CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN 1. KINH TẾ TƯ NHÂN VÀ VAI TRÒ CỦA KINH TẾ TƯ NHÂN 1. Khái niệm về kinh tế tư nhân a. Khái niệm Nền kinh tế là một thực thể có cấu trúc phức tạp gồm nhiều bộ phận hợp thành trong đó có KTTN.
Tuy nhiên khái niệm KTTN hiện nay còn chưa đồng nhất. Cụ thể, ở nước ta hiện nay vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau. Một số người cho rằng KTTN gồm các DN tư nhân trong nước và các DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài dưới dạng liên doanh hay hay 100% vốn nước ngoài. Với cách hiểu này sẽ tạo điều kiện để đánh giá hết tiềm năng của khu vực KTTN đối với sự phát triển của nền kinh tế, song lại gặp khó khăn trong tính toán thống kê khi muốn tách phần vốn góp của Nhà nước trong các công ty cổ phần cũng như trong các DN liên doanh hay DN 100% vốn đầu tư nước ngoài.
Hơn nữa theo cách phân biệt này, việc phân tích sẽ gặp khó khăn bởi vì thực tế không phải tất cả các bộ phận trong khu vực KTTN đều được sự hỗ trợ, ưu đãi của Nhà nước như nhau do các DN có vốn đầu tư nước ngoài luôn nhận được điều kiện ưu đãi hơn so với DN tư nhân trong nước. Có quan điểm còn cho rằng, KTTN là kinh tế ngoài quốc doanh dựa trên việc chia nền kinh tế thành ba khu vực là khu vực kinh tế quốc doanh, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Theo quan điểm này thì kinh tế tập thể cũng thuộc và KTTN. Thực tế cho thấy, việc đưa khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ra khỏi khu vực KTTN sẽ không đánh giá đúng tiềm năng cũng như vai trò của khu vực kinh tế này cho sự phát triển của nền kinh tế, đặc biệt là trong điều kiện mở cửa như hiện nay.
Quan điểm được nhiều người chấp nhận nhất hiện nay đó là nói đến KTTN tức là nói đến khu vực KTTN. Ở đó, hoạt động SXKD được tiến hành dựa trên tư liệu sản xuất và lao động tư nhân. Mặc dù điều này làm cho loại hình tổ chức của KTTN tuy có sự khác biệt nhưng vẫn có bản chất chung, có chung đặc tính tư nhân. Luan van 5 Toàn bộ luận văn coi đây là quan điểm chính thống để nghiên cứu và xem xét về KTTN.
Theo quan điểm này thì khu vực KTTN bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân hoạt động dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể và các loại hình DN của tư nhân. Cụ thể, khu vực KTTN bao gồm: - Kinh tế cá thể, tiểu chủ + Về kinh tế cá thể: kinh tế cá thể được hiểu là hình thức kinh tế của một cá nhân hay một hộ gia đình hoạt động dựa trên quan hệ sở hữu nhỏ về TLSX và khả năng lao động của bản thân người lao động và gia đình. + Kinh tế tiểu chủ: kinh tế tiểu chủ là được hiểu là hình thức kinh tế do một người chủ tổ chức, quản lý và điều hành hoạt động dựa trên quan hệ sở hữu tư nhân về TLSX nhưng có thuê mướn lao động. Tuy nhiên thu nhập vẫn chủ yếu dựa vào sức lao động, vốn của bản thân và gia đình người lao động là chủ yếu.
- Kinh tế tư bản tư nhân: kinh tế tư bản tư nhân là hình thức tổ chức SXKD dựa trên cơ sở chiếm hữu tư nhân TBCN về TLSX và bóc lột lao động làm thuê. Biểu hiện của nó là các loại hình DN do nhân dân đầu tư vốn và quản lý kinh doanh theo luật DN bao gồm: DN tư nhân, công ty TNHH, CTCP, công ty hợp danh. Theo đó, KTTN không bao gồm các DN nhà nước, DN của các tổ chức chính trị xã hội khi chuyển thành công ty TNHH, CTCP. Tóm lại, KTTN bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân hoạt động trong lĩnh vực sản xuất và dịch vụ dưới nhiều hình thức khác nhau như DN tư nhân, công ty TNHH, CTCP và hộ SXKD cá thể.
Như đã trình bày ngay từ đầu luận văn, khi đề cập đến KTTN hay khu vực KTTN bao gồm nhiều vấn đề. Dưới góc độ nghiên cứu của chuyên ngành Kinh tế phát triển, để đáp ứng yêu cầu, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu khu vực KTTN dưới hình thức biểu hiện là các loại hình DN tư nhân như DN tư nhân, công ty TNHH và CTCP. Đặc điểm của kinh tế tư nhân Theo quan điểm Đại hội XI của Đảng, nền kinh tế nước ta bao gồm 4 thành phần kinh tế. Đó là kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân và kinh tế có Luan van 6 vốn đầu tư nước ngoài.
