CHƯƠNG I PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ 1.1 TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ 1.1 Sơ lược về sự phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử Khoảng đầu thập kỷ 90, hàng loạt ngân hàng bắt đầu cung cấp cho khách hàng một số phần mềm có thể cho phép khách hàng không cần đến ngân hàng vẫn có thể xem số dư tài khoản, đồng thời thực hiện một số lệnh thanh toán cho một số dịch vụ công cộng như tiền điện, nước, điện thoại,. Đến năm 1995, nghiệp vụ ngân hàng điện tử (E-Banking) chính thức được triển khai thông qua phần mềm Quicken của công ty Intuit Inc., với sự tham gia của 16 ngân hàng lớn nhất nước Mỹ. Khi đó khách hàng chỉ cần một máy vi tính, một modem, một line điện thoại và phần mềm Quicken là có thể sử dụng được dịch vụ này. Ngày nay, E-Banking đã và đang nhân rộng ra nhiều nước trên thế giới, ở các nước phát triển dịch vụ này trở nên khá quen thuộc vì tính tiện ích và hiệu quả của nó.2 Khái niệm Dịch vụ ngân hàng điện tử.
Dịch vụ ngân hàng điện tử được giải thích như là khả năng của một khách hàng có thể truy cập từ xa vào một ngân hàng nhằm: thu thập thông tin, thực hiện các giao dịch thanh toán tài chính dựa trên các tài khoản đã lưu ký tại ngân hàng đó. Đây là một khái niệm rộng dựa trên khả năng của từng ngân hàng trong việc ứng dụng công nghệ điện tử, tin học vào sản phẩm dịch vụ của mình.(1) Ngoài ra dịch vụ ngân hàng điện tử cũng được hiểu là các nghiệp vụ, các sản phẩm dịch vụ ngân hàng truyền thống trước đây được phân phối trên các kênh mới như Internet, điện thoại, mạng không dây… Hiện nay, ngân hàng điện tử tồn tại dưới hai hình thức: hình thức ngân hàng trực tuyến, chỉ tồn tại dựa trên môi trường mạng Internet, cung cấp dịch vụ 100% thông qua môi trường mạng, và mô hình kết hợp giữa hệ thống ngân hàng thương mại truyền thống và điện tử hóa các dịch vụ truyền thống, tức là phân phối những sản phẩm dịch vụ cũ trên những kênh phân phối mới. Ngân hàng điện tử tại Việt Nam chủ yếu phát triển theo mô hình này. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.3 Các hình thái phát triển của dịch vụ ngân hàng điện tử Kể từ khi ngân hàng WellFargo, ngân hàng đầu tiên cung cấp dịch vụ ngân hàng qua mạng tại Mỹ đến nay, đã có rất nhiều tìm tòi, thử nghiệm mang lại thành công cũng như thất bại trên con đường xây dựng một hệ thống ngân hàng điện tử hoàn hảo, phục vụ tốt nhất cho khách hàng.
Tổng kết chung hệ thống ngân hàng điện tử được phát triển qua các hình thái sau: 1.1 Brochure-ware Đây là hình thái đơn giản nhất của ngân hàng điện tử. Hầu hết các ngân hàng khi mới bắt đầu xây dựng ngân hàng điện tử đều thực hiện theo hình thái này. Việc đầu tiên là xây dựng một website chứa những thông tin về ngân hàng, đưa sản phẩm lên mạng nhằm quảng cáo, giới thiệu, chỉ dẫn, liên lạc…Thực chất đây chỉ là một kênh quảng cáo mới ngoài các kênh truyền thống như báo chí, truyền hình…Mọi giao dịch của ngân hàng vẫn thực hiện qua kênh truyền thống, tức là qua các chi nhánh ngân hàng.2 E-commerce Trong hình thái thương mại điện tử này, ngân hàng sử dụng Internet như một kênh phân phối mới cho những dịch vụ truyền thống như xem thông tin tài khoản, nhận thông tin giao dịch chứng khoán… Internet ở đây chỉ đóng vai trò như một dịch vụ cộng thêm vào để tạo sự thuận lợi thêm cho khách hàng. Hầu hết các ngân hàng vừa và nhỏ đang ở hình thái này.3 E-business Trong hình thái này, các xử lý cơ bản của ngân hàng ở phía khách hàng (front-end) và phía người quản lý (back-end) đều được tích hợp với internet và các kênh phân phối khác.
