Tổng quan luận án

Đề tài "Pháp luật về hoạt động bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam" thuộc chuyên ngành Luật Kinh tế / Khoa học Pháp lý, tập trung nghiên cứu toàn diện khung pháp lý điều chỉnh quan hệ bảo hiểm tiền gửi (BHTG) tại Việt Nam trên cả phương diện lý luận, thực trạng và giải pháp hoàn thiện.

  • Tính cấp thiết của đề tài: Hệ thống ngân hàng giữ vai trò huyết mạch của nền kinh tế, là kênh thu hút và luân chuyển các nguồn lực tài chính. Hoạt động ngân hàng có tính chất đặc thù và tiềm ẩn nhiều rủi ro mang tính hệ thống (rủi ro tín dụng, lãi suất, thanh toán, hối đoái). Khi một tổ chức tín dụng (TCTD) mất khả năng thanh toán, nguy cơ xảy ra hiệu ứng "domino" có thể đe dọa an toàn của toàn bộ hệ thống tài chính. Bối cảnh Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) tạo ra sự phát triển mạnh mẽ về số lượng ngân hàng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài, đi kèm với sự cạnh tranh khốc liệt nhằm thu hút vốn từ công chúng, đặc biệt là nhóm người gửi tiền nhỏ lẻ. Hoạt động BHTG ra đời như một đòi hỏi khách quan nhằm bảo vệ quyền lợi người gửi tiền, củng cố niềm tin của xã hội vào hệ thống ngân hàng và hạn chế tác động tiêu cực của các rủi ro tín dụng.
  • Khoảng trống nghiên cứu: Trước khi Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2012 được ban hành, hệ thống quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ BHTG tại Việt Nam chủ yếu nằm rải rác ở các văn bản dưới luật, mang tính thử nghiệm, thiếu đồng bộ và bộc lộ nhiều bất cập. Các công trình khoa học trước đó chủ yếu tiếp cận BHTG dưới giác độ kinh tế – tài chính hoặc chỉ dừng lại ở các phân tích pháp lý mang tính khái quát, chưa xây dựng được cơ sở lý luận chuyên sâu về bản chất pháp lý của quan hệ BHTG cũng như chưa xác lập được mô hình hoạt động BHTG phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội của Việt Nam.
  • Mục tiêu nghiên cứu: Làm sáng tỏ cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của sự điều chỉnh pháp luật đối với quan hệ BHTG; trên cơ sở đó đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện pháp luật về hoạt động BHTG ở Việt Nam.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Nghiên cứu những yếu tố tác động đến sự ra đời và phát triển của hoạt động BHTG và pháp luật về hoạt động BHTG.
    2. Nghiên cứu và làm sáng tỏ nhu cầu điều chỉnh của pháp luật đối với các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực hoạt động BHTG ở Việt Nam.
    3. Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận của pháp luật về hoạt động BHTG.
    4. Nghiên cứu ở góc độ pháp lý các mô hình hoạt động BHTG trên thế giới và khả năng áp dụng tại Việt Nam.
    5. Phân tích và làm sáng tỏ thực trạng pháp luật về hoạt động BHTG ở Việt Nam, chỉ ra các mặt tích cực và những hạn chế của hệ thống pháp luật hiện hành.
    6. Nghiên cứu và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về hoạt động BHTG ở Việt Nam.
  • Đối tượng nghiên cứu:
    • Những vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động BHTG, pháp luật về hoạt động BHTG và các yếu tố tác động đến sự hình thành, phát triển của pháp luật BHTG.
    • Thực trạng pháp luật về hoạt động BHTG của Việt Nam và kinh nghiệm pháp luật của một số quốc gia về địa vị pháp lý của tổ chức BHTG (trọng tâm là Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam - BHTGVN), mô hình hoạt động, công cụ và nội dung hoạt động BHTG.
    • Các định hướng, yêu cầu và giải pháp hoàn thiện pháp luật về hoạt động BHTG ở Việt Nam.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Về không gian và văn bản pháp luật trong nước: Tập trung nghiên cứu hệ thống văn bản pháp luật về BHTG của Việt Nam từ năm 1994 (bắt đầu từ Quyết định số 101/TC-QĐ-BH ngày 01/01/1994 của Bộ Tài chính ban hành Quy tắc bảo hiểm trách nhiệm của Quỹ tín dụng nhân dân đối với khoản tiền gửi có kỳ hạn) cho đến các văn bản pháp luật hiện hành và quá trình xây dựng, thông qua Luật Bảo hiểm tiền gửi ngày 18/6/2012.
    • Về pháp luật quốc tế: Khảo sát và tham chiếu pháp luật BHTG của Mĩ (từ Luật BHTG năm 1829 và thực tiễn hoạt động của Tổng công ty BHTG Hoa Kỳ - FDIC), các quốc gia châu Á (Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore) và châu Âu, châu Mỹ (Đức, Canada).
    • Về tài liệu học thuật: Tiếp cận các công trình khoa học trong và ngoài nước dưới cả hai giác độ kinh tế – tài chính và pháp lý.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng thuật và phân loại hệ thống tài liệu nghiên cứu liên quan đến đề tài theo các nhóm:

