Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển dịch vụ bảo hiểm xã hội. Luan van 10 Chương 2: Thực trạng dịch vụ bảo hiểm xã hội tại tỉnh Đắk Lắk. Chương 3: Một số giải pháp nhằm phát triển dịch vụ bảo hiểm xã hội tại tỉnh Đắk Lắk. Từ kết quả nghiên cứu của luận văn, tôi hy vọng sẽ góp một phần nhỏ để làm rõ thêm nội dung các dịch vụ BHXH tại tỉnh Đắk Lắk nói riêng và là cơ sở để kiến nghị BHXH Việt Nam, Bộ LĐ - TB & XH, Tổng LĐLĐ và các Bộ, Ngành liên quan sớm có những giải pháp phù hợp làm thay đổi những bất cập hiện nay.
Luan van 11 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ BẢO HIỂM XÃ HỘI 1. PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ BẢO HIỂM XÃ HỘI 1. Khái niệm phát triển dịch vụ bảo hiểm xã hội Phát triển dịch vụ BHXH là quá trình vận động đi lên, lâu dài, thay đổi theo hướng tích cực một loại dịch vụ công do Nhà nước quản lý (trụ cột là hệ thống BHXH) như ốm đau, thai sản, TNLĐ, BNN, mất việc làm, hết tuổi lao động, tử tuất, BHYT, BHTN khi họ không may gặp những rủi ro trong cuộc sống không vì mục tiêu lợi nhuận, đóng trước, hưởng sau, lấy số đông để bù số ít. Dù cách diễn đạt khác nhau nhưng nhìn chung khái niệm phát triển dịch vụ BHXH này thể hiện rõ bản chất và đặc trưng cần có của dịch vụ BHXH.
Cụ thể, được thể hiện những nội dung sau: Thứ nhất, phát triển dịch vụ BHXH là một quá trình vận động đi lên, lâu dài, thay đổi theo hướng tích cực một loại dịch vụ công do Nhà nước quản lý nhằm mục đích để đảm bảo quyền lợi cho NLĐ. Thứ hai, NLĐ được cung cấp các dịch vụ như ốm đau, thai sản, TNLĐ, BNN, mất việc làm, hết tuổi lao động, tử tuất, BHYT, BHTN. Thứ ba, không vì mục đích lợi nhuận, mang tính nhân văn, cộng đồng chia sẻ. Thứ tư, NLĐ phải có trách nhiệm đóng góp để bảo đảm quyền lợi cho chính họ trong tương lai.
Các loại hình dịch vụ bảo hiểm xã hội a. Bảo hiểm xã hội: Khái niệm, bản chất và vai trò của BHXH. * Khái niệm về BHXH: Có nhiều khái niệm khác nhau về BHXH. Nhưng xét trên phương diện quá trình đấu tranh giai cấp và sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá, phạm trù BHXH ra đời là một tất yếu khách quan.
BHXH được quan niệm như sau: “BHXH là biện pháp Nhà nước sử dụng để đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người tham gia BHXH khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, TNLĐ, BNN, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết gắn liền với quá trình tạo lập và sử dụng quỹ BHXH” (Điều 3 Luật BHXH). BHXH là một bộ phận quan trọng trong chính sách an sinh xã hội của một quốc gia. Ngoài BHXH, chính sách an sinh xã hội còn có cứu trợ xã hội, ưu đãi xã hội, phúc lợi xã hội., cụ thể: Cứu trợ xã hội là sự giúp đỡ của Nhà nước và xã hội về thu nhập và các điều kiện sinh sống khác đối với mọi thành viên trong xã hội, trong những trường hợp bị bất hạnh, rủi ro, nghèo đói, không đủ khả năng để tự lo cuộc sống tối thiểu của bản thân và gia đình. Sự giúp đỡ này được thực hiện bằng các nguồn quỹ dự phòng của Nhà nước, bằng tiền hoặc hiện vật do sự đóng góp của các tổ chức xã hội và những người hảo tâm.
Ưu đãi xã hội là sự đãi ngộ đặc biệt về vật chất và tinh thần của Nhà nước, xã hội nhằm đền đáp công lao đối với những người có nhiều cống hiến cho xã hội. Chẳng hạn như những người có công với nước, thân nhân liệt sỹ, thương binh, bệnh binh. đều là những đối tượng được hưởng sự đãi ngộ của Nhà nước, của xã hội. Ưu đãi xã hội là một chính sách xã hội có mục tiêu Luan van 13 chính trị - kinh tế - xã hội, góp phần củng cố thể chế chính trị của Nhà nước đảm bảo sự công bằng xã hội.
Phúc lợi xã hội là sự đáp ứng nhu cầu, lợi ích về kinh tế, văn hoá, giáo dục cho mọi thành viên trong xã hội hay nói một cách khác là làm cho mọi thành viên trong xã hội đều được hưởng lợi ích về kinh tế, văn hoá, giáo dục nhằm hạn chế sự cách biệt giữa thành thị và nông thôn, giữa các tầng lớp dân cư có thu nhập và điều kiện sống cao, thấp khác nhau. Tóm lại: BHXH, cứu trợ xã hội, ưu đãi xã hội và phúc lợi xã hội có những điểm khác nhau về đối tượng hưởng và phạm vi song chúng đều là những chính sách xã hội không thể thiếu được trong một quốc gia. Những chính sách này luôn bổ sung cho nhau, hỗ trợ nhau và đều góp phần đảm bảo an sinh xã hội. * Bản chất của BHXH: Trên phương diện kinh tế - tài chính: Bản chất BHXH chính là sự bảo đảm thu nhập, bảo đảm cuộc sống cho NLĐ khi họ bị giảm hay mất khả năng lao động.
