảnh hưởng đến sự hình thành nhân cách của mỗi cá nhân. Đồng thời, thông qua mỗi cá nhân ấy sẽ tạo ra phong cách chung cho một ngành nghề nhất định.

Những đặc trưng riêng 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com mang màu sắc của mỗi ngành nghề ấy được thể hiện trong nhận thức, trong lối sống, trong cách mặc, cách làm việc, cách ứng xử, v., là khác nhau. Từ đó mà trong xã hội sẽ có nhiều phong cách khác nhau giữa các nhóm người khác nhau. Cũng cần thấy rằng, phong cách theo cấp độ thứ nhất và thứ hai có mối quan hệ đan xen nhau, tác động qua lại nhau, bởi lẽ, trong mỗi môi trường nghề nghiệp nhất định đều có phong cách riêng, nhưng phong cách đó chỉ được thể hiện thông qua từng con người cụ thể làm trong các môi trường đó. Mỗi cá nhân cụ thể vừa mang những đặc trưng chung do ngành nghề, do môi trường làm việc qui định lại vừa mang những đặc trưng riêng của bản thân mỗi người.

Như thế, phong cách được thể hiện ở một con người cụ thể, nhưng con người cụ thể đó lại tồn tại trong một môi trường nhất định và chịu sự ảnh hưởng của chính môi trường ấy. Do đó, phong cách của mỗi cá nhân vừa có cái riêng nhưng cũng có cái chung, vừa là dấu ấn của riêng mình nhưng lại mang cả những đặc trưng chung của môi trường sống. Người nông dân Việt Nam, bên cạnh cái chung với nông dân của các nước trên thế giới là có tư hữu nhỏ, sản xuất nông nghiệp, sống ở nông thôn… còn có đặc điểm riêng là chịu ảnh hưởng của văn hoá làng xã, của các tập quán lâu đời của dân tộc, của điều kiện tự nhiên của đất nước nên cần cù, chịu đựng, chịu khó, có khả năng chịu đựng những khó khăn trong cuộc sống… Tuy nhiên, trong giai cấp nông dân, mỗi người nông dân cụ thể, bên cạnh những đặc trưng chung đó, họ lại có những nét riêng của mỗi người do truyền thống gia đình, do trình độ nhận thức của mỗi người qui định. Đây chính là một biểu hiện của mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, trong đó, cái riêng là cái toàn bộ, phong phú hơn cái chung, cái chung là cái bộ phận, nhưng sâu sắc hơn cái riêng.

Thứ ba, phong cách là cái riêng, độc đáo, có tính hệ thống, ổn định và đặc trưng của một dân tộc hay rộng hơn là một khu vực. Như trên đã nói, “phong cách” được hình thành và chịu tác động của các điều kiện tự nhiên, môi trường, văn hoá, xã hội, kinh tế, chính trị, tập quán, thói quen… qua các thời kỳ phát triển của lịch sử. Những yếu tố đó tạo nên những đặc trưng khác nhau của một vùng, một dân tộc, hay của một khu vực xét theo 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com lãnh thổ cư trú. Từ đó, tạo nên phong cách của người Việt Nam không giống phong cách người Trung Hoa và khác với phong cách người Pháp, người Mỹ… thậm chí, phong cách người phương Đông khác với phong cách người phương Tây.

Do vậy, mới có tư duy của người phương Đông khác tư duy người phương Tây. Sự khác biệt giữa tư duy phương Đông và tư duy phương Tây sẽ được trình bày trong phần sau của luận văn. Chính sự khác biệt về cách tư duy sẽ phần nào chi phối sự khác biệt trong lối sống, trong phong tục tập quán, trong cách ăn, mặc, đi lại, làm việc… ở mỗi vùng là không giống nhau. Người phương Tây có cách đón chào năm mới khác người phương Đông, các tập tục, lối sống cũng không hoàn toàn giống nhau.

Đến đây có thể thấy, “phong cách là cái riêng, độc đáo, có tính hệ thống, ổn định và đặc trưng của chủ thể được thể hiện cả trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người”. Phong cách được thể hiện ở nhiều cấp độ khác nhau, có thể là ở một con người cụ thể, một lớp người, một dân tộc hay rộng hơn là một khu vực, gọi chung là một chủ thể. Cơ sở để hình thành phong cách bao gồm các yếu tố: điều kiện tự nhiên, môi trường, truyền thống, phong tục tập quán, thói quen, và do năng lực của con người qui định.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