  • Các công trình nghiên cứu quốc tế:
    • Cuốn Deposit Insurance around the world - A date base đã phân tích lý luận BHTG, khảo sát thực tiễn áp dụng tại 68 quốc gia, chỉ ra các thành công và hạn chế trong thiết kế hệ thống, mô hình và nội dung hoạt động BHTG.
    • Công trình Deposit insurance and the appropriate institutions của Gillian G. Garcia (2002) làm rõ sự cần thiết của BHTG đối với sự ổn định của hệ thống tài chính – ngân hàng và cung cấp kinh nghiệm thiết lập định chế BHTG phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội của từng quốc gia.
    • Tác phẩm Structuring a deposit insurance system from the Asian perspective của Choi J. tập trung phân tích cơ sở thiết kế pháp luật BHTG tại các quốc gia châu Á, chứng minh rằng mô hình BHTG cần được thiết kế dựa trên đặc thù văn hóa, lịch sử và thể chế kinh tế của từng nước.
    • Các tài liệu và nguyên tắc cốt lõi do Hiệp hội Bảo hiểm tiền gửi quốc tế (IADI) ban hành từ khi thành lập năm 2002.
  • Các công trình nghiên cứu trong nước dưới giác độ kinh tế – tài chính:
    • Luận án Tiến sĩ của Lê Thị Kim Oanh (2004) tại Học viện Ngân hàng về "Giải pháp phát triển hoạt động bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam" đã phân tích các điều kiện kinh tế, xã hội tác động đến BHTG.
    • Luận án Tiến sĩ của Đào Văn Tuấn (2005) tại Học viện Ngân hàng về "Giải pháp hoàn thiện chính sách bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế".
    • Luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Thị Hiển (2008) và Bùi Thu Hương (2010) tại Học viện Ngân hàng về hoàn thiện chất lượng và hoạt động nghiệp vụ BHTG trong thời kỳ hội nhập.
    • Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Học viện của Học viện Ngân hàng (2009) về "Bảo hiểm tiền gửi trong việc bảo đảm an toàn tài chính quốc gia tại Việt Nam - thực trạng và giải pháp".
    • Các bài viết học thuật của PGS.TS Lê Hoàng Nga, ThS. Thúy Sen trên Tạp chí Ngân hàng, Tạp chí Tài chính Tiền tệ.
  • Các công trình nghiên cứu trong nước dưới giác độ pháp lý:
    • Sách chuyên khảo Pháp luật về bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam của TS. Lê Thị Thu Thủy (2008, NXB ĐHQGHN) phân tích các vấn đề lý luận, khảo sát thực trạng pháp luật BHTG Việt Nam và đề xuất phương hướng hoàn thiện.
    • Loạt bài viết của TS. Đinh Dũng Sỹ về "Mô hình bảo hiểm tiền gửi hiện nay và những vấn đề quan tâm khi xây dựng Luật bảo hiểm tiền gửi", "Địa vị pháp lí của tổ chức bảo hiểm tiền gửi Việt Nam", "Bảo hiểm tiền gửi và vấn đề an toàn tín dụng".
    • Bài viết của GS.TSKH Đào Trí Úc (2007) trên Thông tin BHTGVN về "Bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền theo pháp luật về bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam thực trạng và phương hướng hoàn thiện".
    • Chuyên đề nghiên cứu "Vai trò của tổ chức bảo hiểm tiền gửi Việt Nam trong việc bảo vệ người gửi tiền và bảo đảm an sinh xã hội".
    • Luận án Tiến sĩ của Bùi Hữu Toàn (2012) tại Học viện Khoa học xã hội về "Pháp luật về bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế".
    • Toàn bộ hồ sơ Dự án Luật Bảo hiểm tiền gửi từ tháng 9/2011 đến khi Luật được Quốc hội thông qua ngày 18/6/2012.
  • Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Phần lớn các công trình pháp lý trước đây được thực hiện khi Việt Nam chưa có Luật BHTG, các quy định nằm rải rác ở văn bản dưới luật. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống về việc xây dựng hệ thống lý luận pháp lý chuyên sâu về hoạt động BHTG, làm rõ tính đặc thù của quan hệ pháp luật BHTG so với bảo hiểm thương mại (BHTM), đánh giá toàn diện thực trạng pháp luật thực định và xây dựng các luận cứ khoa học để hoàn thiện mô hình tổ chức, thẩm quyền của BHTGVN trong mối quan hệ với mạng an toàn tài chính quốc gia.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