Có nghĩa là sự tích tụ, tập trung và phân phối lại một phần nguồn lực tài chính, kinh tế của xã hội bằng các nguồn thu hình thành nên quỹ BHXH của một quốc gia, một vùng. Sau đó quá trình sử dụng thông qua các khoản chi cho tổ chức, cá nhân NLĐ bị giảm hoặc mất đi phần thu nhập khi gặp phải những biến cố, rủi ro sẽ được bù đắp hoặc thay thế từ một nguồn quỹ tiền tệ tập trung được tồn tích lại. Nguồn quỹ này do các bên tham gia BHXH đóng góp là chủ yếu, ngoài ra còn được sự hỗ trợ từ phía Nhà nước, phần dư quỹ chưa sử dụng đến được đem đầu tư cho phát triển. Trên phương diện xã hội: BHXH nhằm hướng đến sự ổn định xã hội và sự đoàn kết trong cộng đồng.
Là một loại dịch vụ công lấy hiệu quả xã hội làm mục tiêu hoạt động dựa theo nguyên tắc lấy số đông bù đắp số ít và lý thuyết tích tiểu thành đại, thu hôm nay để tiêu dùng cho tương lai. BHXH có sức hấp dẫn và tính thuyết phục đối với bất cứ cộng đồng xã hội nào trên thế giới. Luan van 14 Trên phương diện chính trị: bản chất của BHXH là sự liên kết của những NLĐ xuất phát từ lợi ích chung của họ. * Vai trò của BHXH: BHXH góp phần ổn định đời sống cho người tham gia BHXH, đảm bảo an toàn xã hội.
Mục đích lớn nhất của BHXH là bảo đảm đời sống cho NLĐ và gia đình họ, người tham gia BHXH sẽ được thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập mất đi khi họ bị suy giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm; khi họ hết tuổi lao động theo quy định sẽ được hưởng chế độ hưu trí; khi chết thân nhân sẽ được hưởng trợ cấp tiền tuất, mai táng phí; ngoài ra được hưởng trợ cấp khi ốm đau, thai sản, TNLĐ và BNN. BHXH góp phần thực hiện công bằng xã hội trên cơ sở chuyển dịch thu nhập mang tính xã hội giữa những người tham gia BHXH. Tham gia BHXH, NLĐ yên tâm công tác và không phải lo lắng nhiều về những rủi ro mà mình có thể gặp phải trong hoạt động lao động sản xuất và sinh hoạt hàng ngày. BHXH góp phần hạn chế và dung hoà các mâu thuẫn giữa NLĐ và NSDLĐ, từ đó tạo môi trường làm việc ổn định, đảm bảo cho hoạt động lao động sản xuất, công tác tại đơn vị đạt hiệu quả cao, góp phần tăng trưởng và phát triển kinh tế đất nước.
BHXH góp phần phòng tránh và hạn chế tổn thất, bảo đảm an toàn trong sản xuất và đời sống xã hội của con người. BHXH làm cho mối quan hệ giữa NLĐ, NSDLĐ và Nhà nước ngày càng gắn bó. Vì vậy BHXH là nhân tố tạo nên tính đoàn kết cộng đồng, tương thân, tương ái, nhân văn, nhân đạo cao trong xã hội. BHXH góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế của đất nước.
NSDLĐ tham gia BHXH cho NLĐ, NLĐ sẽ yên tâm công tác và có động lực thúc đẩy nâng cao hoạt động sản xuất kinh doanh. Mặt khác, khi NLĐ gặp những rủi ro làm giảm hoặc mất thu nhập thì đã được quỹ BHXH Luan van 15 đảm bảo nhà nước không phải bảo trợ. Hơn nữa quỹ BHXH luôn có nguồn vốn tồn tích lớn đầu tư vào các chương trình dự án, tất cả những điều này đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng phát triển kinh tế đất nước. Như vậy, BHXH ra đời và phát triển là một tất yếu khách quan và ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của mỗi quốc gia, mọi thành viên trong xã hội đều thấy cần thiết tham gia BHXH, nó trở thành quyền lợi và nhu cầu của NLĐ và được thừa nhận là nhu cầu tất yếu khách quan.
BHXH bao gồm: BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện. - BHXH bắt buộc gồm các chế độ như: Ốm đau; Thai sản; TNLĐ, BNN; Hưu trí; Tử tuất. - BHXH tự nguyện bao gồm các chế độ như: Hưu trí; Tử tuất. Bảo hiểm y tế BHYT là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận, do Nhà nước tổ chức thực hiện và các đối tượng có trách nhiệm tham gia theo quy định của Luật BHYT.
BHYT bao gồm các chế độ như: được chăm sóc sức khoẻ ban đầu; hưởng dịch vụ KCB; đi khám, chữa bệnh tại cơ sở y tế có ký hợp đồng KCB BHYT, NLĐ đi khám, chữa bệnh ở nước ngoài người bệnh tự thanh toán các khoản chi phí khám, chữa bệnh, sau đó mang chứng từ đến BHXH để thanh toán theo mức quy định. Bảo hiểm thất nghiệp Là chế độ bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi mất việc làm, hỗ trợ học nghề, duy trì việc làm, tìm việc làm trên cơ sở NLĐ có tham gia đóng vào Quỹ BHTN. BHTN gồm có các chế độ: TCTN; Trợ cấp hỗ trợ học nghề; Tìm việc làm; được cấp thẻ BHYT trong thời gian hưởng TCTN. Nội dung và tiêu chí phát triển dịch vụ Bảo hiểm xã hội.
Nội dung phát triển dịch vụ bảo hiểm xã hội * Đa dạng và mở rộng các dịch vụ Phát triển và mở rộng các dịch vụ BHXH được coi là giải pháp quan trọng nhằm chia sẻ rủi ro và trợ giúp người tham gia bảo hiểm.