Giai đoạn này được phân biệt bỡi sự gia tăng về sản phẩm và chức năng của ngân hàng với sự phân biệt sản phẩm theo nhu cầu và quan hệ của khách hàng đối với ngân hàng. Hơn thế nữa sự phối hợp, chia sẻ giữa hội sở ngân hàng và các kênh phân phối như chi nhánh, mạng internet, mạng không dây… giúp cho việc xử lý yêu cầu và phục vụ khách hàng được nhanh chóng và chính xác hơn. Nguyễn Minh Kiều, Nghiệp vụ ngân hàng hiện đại, trang 1327 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -8- Internet và khoa học công nghệ đã tăng sự liên kết, chia sẻ thông tin giữa ngân hàng, đối tác, khách hàng và cơ quan quản lý.4 E-bank (Enterprise) Hình thái này chính là mô hình lý tưởng của một ngân hàng trực tuyến trong nền kinh tế điện tử, một sự thay đổi hoàn toàn trong mô hình kinh doanh và cung cách quản lý. Những ngân hàng này sẽ tận dụng sức mạnh thực sự của mạng toàn cầu nhằm cung cấp toàn bộ các giải pháp tài chính cho khách hàng với chất lượng tốt nhất.
Từ những bước ban đầu là cung cấp các sản phẩm hiện hữu thông qua nhiều kênh riêng biệt, ngân hàng có thể sử dụng nhiều kênh riêng biệt, ngân hàng có thể sử dụng nhiều kênh liên lạc này nhằm cung cấp nhiều giải pháp khác nhau cho từng đối tượng riêng biệt.4 Các dịch vụ ngân hàng điện tử Sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin trong những năm gần đây đã ảnh hưởng khá rõ nét đến công nghệ ngân hàng. Hiện nay ở nhiều nước trên thế giới, dịch vụ ngân hàng đã phát triển khá phổ biến, đa dạng về loại hình sản phẩm và dịch vụ. Nhìn chung các sản phẩm dịch vụ bao gồm các loại sau: 1.1 Call center Các Call center xuất hiện tại Mỹ từ những năm 1970. Hiện nay, chưa có thuật ngữ tương đương trong tiếng Việt để chỉ call center.
Xu hướng hiện nay là chuyển các Call center sang các nước đang phát triển. Mỹ là nước dẫn đầu thế giới về số lượng Call center. Lý do là đa số người tiêu dùng Mỹ thích mua bán hàng hóa và dịch vụ qua điện thoại hoặc Internet (đang chiếm tới 70% các giao dịch). Theo Công ty Tư vấn Datamonitor có trụ sở tại London, hiện nay ở Mỹ có tới trên 50.000 Call center, với số nhân viên khoảng 6 triệu người.
Call center cũng khá phát triển tại Anh, Úc và Canada. Tuy nhiên, các nước trên đang chuyển dần các Call center sang các nước đang phát triển. Xu hướng này là do chi phí hoạt động cao (chủ yếu do giá lao động) và một số nguyên nhân khác như nhu cầu mở rộng thị trường, đòi hỏi của khách hàng tại một số thị trường mới nổi lên. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -9- Tại Việt Nam, một số người đã quen với dịch vụ gọi số 108 (nay là 1080) để hỏi các thông tin như địa chỉ cơ quan, thông tin về doanh nghiệp, về tỷ giá hối đoái, dự báo thời tiết, các chương trình ca nhạc… Đây có thể xem là Call center dạng truyền thống, tuy nội dung và chất lượng dịch vụ còn hạn chế.