  • Hệ thống lý luận và khung khái niệm:
    • Luận án xây dựng và phát triển khái niệm hoạt động BHTG dưới góc độ khoa học pháp lý: Hoạt động BHTG là loại hình hoạt động bảo hiểm đặc thù, theo đó tổ chức BHTG cam kết bảo đảm chi trả một phần hoặc toàn bộ tiền gốc và tiền lãi của các khoản tiền gửi cho người gửi tiền khi tổ chức tham gia BHTG mất khả năng thanh toán hoặc bị chấm dứt hoạt động, nhằm thực hiện các mục tiêu chính sách công của Nhà nước.
    • Khung lý thuyết dựa trên bản chất quan hệ pháp luật ba bên: Tổ chức BHTG – Tổ chức tham gia BHTG – Người gửi tiền (người thụ hưởng).
    • Lý thuyết về mạng an toàn tài chính quốc gia, cơ chế chia sẻ rủi ro "số đông bù số ít", lý thuyết ngăn ngừa rút tiền hàng loạt (bank run) và kiểm soát rủi ro đạo đức (moral hazard).
  • Phương pháp nghiên cứu thực tế: Luận án sử dụng phương pháp luận nghiên cứu khoa học pháp lý dựa trên nền tảng triết học Mác – Lênin:
    • Phương pháp duy vật biện chứng: Được vận dụng để đánh giá các yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội tác động đến sự hình thành và phát triển của pháp luật BHTG, đồng thời phân tích hành vi và mối quan hệ giữa các chủ thể trong quan hệ pháp luật BHTG.
    • Phương pháp duy vật lịch sử: Vận dụng để nghiên cứu tiến trình hình thành và phát triển của pháp luật BHTG tại Việt Nam qua từng thời kỳ từ năm 1994 đến nay.
    • Phương pháp phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa: Sử dụng để phân tích các quy phạm pháp luật thực định, đánh giá các khía cạnh khác nhau của hệ thống pháp luật BHTG Việt Nam từ quy định cụ thể đến các nguyên tắc pháp lý khái quát.
    • Phương pháp so sánh luật học: Vận dụng để đối chiếu quy định pháp luật và mô hình BHTG của các quốc gia điển hình (Mĩ, Canada, Đức, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore), từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm và khả năng tiếp thu tại Việt Nam.
  • Nguồn tư liệu và dữ liệu: Văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam (từ Quyết định 101/TC-QĐ-BH năm 1994, các nghị định của Chính phủ về BHTG, đến Luật BHTG năm 2012); văn bản pháp luật BHTG của các nước (Luật BHTG Hoa Kỳ 1829, Luật BHTG Hàn Quốc 2005, Luật BHTG Canada, Luật BHTG Đài Loan); các báo cáo tổng kết thực tiễn, số liệu hoạt động của BHTGVN, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) và các tài liệu chuẩn mực của IADI.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan Đề tài

