mở đầu, các bảng biểu thì nội dung chủ yếu của đề tài gồm 3 chƣơng nhƣ sau: Luan van 5 Chƣơng 1. Một số vấn đề lý luận về phát triển nguồn nhân lực. Thực trạng công tác phát triển nguồn nhân lực tại Cục Thuế tỉnh Đắk Lắk trong thời gian qua. Một số giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực tại Cục Thuế tỉnh Đắk Lắk trong thời gian tới.
Tổng quan tài liệu nghiên cứu a. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài Trên thế giới, từ những năm ở thập niên 90 trở lại đây đã có nhiều nghiên cứu về phát triển NNL một cách có hệ thống, nhất là ở một số nƣớc phát triển nhƣ Mỹ, Đức, Nhật, Anh, Canada, Úc,… Tiêu biểu nhất là các nghiên cứu và các tác giả dƣới đây: - Kelly D., trong một kết quả nghiên cứu về phát triển NNL của nhóm công tác nghiên cứu phát triển thuộc Tổ chức Hợp tác kinh tế Thái Bình Dƣơng công bố năm 2001 trên tạp chí Human Resource Development Outlook đã đƣa ra những khái niệm về phát triển NNL. Theo quan điểm phát triển, nhóm nghiên cứu cho rằng phát triển NNL là một phạm trù nằm trong tổng thể quá trình thuộc về sự nghiệp phát triển con ngƣời, phát triển NNL sẽ giúp tổ chức tạo ra lợi thế cạnh tranh và đạt hiệu quả cao hơn. - Nhiều nghiên cứu gần đây về phƣơng pháp luận và nội dung phát triển NNL đã đƣợc công bố.
Tiêu biểu nhất có thể kể đến là các tác giả nhƣ Charles Cowell và cộng sự và một số tác giả khác nhƣ: W. Clayton Allen và Richard A. Swanson (2006), Timothy Mc Clernon và Paul B. Các nghiên cứu này đều thống nhất “Mô hình đào tạo mang tính hệ thống gồm phân tích, thiết kế, phát triển, thực hiện và đánh giá (ADDIE)” đƣợc sử dụng trên 30 năm qua trên thế giới là những nội dung cốt lõi của phát triển NNL trong mỗi tổ chức.
Tình hình nghiên cứu trong nước Nói chung có nhiều công trình nghiên cứu có hƣớng tập trung xem xét vấn đề phát triển nguồn nhân lực, trong số đó một số nghiên cứu điển hình nhƣ: - Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ƣơng (2008) đã công bố bài viết “Phát triển con người và phát triển nguồn nhân lực”, trong đó đi sâu phân tích về mối liên hệ và vai trò của phát triển NNL đối với phát triển con ngƣời trong phát triển kinh tế. - Cuốn sách “Phát triển nguồn nhân lực - kinh nghiệm thế giới và thực tiễn nước ta” do Trần Văn Tùng, Lê Ái Lâm làm chủ biên (1996). Cuốn sách giới thiệu về kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực của một số nƣớc trên thế giới từ đó đƣa ra những kinh nghiệm phát triển NNL ở Việt Nam. Về phát triển NNL trong một tổ chức đã có nhiều nghiên cứu, trong đó có một số nghiên cứu tiêu biểu nhƣ sau: - Luận án tiến sĩ kinh tế của Phan Thủy Chi (2008): “Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong các trường đại học khối kinh tế của Việt Nam thông qua các chương trình hợp tác đào tạo quốc tế”.
Đây là một nghiên cứu khá hệ thống về đào tạo và phát triển NNL ở các trƣờng đại học nhƣng giới hạn ở việc khảo sát các tác động thông qua các chƣơng trình hợp tác đào tạo quốc tế; - Bài viết “Công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong công ty nhà nước” của tác giả Ngô Thị Minh Hằng công bố năm 2008 trình bày một nghiên cứu về thực trạng phát triển NNL mà chủ yếu là hoạt động đào tạo ở các doanh nghiệp Nhà nƣớc. Tác giả đã phân tích, đƣa ra một số nhận định khái quát về những yếu kém, tồn tại của công tác đào tạo trong các doanh nghiệp này thời gian vừa qua; - Giáo trình Quản trị nhân lực do ThS. Nguyễn Văn Điềm – PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân (2011). Giáo trình đã giới thiệu tổng quan về quản trị Luan van 7 NNL.