Vậy Call center được hiểu theo nghĩa thông thường là "trạm hoặc trung tâm liên lạc nơi khách hàng gọi (điện thoại) đến để hỏi thông tin cần biết hoặc để giao dịch". Tuy nhiên, khái niệm truyền thống này đã có nhiều thay đổi do ảnh hưởng của Internet và việc ứng dụng các tiến bộ của công nghệ thông tin trong hoạt động kinh doanh. Call center ngày nay mang nghĩa rộng hơn trước. Đó không chỉ là trung tâm để liên lạc qua điện thoại mà là "trung tâm chăm sóc khách hàng từ xa" của các công ty, đặc biệt là các công ty đa quốc gia.
Thường đây là các doanh nghiệp trong lĩnh vực thương mại điện tử, tiếp thị từ xa, cung cấp sản phẩm máy tính, công nghệ thông tin, ngân hàng, dịch vụ tài chính, tín dụng, bảo hiểm, vận tải và đại lý vận chuyển, khách sạn. Họ phải sử dụng Call center trong cung cấp dịch vụ vì phải giao dịch trực tuyến với đông đảo khách hàng, cùng một lúc. Ưu điểm của Call center là có thể cung cấp các thông tin hoặc trả lời các thắc mắc của khách hàng một cách linh hoạt. Nhược điểm của Call center là phải có người trực 24/24.2 Phone banking Phone banking thuộc loại dịch vụ gián tiếp từ xa của ngành ngân hàng.
Ngay tại Mỹ và vài nền kinh tế với ngành ngân hàng phát triển mạnh và rộng rãi – nhất là với lĩnh vực ngân hàng bán lẻ – người tiêu dùng (retail banking – consumer banking) thì loại dịch vụ gián tiếp này cũng chỉ mới phát triển và được cung cấp trên diện rộng cách đây 10 – 12 năm. Đây là loại sản phẩm cung cấp thông tin ngân hàng qua điện thoại hoàn toàn tự động. Do tự động nên các thông tin được ấn định trước, thông thường bao gồm thông tin về tỷ giá hối đoái, lãi suất, giá chứng khoán, thông tin cá nhân cho khách hàng như số dư tài khoản, liệt kê 5 giao dịch gần nhất, các thông báo mới nhất…Hệ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -10- thống cũng tự động gửi fax khi khách hàng yêu cầu cho các loại thông tin nói trên. Hiện nay qua phone banking, thông tin được cập nhật tức thời, khác với trước đây thông tin chỉ được cập nhật của cuối ngày hôm trước.3 Mobile banking Đây là dịch vụ ngân hàng qua điện thoại di động (Mobile Banking Service) là dịch vụ mà Ngân hàng cung cấp phương thức thanh toán trực tuyến, thông tin về tài khoản và các thông tin khác bằng hình thức tin nhắn gửi đến từ các thuê bao điện thoại của khách hàng thông qua mạng điện thoại di động đến số tổng đài của nhà cung cấp.
Phương thức này được ra đời nhằm giải quyết nhu cầu thanh toán các giao dịch có giá trị nhỏ hoặc những dịch vụ tự động không có người phục vụ. Để tham gia phương thức thanh toán này, trước tiên khách hàng phải lựa chọn cho mình một nhà cung ứng dịch vụ thanh toán (Payment provider). Khách hàng đăng ký để trở thành một thành viên chính thức trong đó quan trọng là cung cấp những thông tin chính thức như: số ĐTDĐ, tài khoản cá nhân dùng trong thanh toán. Sau đó, khách hàng được nhà cung cấp dịch vụ cung cấp một số định danh (ID).
Mã số này không phải số điện thoại và nó sẽ được chuyển thành mã vạch để dán lên ĐTDĐ giúp cho việc cung cấp thông tin khách hàng khi thanh toán được nhanh chóng, chính xác và đơn giản hơn tại các thiết bị đầu cuối của điểm bán hàng hay cung ứng dịch vụ.