Chương 1 khái quát lịch sử nghiên cứu về BHTG trên phạm vi thế giới và tại Việt Nam. Luận án phân tích các luồng quan điểm học thuật theo hai nhánh: kinh tế – tài chính và khoa học pháp lý. Tác giả chỉ ra những đóng góp của các công trình đi trước, đồng thời nhận diện rõ những điểm nghẽn lý luận và thực tiễn chưa được giải quyết thấu đáo, từ đó xác lập tính cấp thiết, mục tiêu, nhiệm vụ và hệ thống các điểm mới của đề tài nghiên cứu.

Chương 2. Những vấn đề lí luận cơ bản về hoạt động bảo hiểm tiền gửi và pháp luật về hoạt động bảo hiểm tiền gửi

Chương 2 tập trung xây dựng cơ sở lý luận nền tảng cho đề tài.

  • Lịch sử hình thành và vai trò của BHTG: Khởi nguồn từ thế kỷ 19 tại Mĩ (Đề án thành lập tổ chức Bảo hiểm trách nhiệm ngân hàng tại New York), hoạt động BHTG lan sang châu Âu vào thập niên 1960 và sau đó là châu Á. Luận án xác định 5 vai trò cốt lõi của BHTG:
    1. Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền (đặc biệt là người gửi tiền nhỏ).
    2. Duy trì và nâng cao niềm tin của công chúng vào hệ thống ngân hàng.
    3. Giảm thiểu rủi ro, bảo đảm sự an toàn, lành mạnh của hệ thống tài chính quốc gia.
    4. Thúc đẩy cạnh tranh bình đẳng giữa các TCTD quy mô nhỏ, mới thành lập với các ngân hàng lớn.
    5. Tham gia hỗ trợ quá trình tái cấu trúc ngân hàng (dẫn chứng tại Mĩ, trong cuộc khủng hoảng tín dụng tính đến tháng 9/2008, khi 12 ngân hàng bị tuyên bố ngừng hoạt động, FDIC đã sử dụng công cụ ngân hàng bắc cầu để duy trì giao dịch thông suốt cho người gửi tiền).
  • Bản chất pháp lý và 6 nhóm nội dung hoạt động BHTG: Gồm nhóm xác lập quan hệ BHTG; tạo lập, quản lý, sử dụng quỹ BHTG; kiểm tra, giám sát, cảnh báo rủi ro sớm; hỗ trợ tài chính; tham gia xử lý tổ chức tham gia BHTG bị chấm dứt hoạt động; và chấm dứt BHTG.
  • Phân biệt hoạt động BHTG và BHTM:
Tiêu chí phân biệt Hoạt động bảo hiểm tiền gửi (BHTG) Hoạt động bảo hiểm thương mại (BHTM)
Mục tiêu hoạt động Phi lợi nhuận; nhằm thực hiện mục tiêu chính sách công, bảo vệ người gửi tiền và ổn định hệ thống tài chính. Nhằm mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận thông qua kinh doanh bảo hiểm và đầu tư tài chính.
Chủ thể thực hiện Tổ chức tài chính đặc thù của Nhà nước (Cơ quan BHTG hoặc Tổng công ty BHTG). Doanh nghiệp bảo hiểm thành lập theo Luật Doanh nghiệp (Công ty TNHH, Công ty Cổ phần...).
Chủ thể tham gia và hình thức Các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nhận tiền gửi; tham gia theo hình thức bắt buộc theo luật định. Mọi tổ chức, cá nhân có nhu cầu bảo vệ trước rủi ro; tham gia chủ yếu theo hình thức tự nguyện.
Phí bảo hiểm và cơ chế đóng Mức phí và phương thức đóng do pháp luật quy định bắt buộc; các bên không được tự do thỏa thuận. Phí bảo hiểm và phương thức đóng do các bên tự do thỏa thuận trên cơ sở quy tắc bảo hiểm.