Nội dung sách có mƣời chín chƣơng và chƣơng IX: “Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực” đã trình bày một cách rõ ràng về nội dung, tiến trình, phƣơng pháp đào tạo và phát triển NNL; - Cuốn sách “Phát triển nguồn nhân lực thông qua giáo dục và đào tạo - Kinh nghiệm Đông Á” của Viện Kinh tế Thế giới (2003). Cuốn sách đã giới thiệu các thành tựu đạt đƣợc của nhóm nƣớc trong khu vực trong công tác phát triển NNL thông qua giáo dục và đào tạo. Ngoài ra cuốn sách còn giới thiệu các chính sách thành công về giáo dục và đào tạo của các nƣớc Đông Á là giải pháp quan trọng trong cung cấp NNL đáp ứng yêu cầu của công nghiệp hóa. Đó cũng là bài học cho Việt Nam trong sự nghiệp phát triển nguồn nhân lực; - Bài báo khoa học “Một số vấn đề về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực” của PGS.TS Võ Xuân Tiến trƣờng Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng.
Bài báo này làm sáng tỏ nội dung: Nguồn nhân lực là nguồn lực quý giá nhất của các tổ chức, đơn vị là yếu tố quyết định sự thành bại của họ trong tƣơng lai. Bởi vậy, các tổ chức và đơn vị luôn tìm cách để duy trì và phát triển nguồn nhân lực của mình. Một trong các biện pháp hữu hiệu nhất nhằm thực hiện mục tiêu trên là đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Qua đó, bài báo đã làm rõ các nội dung của phát triển nguồn nhân lực và đƣợc tham khảo để xây dựng hệ thống cơ sở lý luận cho đề tài; - Bài báo khoa học “Đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực tại Đà Nẵng” của PGS.TS Võ Xuân Tiến trƣờng Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng.
Bài báo đã nêu bật đƣợc mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa đào tạo và sử dụng NNL. Bài viết đã làm rõ nội dung để phát triển nguồn nhân lực thì không thể bỏ qua đào tạo NNL và sau khi đào tạo thì phải sử dụng NNL đó một cách hợp lý hơn để không lãng phí nguồn tài nguyên to lớn đó; - Bài báo khoa học: “Phát huy nguồn nhân lực bằng động lực thúc Luan van 8 đẩy” của ThS. Nguyễn Văn Long trƣờng ĐH Kinh tế, Đại học Đà Nẵng. Bài viết đã nêu bật đƣợc ý nghĩa và vai trò của quan trọng của động lực thúc đẩy đối với ngƣời lao động.
Qua đó, bài viết cũng đã làm rõ nội dung và các yếu tố mà tổ chức có thể sử dụng để nâng cao hiệu quả công việc bằng động lực thúc đẩy; - Luận văn thạc sĩ kinh tế của Nguyễn Thị Oanh Kiều (2010): “Hoạch định nguồn nhân lực tại trường Cao đẳng Đức Trí - Đà Nẵng”. Đây là một nghiên cứu khá hệ thống về hoạch định nguồn nhân lực trong một tổ chức. Nói tóm lại, cho tới nay có khá nhiều nghiên cứu nhƣng chỉ đề cập tới một số khía cạnh liên quan nhƣ lao động, thu nhập và đào tạo mà chƣa có một công trình nghiên cứu nào mang tính toàn diện và có hệ thống về phát triển NNL ngành Thuế Việt Nam nói chung cũng nhƣ cho Cục Thuế tỉnh Đắk Lắk nói riêng. Nhận thức rõ điều đó, đề tài kế thừa những thành tựu nghiên cứu, đồng thời tiến hành chọn Cục Thuế tỉnh Đắk Lắk làm nghiên cứu chuyên sâu.