Trong đó, KTTN dựa trên hình thức sở hữu tư nhân về TLSX, với các đặc điểm cơ bản: - KTTN gắn liền với lợi ích cá nhân, là một trong những động lực thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển. - KTTN có tính tự phát cao, có tính hiệu quả và sức cạnh tranh được đề cao, ít lãng phí. - Có tính đa dạng về qui mô, khả năng lựa chọn qui mô phù hợp và tổ chức sản xuất tối ưu. - Tự quyết định, tự chịu trách nhiệm về chiến lược, định hướng phát triển SXKD.
- Phát triển KTTN chắc chắn sẽ dẫn đến sự phân hoá giàu nghèo, ảnh hưởng đến vấn đề công bằng xã hội. Các đặc điểm trên của KTTN cũng chính là đặc điểm của các DN trong khu vực KTTN. Do đó phải thúc đẩy mặt tích cực và khắc phục những yếu kém của khu vực kinh tế này trong nền kinh tế. Các hình thức tổ chức của kinh tế tư nhân Sự ra đời của một loại hình DN nói chung và DN thuộc khu vực KTTN nói riêng phụ thuộc vào trình độ phát triển của sản xuất, công nghệ, ngành nghề… và thường xuyên biến đổi.
Trong giai đoạn hiện nay thì các loại hình DN trong khu vực KTTN sau đây là phổ biến: DN tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, CTCP. Theo Luật DN hiện hành, DN là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được thành lập hoặc đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động SXKD. Trong khái niệm này, kinh doanh được hiểu là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời. Hiện nay, các văn bản pháp lý liên quan đến tổ chức và thành lập DN gồm có: Luật DN, Luật DN nhà nước, luật Hợp tác xã, luật Các tổ chức tín dụng, luật Đầu tư nước ngoài.
Theo đó, DN được tổ chức theo nhiều loại hình khác nhau. Mỗi loại hình DN có đặc trưng và từ đó tạo nên những hạn chế hay lợi thế của DN. Luan van 7 Doanh nghiệp tư nhân: là DN do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của DN. Chủ sở hữu duy nhất của DN tư nhân là một cá nhân.
DN tư nhân không có tư cách pháp nhân. Chủ DN tư nhân là đại diện theo pháp luật của DN. Chủ DN tư nhân có toàn quyền quyết định đối với tất cả hoạt động kinh doanh của DN: có toàn quyền quyết định việc sử dụng lợi nhuận sau khi đã nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật. Chủ DN tư nhân có thể trực tiếp hoặc thuê người khác quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh.
Trường hợp thuê người khác làm Giám đốc quản lý DN, thì chủ DN tư nhân vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doanh của DN. Do là chủ sở hữu duy nhất của DN nên chủ DN tư nhân hoàn toàn chủ động trong việc quyết định các vấn đề liên quan đến hoạt động kinh doanh của DN. Chế độ trách nhiệm vô hạn của chủ DN tư nhân tạo sự tin tưởng cho đối tác, khách hàng và giúp cho DN ít chịu sự ràng buộc chặt chẽ bởi pháp luật như các loại hình DN khác. Tuy nhiên, do không có tư cách pháp nhân nên mức độ rủi ro của DN cao, chủ DN tư nhân phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của DN và của chủ DN chứ không giới hạn số vốn mà chủ DN đã đầu tư vào DN.
Như vậy, có thể thấy DN tư nhân sẽ là loại hình DN ít được lựa chọn trong thời gian đến do những hạn chế và tính rủi ro của nó không đáp ứng được xu hướng thay đổi của nền kinh tế trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực. Công ty trách nhiệm hữu hạn: là DN trong đó thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của DN trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào DN. Thành viên của công ty có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên tối thiểu là hai và tối đa không vượt quá năm mươi. Công ty TNHH có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
Tuy nhiên, công ty TNHH không được quyền phát hành cổ phiếu để huy động vốn. Công ty TNHH có từ hai thành viên trở lên phải có Hội đồng thành viên, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc Công ty TNHH có trên mười một thành viên phải có Ban kiểm soát. Luan van 8 Công ty TNHH là loại hình DN phổ biến nhất ở Việt Nam hiện nay. Hoạt động kinh doanh dưới hình thức công ty TNHH đem lại cho nhà đầu tư nhiều lợi thế như: Do có tư cách pháp nhân nên các thành viên công ty chỉ chịu trách nhiệm về các hoạt động của công ty trong phạm vi số vốn góp vào công ty nên ít gây rủi ro cho người góp vốn.
Số lượng thành viên trong công ty trách nhiệm không nhiều và các thành viên thường là người quen biết, tin cậy nhau, nên việc quản lý, điều hành công ty không quá phức tạp. Chế độ chuyển nhượng vốn được điều chỉnh chặt chẽ nên nhà đầu tư dễ dàng kiểm soát được việc thay đổi các thành viên, hạn chế sự thâm nhập của người lạ vào công ty. Tuy nhiên, hình thức công ty TNHH cũng có những hạn chế nhất định như: Do chế độ TNHH nên uy tín của công ty trước đối tác, bạn hàng cũng phần nào bị ảnh hưởng.