Chủ thể thụ hưởng Người gửi tiền (bên thứ ba trong quan hệ bảo hiểm, không phải là chủ thể đóng phí). Chính người tham gia bảo hiểm hoặc người thứ ba được chỉ định cụ thể trong hợp đồng bảo hiểm.
  • Phân loại các mô hình BHTG:
    • Theo thẩm quyền: Mô hình chuyên chi trả (Paybox – chỉ thu phí và chi trả khi đổ vỡ, như Bảo Việt thực hiện theo Quyết định 101/TC-QĐ-BH); Mô hình chi trả với quyền hạn mở rộng (Paybox with extended powers – bổ sung thẩm quyền giám sát, kiểm tra, thanh lý như Việt Nam, Đài Loan); Mô hình giảm thiểu rủi ro (Risk minimizer – thẩm quyền toàn diện về thanh tra, giám sát, hỗ trợ tài chính, can thiệp nội bộ và tái cơ cấu như FDIC của Mĩ, CDIC của Canada).
    • Theo hình thức sở hữu: Do Nhà nước thực hiện (nguồn vốn ban đầu từ NSNN, bảo đảm niềm tin công chúng cao); Do tư nhân thực hiện (Hiệp hội ngân hàng lập Quỹ bảo toàn tiền gửi, hoạt động tương hỗ); Liên kết giữa Nhà nước và tư nhân.
    • Theo cách thức tham gia: Tham gia bắt buộc (loại bỏ rủi ro lựa chọn đối nghịch, tối ưu hóa việc phân tán rủi ro) và Tham gia tự nguyện.

Chương 3. Thực trạng pháp luật về hoạt động bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam hiện nay và những vấn đề pháp lí đặt ra

Chương 3 đi sâu phân tích hệ thống pháp luật thực định và đánh giá hiệu quả thực thi qua các nhóm nội dung:

  • Về chủ thể và mô hình hoạt động: Phân tích địa vị pháp lý của BHTGVN dưới tư cách là tổ chức tài chính nhà nước phi lợi nhuận. Đánh giá tính độc lập tương đối của BHTGVN và vị trí của tổ chức này trong mạng an toàn tài chính quốc gia. Mô hình BHTG Việt Nam được xác định là mô hình chi trả với quyền hạn mở rộng nhưng chưa được giao đủ thẩm quyền trong việc can thiệp sớm và xử lý TCTD có vấn đề.
  • Về nội dung hoạt động BHTG:
    • Quy định về cấp, thu hồi Chứng nhận tham gia BHTG đối với các TCTD, Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND).
    • Cơ chế thu nộp phí BHTG: Thực trạng áp dụng mức phí đồng đều (đồng hạng), chỉ ra các hạn chế trong việc tạo động lực kiểm soát rủi ro của các TCTD.
    • Nghiệp vụ kiểm tra, giám sát từ xa và kiểm tra tại chỗ việc chấp hành pháp luật BHTG, cơ chế chia sẻ thông tin giữa NHNN và BHTGVN.
    • Nghiệp vụ hỗ trợ tài chính, chi trả tiền bảo hiểm (hạn mức chi trả bảo hiểm tối đa) và vai trò của BHTGVN trong ban kiểm soát đặc biệt, tham gia thanh lý tài sản của TCTD bị giải thể, phá sản.
  • Về giải quyết tranh chấp: Khảo sát các quy định pháp luật về trình tự, thủ tục khiếu nại, khởi kiện và thẩm quyền tài phán đối với các tranh chấp phát sinh giữa tổ chức BHTG, TCTD tham gia BHTG và người gửi tiền.
  • Những vấn đề pháp lý đặt ra: Hệ thống hóa các bất cập như giá trị hiệu lực pháp lý của văn bản điều chỉnh giai đoạn trước chưa cao, sự chồng chéo trong chức năng giám sát giữa các cơ quan, cơ chế xử lý phá sản ngân hàng còn phức tạp và quyền hạn của BHTGVN chưa tương xứng với nhiệm vụ bảo đảm an toàn hệ thống.