Luan van 9 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ UẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN ỰC 1. KHÁI QUÁT VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN ỰC 1. Một số khái niệm a. Nhân lực Nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thể lực, trí lực và nhân cách của mỗi con người được đem ra sử dụng trong quá trình lao động sản xuất [6, tr.
Cụ thể các khái niệm thể lực, trí lực và nhân cách của con ngƣời đƣợc hiểu nhƣ sau: Thể lực chỉ sức khỏe của thân thể; nó phụ thuộc vào sức vóc, tình trạng sức khỏe của từng con ngƣời, mức sống, thu nhập, chế độ ăn uống, chế độ làm việc và nghỉ ngơi, chế độ y tế, tuổi tác, thời gian công tác, giới tính… [6, tr. Trí lực chỉ sức suy nghĩ, sự hiểu biết, sự tiếp thu kiến thức, tài năng, năng khiếu cũng nhƣ quan điểm, lòng tin, nhân cách… của từng con ngƣời [6, tr. Nhân cách đƣợc xem là toàn bộ những đặc điểm phẩm chất tâm lý của cá nhân, quy định giá trị xã hội và hành vi của mỗi con ngƣời. Nhƣ vậy hiện có nhiều thuật ngữ khác nhau về nhân lực.
Tuy nhiên, khái niệm nhân lực về cơ bản đƣợc hiểu là nguồn lực của mỗi con ngƣời, nằm trong mỗi con ngƣời và làm cho con ngƣời hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con ngƣời giúp con ngƣời tham gia vào hoạt động sản xuất, tôn giáo, chính trị, văn hóa, xã hội,. Nguồn nhân lực Có thể nói, khái niệm nguồn nhân lực hiện nay không còn xa lạ. Tuy Luan van 10 nhiên, quan niệm về vấn đề này hầu nhƣ chƣa thống nhất.
Tùy theo mục tiêu cụ thể mà ngƣời ta có những nhận thức khác nhau về nguồn nhân lực. Có thể nêu lên một số quan niệm nhƣ sau: Nguồn nhân lực là toàn bộ khả năng về sức lực, trí tuệ của mọi cá nhân trong tổ chức, bất kể vai trò của họ là gì. Theo ý kiến này, nói đến NNL là nói đến sức óc, sức bắp thịt, sức thần kinh và nhìn nhận các khả năng này ở trạng thái tĩnh [17, tr. Có ý kiến cho rằng, NNL là tổng hợp cá nhân những con ngƣời cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể chất và tinh thần đƣợc huy động vào quá trình lao động.
Khác với quan niệm trên, ở đây đã xem xét vấn đề ở trạng thái động [17, tr. Lại có quan niệm, khi đề cập đến vấn đề này chỉ nhấn mạnh đến khía cạnh trình độ chuyên môn và kỹ năng của NNL, ít đề cập đến một cách đầy đủ và rõ ràng đến những đặc trƣng khác nhƣ thể lực, yếu tố tâm lý – tinh thần… Tuy nhiên, trong bài nghiên cứu này, tác giả chỉ sử dụng khái niệm: “Nguồn nhân lực là tổng thể những tiềm năng của con người (trước hết và cơ bản nhất là tiềm năng lao động). Bao gồm: thể lực, trí lực, nhân cách của con người nhằm đáp ứng yêu cầu của một tổ chức hoặc một doanh nghiệp nhất định” [17, tr. Khi đề cập đến NNL, ngƣời ta thƣờng nói đến số lƣợng và chất lƣợng của NNL đó.
Số lƣợng nguồn nhân lực thể hiện quy mô NNL và tốc độ tăng NNL hàng năm. Số lƣợng này, trong điều kiện nhất định, phụ thuộc quy mô của tổ chức.