phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, phần nội dung chính của công trình này gồm 3 chƣơng và 7 tiết. Một số vấn đề lý luận chung về du lịch mùa nƣớc nổi Trình bày những cơ sở lý luận về mùa nƣớc nổi ở ĐBSCL, những nét đặc trƣng của mùa nƣớc nổi ở An Giang, định nghĩa khái niệm du lịch mùa nƣớc nổi, những sản phẩm của loại hình du lịch mùa nƣớc nổi. Tiềm năng và hiện trạng hoạt động du lịch mùa nƣớc nổi ở An Giang Trình bày những tiềm năng phát triển du lịch mùa nƣớc nổi và phân tích hiện trạng khai thác loại hình du lịch mùa nƣớc nổi ở tỉnh An Giang. Những giải pháp phát triển du lịch mùa nƣớc nổi ở An Giang Trình bày những định hƣớng khai thác, những giải pháp cần thiết nhằm khắc phục những hạn chế và phát huy thế mạnh của mùa nƣớc nổi trong hoạt động du lịch.
15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ DU LỊCH MÙA NƢỚC NỔI 1. Khái quát về mùa nƣớc nổi 1. Quan niệm về mùa nước nổi Cho đến thời điểm hiện tại vẫn chƣa có một khái niệm chính thức nào về mùa nƣớc nổi đƣợc đƣa ra. Mặc dù cụm từ này rất gần gũi với ngƣời dân vùng ĐBSCL và đƣợc xuất hiện rất thƣờng xuyên trên các phƣơng tiện truyền thông, các công trình nghiên cứu, luận án.
Thuật ngữ “mùa nƣớc nổi vùng ĐBSCL” đang dần trở nên nổi tiếng và gần gũi với ngƣời dân Việt Nam. Thời gian gần đây, đến mùa nƣớc nổi, trên phƣơng tiện thông tin xuất hiện một cách phổ biến nhiều cụm từ hoàn toàn xa lạ với ngôn ngữ, văn hóa Nam Bộ nhƣ “mùa lũ”, “lũ về”, “đỉnh lũ” “sống chung với lũ”, “đê bao chống lũ”, “cụm tuyến dân cƣ chống lũ”, “ nhà vƣợt lũ”, “trận lũ”, “vùng lũ”, “lũ cao”, “nƣớc lũ”, “nƣớc lụt”, “lũ lụt”… Theo Đại từ điển tiếng Việt: Lũ: “Hiện tƣợng nƣớc dâng cao đầu nguồn, dồn vào dòng chảy, thƣờng là rất mạnh, trong thời gian tƣơng đối ngắn. 1055] Lụt: “Hiện tƣợng nƣớc dâng cao tràn ngập cả một vùng rộng lớn do mƣa lũ gây ra. 1066] Cả hai khái niệm trên chỉ diễn tả đƣợc những tính chất chung của lũ lụt nhƣng chƣa thể hiện đƣợc những đặc trƣng cơ bản của mùa nƣớc dâng cao ở vùng ĐBSCL.TS Trần Thanh Xuân: “Thuật ngữ lũ chỉ hiện tƣợng nƣớc sông dâng cao trong một khoảng thời gian nhất định, sau đó giảm dần.
Trong mùa lũ, những trận mƣa liên tiếp trên lƣu vực sông (vùng hứng nƣớc mƣa và sinh dòng chảy), làm cho nƣớc sông cũng từng đợt nối tiếp nhau dâng cao, tạo ra những trận lũ trong sông suối. Khi lũ lớn, nƣớc lũ tràn qua bờ sông (đê) chảy vào những chỗ trũng và gây ra ngập lụt trên một diện rộng. 7] Từ “lũ” đƣợc sử dụng có tính phổ thông để gọi mùa nƣớc nổi ở vùng ĐBSCL, nhƣng chƣa thể hiện đƣợc bản chất của hiện tƣợng thiên nhiên diễn ra 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hàng năm ở vùng đất này. Đây là cách gọi đúng nhƣng mang tính bi quan, thiên về những tác hại do lũ gây ra.
Lũ, lụt thƣờng đƣợc xem là một trong những thiên tai nguy hiểm, gây nhiều thiệt hại nặng nề về tính mạng, tài sản của ngƣời dân. Ngƣời dân vùng ĐBSCL ít khi gọi thời gian nƣớc lên cao là mùa lũ mà thƣờng gọi hiện tƣợng thiên nhiên này là mùa nƣớc nổi. Theo Đại từ điển tiếng Việt: Mùa nƣớc nổi: “Mùa lũ ở châu thổ sông Cửu Long do nƣớc sông Tiền và Hậu tràn bờ, làm ngập cả châu thổ với các độ sâu khác nhau và thời gian dài ngắn khác nhau khiến chỉ cấy đƣợc một vụ lúa nổi nhƣng có tác dụng rửa mặn, xổ phèn, cả châu thổ có nƣớc ngọt đƣa vào một lƣợng phù sa đáng kể. 1049] Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: Mùa nƣớc nổi: “Mùa lũ ở châu thổ sông Cửu Long.