Chương 4. Hoàn thiện pháp luật về hoạt động bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam

Chương 4 đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ:

  • Yêu cầu, định hướng hoàn thiện: Đáp ứng yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, thích ứng với hội nhập quốc tế sau khi gia nhập WTO, tiệm cận các nguyên tắc cơ bản của IADI, bảo đảm quyền lợi người gửi tiền và củng cố an toàn hệ thống ngân hàng.
  • Các nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật:
    1. Hoàn thiện địa vị pháp lý và mô hình BHTG: Xác định rõ vị trí pháp lý độc lập tương đối của BHTGVN; từng bước nâng cấp chuyển dịch từ mô hình chi trả với quyền hạn mở rộng sang mô hình giảm thiểu rủi ro.
    2. Hoàn thiện quy định về đối tượng và phạm vi bảo hiểm: Xác định rõ các loại tiền gửi được bảo hiểm và không được bảo hiểm, đối tượng tiền gửi của cá nhân tại các TCTD và QTDND.
    3. Đổi mới cơ chế tính và thu phí BHTG: Xây dựng lộ trình chuyển đổi từ cơ chế phí đồng đều sang cơ chế thu phí BHTG phân biệt theo mức độ rủi ro hoạt động của từng TCTD.
    4. Điều chỉnh hạn mức chi trả bảo hiểm: Tăng hạn mức chi trả phù hợp với sự tăng trưởng kinh tế, thu nhập và quy mô tiền gửi của người dân, nhằm bảo vệ đại đa số người gửi tiền nhỏ lẻ.
    5. Tăng cường thẩm quyền kiểm tra, giám sát và can thiệp sớm: Quy định cụ thể cơ chế chia sẻ thông tin giám sát giữa NHNN, Cơ quan Thanh tra giám sát ngân hàng và BHTGVN; trao quyền hỗ trợ tài chính kịp thời và tham gia sâu hơn vào quá trình tái cơ cấu TCTD yếu kém.
    6. Hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp: Xây dựng quy trình xử lý khiếu nại, tố cáo và tranh chấp trong hoạt động BHTG minh bạch, bảo đảm quyền khởi kiện của người gửi tiền tại Tòa án.
  • Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật: Kiện toàn tổ chức bộ máy BHTGVN, hiện đại hóa công nghệ thông tin giám sát, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ nghiệp vụ và đẩy mạnh tuyên truyền chính sách BHTG đến công chúng.