Mùa nƣớc nổi đƣa về một khối lƣợng nƣớc ngọt lớn, cùng với phù sa chi phối toàn bộ hoạt động nông nghiệp, chế độ canh tác, các hệ thống sản xuất ở châu thổ sông Cửu Long. Cảnh quan của châu thổ trong mùa nƣớc nổi có những nét đặc trƣng, cũng là mùa khai thác các loài thủy sản. 959] Mùa nƣớc nổi ở vùng ĐBSCL có đặc điểm khác những nơi khác vì mực nƣớc dâng lên từ từ mỗi ngày trung bình khoảng 20 cm, tốc độ nƣớc chảy không cao. Nƣớc lên từ từ trong nhiều tháng, đỉnh điểm vào cuối tháng 8 âm lịch ở vùng biên giới Việt Nam – Campuchia và cuối tháng 9 ở các tỉnh hạ nguồn.
Nƣớc rút từ từ và đến tháng 11 âm lịch thì chấm dứt mùa nƣớc nổi. Tùy theo lƣợng nƣớc ít, nhiều mà nƣớc ngập cao hay thấp. Từ xa xƣa, khi lƣu dân ngƣời Việt đến khai khẩn vùng đất mới đã gọi hiện tƣợng nƣớc dâng lên hằng năm là mùa nƣớc nổi. Cụm từ “mùa nƣớc nổi” đƣợc xem là phƣơng ngữ Nam Bộ, phản ánh cụ thể một hiện tƣợng nƣớc lên và nƣớc xuống theo mùa.
Cách gọi này cho thấy nhận thức của cƣ dân ĐBSCL về mùa nƣớc nổi là sự tuần hoàn của các mùa trong một năm theo quy luật tự nhiên. Có thể khẳng định, tên gọi mùa nƣớc nổi diễn tả ngắn ngọn, đầy đủ và hợp lý nhất với những đặc trƣng riêng của hiện tƣợng nƣớc dâng cao ở vùng ĐBSCL. Cách 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com gọi này còn diễn tả tính lạc quan, mong muốn khai phá và chinh phục vùng đất mới của các lớp cƣ dân miền Tây Nam Bộ. Bên cạnh đó, danh từ này còn thể hiện đƣợc tính chủ động trong mùa nƣớc nổi của ngƣời dân trong việc khai thác những lợi thế của mùa nƣớc nổi vào hoạt động phát triển kinh tế – xã hội của địa phƣơng.
Mùa nƣớc nổi có thể gây ảnh hƣởng đến các công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội (đƣờng giao thông, trƣờng học, chợ búa…) làm thiệt hại vƣờn cây ăn trái, cản trở đời sống sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp của ngƣời dân. Tuy nhiên, mùa nƣớc nổi cũng đem lại nguồn lợi thủy sản phong phú, phù sa bồi đắp cho ruộng đồng, tăng độ phì nhiêu của đất, tháo chua, rửa phèn, diệt trừ cỏ dại và các mầm bệnh… Mùa nƣớc nổi cũng đƣợc xem là mùa ăn nên làm ra của vùng đất “làm chơi ăn thiệt” này. Với những nỗ lực sáng tạo của mình, ngƣời dân ĐBSCL đã tận dụng và khai thác những lợi thế của mùa nƣớc nổi để phát triển kinh tế, ổn định cuộc sống. Nhiều mô hình sản xuất hiệu quả trong mùa nƣớc nổi đã xuất hiện ở vùng ĐBSCL.
Mùa nƣớc nổi không chỉ là một hiện tƣợng tự nhiên mà còn đƣợc xem là một nét văn hóa đặc trƣng của vùng sông nƣớc, có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành và phát triển của vùng châu thổ sông Cửu Long. Mùa nƣớc nổi luôn gắn liền với đời sống vật chất và tinh thần của ngƣời dân miền Tây. Hiện tƣợng mùa nƣớc nổi cũng đã trở thành một yếu tố văn hóa, hình thành cách ứng xử với tự nhiên và tính cách con ngƣời, góp phần tạo nên bản sắc văn hóa Nam Bộ. Mùa nước nổi ở ĐBSCL Vùng ngập nƣớc ở vùng ĐBSCL vào mùa nƣớc nổi đƣợc chia thành 4 tiểu vùng: vùng Tứ giác Long Xuyên, vùng Đồng Tháp Mƣời, vùng Tây sông Hậu và vùng giữa sông Tiền và sông Hậu.
Diện tích ngập nƣớc khoảng 2 triệu ha, chiếm khoảng 2,5% diện tích lƣu vực sông Mêkong, bao gồm địa bàn 9 tỉnh: An Giang, Đồng Tháp, Bến Tre, Cần Thơ, Hậu Giang, Kiên Giang, Long An, Tiền Giang, Vĩnh Long. Mùa nƣớc nổi ở ĐBSCL thƣờng kéo dài khoảng 6 tháng, bắt đầu từ cuối 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tháng 6 (chậm hơn mùa mƣa 1 tháng) và kết thúc vào tháng 12 hàng năm (chậm hơn thời gian kết thúc mùa mƣa 1 tháng và lùi 1 tháng so với thƣợng nguồn). Ngày bắt đầu mùa nƣớc nổi có thể xem là lúc mực nƣớc chấm dứt những dao động theo thủy triều. Ngày kết thúc mùa nƣớc nổi là ngày mực nƣớc bắt đầu dao động lại theo thủy triều.
Điểm khác biệt và đặc trƣng của mùa nƣớc nổi ở ĐBSCL có cƣờng suất lũ và biên độ nhỏ. Đây là sự tổng hợp của quá trình lũ góp từ trung và thƣợng lƣu sông Mekong dồn về khá chậm. So với thƣợng lƣu, lũ ở ĐBSCL rất hiền hòa. Mức độ biến động lũ giữa các năm không lớn.
Nguyên nhân chính làm biến động đỉnh lũ là khả năng điều tiết cắt đỉnh một cách hữu hiệu của Biển Hồ (Campuchia). Vì thế ít khi có lũ cực lớn tràn vào vùng ĐBSCL. Do địa hình vùng ĐBSCL bằng phẳng nên mực nƣớc đỉnh lũ tăng thêm vài chục cm là mức độ ngập nƣớc tăng lên đáng kể. Mùa nƣớc nổi ở ĐBSCL tƣơng đối ổn định và đƣợc điều hòa một cách tự nhiên, không có hiện tƣợng cƣờng suất lũ dâng cao, nhanh nhƣ lũ ở miền Trung và miền Bắc.
Mùa nƣớc nổi ở đây hoạt động theo chu kỳ, mực nƣớc dâng lên từ từ theo quy luật, tốc độ chậm, tràn trên diện rộng, không đột ngột, nhanh, mạnh giống nhƣ lũ ở những vùng miền khác. Chính những đặc điểm riêng biệt này nên mùa nƣớc nổi ở ĐBSCL không tàn phá, khắc nghiệt, ít gây thiệt hại. Vào mùa nƣớc nổi, ngƣời dân có thể dự đoán gần chính xác thời điểm nƣớc nhảy khỏi bờ, nƣớc quay, nƣớc đổ, nƣớc son, nƣớc bạc, nƣớc cao nhất, nƣớc rút… Việc xác định lũ lớn hay nhỏ vào mùa nƣớc nổi ở ĐBSCL không phụ thuộc vào cƣờng độ lũ, lƣu lƣợng, tổng lƣợng nƣớc mà yếu tố quan trọng là dựa vào mực nƣớc. Theo phân cấp của Tổng cục Khí tƣợng Thủy văn, mực nƣớc trên sông Tiền tại Tân Châu thấp hơn 3,83 m là lũ nhỏ, từ 3,83 m đến 4,83 m là lũ trung bình và trên 4,83 m là lũ lớn.
Lƣợng nƣớc lớn và mùa nƣớc nổi kéo dài, gây thiệt hại lớn về tính mạng và tài sản, gây khó khăn trong sinh hoạt của ngƣời dân vùng ngập nƣớc sâu. Mùa nƣớc nổi đến sớm thì gây thiệt hại cho lúa hè thu, đến muộn làm chậm thời gian xuống giống lúa đông xuân. Mực nƣớc vƣợt mức trung bình sẽ ảnh hƣởng năng suất của 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com mùa màng (giảm hoặc mất trắng), gây trì trệ sản xuất nông nghiệp. Nƣớc ngập lâu gây khó khăn trong việc bảo vệ môi sinh, môi trƣờng, gây xói mòn bờ sông, phá hủy cơ sở hạ tầng.
Khi nƣớc ngập quá cao còn làm xáo trộn cuộc sống của ngƣời dân, gây khó khăn cho việc định cƣ, đi lại, học tập.