Kết quả và những đóng góp mới

  • Về mặt khoa học và lý luận:
    • Xây dựng và chuẩn hóa khái niệm "hoạt động bảo hiểm tiền gửi" trong khoa học pháp lý, xác định rõ cấu trúc quan hệ pháp luật ba bên và phân định ranh giới pháp lý giữa BHTG với BHTM phi nhân thọ.
    • Làm rõ bản chất kinh tế – pháp lý của BHTG như một công cụ chính sách công của Nhà nước nhằm ổn định hệ thống ngân hàng và bảo vệ an sinh xã hội, chỉ ra mối quan hệ mật thiết giữa pháp luật BHTG và pháp luật tín dụng, ngân hàng.
    • Hệ thống hóa các tiêu chí phân loại mô hình BHTG trên thế giới, luận giải cơ sở khoa học của việc lựa chọn mô hình và cơ chế tham gia BHTG bắt buộc đối với nền kinh tế đang phát triển.
  • Về mặt thực tiễn và giải pháp:
    • Đánh giá toàn diện thực trạng pháp luật BHTG Việt Nam từ năm 1994 đến thời điểm ban hành Luật BHTG năm 2012, chỉ ra những khoảng trống và mâu thuẫn trong các quy định pháp luật thực định.
    • Cung cấp các luận cứ khoa học thực tiễn để kiến nghị hoàn thiện pháp luật BHTG: xác lập vị trí độc lập của BHTGVN, chuyển đổi lộ trình tính phí bảo hiểm theo mức độ rủi ro, nâng hạn mức chi trả bảo hiểm, tăng quyền can thiệp sớm và hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động BHTG.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án tập trung nghiên cứu dưới lăng kính khoa học pháp lý, phạm vi khảo sát thực tiễn chủ yếu gắn liền với chủ thể thực hiện hoạt động BHTG (BHTGVN) trong mối quan hệ với TCTD tham gia và người gửi tiền. Do giới hạn chuyên ngành, các công thức toán tài chính và mô hình định lượng chi tiết để xác định mức phí theo rủi ro chưa được đi sâu chi tiết hóa.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục nghiên cứu, đánh giá tác động thực thi của Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2012 sau khi đi vào đời sống; nghiên cứu chuyên sâu việc xây dựng các văn bản hướng dẫn thi hành về cơ chế phân loại rủi ro tính phí và cơ chế phối hợp xử lý khủng hoảng ngân hàng giữa BHTGVN với các định chế trong mạng an toàn tài chính quốc gia.

Giá trị tham khảo

  • Đối với các cơ quan quản lý và hoạch định chính sách: Luận án là tài liệu tham khảo cho Quốc hội, Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam trong việc tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về BHTG, ngân hàng và tái cơ cấu các tổ chức tín dụng.
  • Đối với công tác nghiên cứu và đào tạo: Là nguồn tài liệu phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu chuyên khảo cho giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên thuộc các chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Tài chính – Ngân hàng, cũng như các chuyên ngành kinh tế, tài chính – tiền tệ.

Câu hỏi thường gặp

1. Khái niệm hoạt động bảo hiểm tiền gửi được luận án xác định như thế nào? Hoạt động BHTG là một loại hình hoạt động bảo hiểm, theo đó tổ chức BHTG bảo đảm thực hiện chi trả một phần hoặc toàn bộ tiền gốc và tiền lãi của các khoản tiền gửi cho người gửi tiền được bảo hiểm tại tổ chức tham gia BHTG khi có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định tổ chức tham gia BHTG bị chấm dứt hoạt động và mất khả năng chi trả tiền gửi, nhằm thực hiện các mục tiêu chính sách công của Nhà nước.

2. Hoạt động BHTG khác với hoạt động bảo hiểm thương mại ở những điểm cốt lõi nào? BHTG hoạt động phi lợi nhuận nhằm thực hiện mục tiêu chính sách công, do tổ chức tài chính đặc thù của Nhà nước thực hiện, bắt buộc các TCTD nhận tiền gửi phải tham gia, mức phí do pháp luật quy định và người thụ hưởng là người gửi tiền (bên thứ ba). Ngược lại, BHTM hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận, do các doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện, tham gia tự nguyện, phí bảo hiểm do thỏa thuận và người thụ hưởng là người tham gia hoặc người được chỉ định.

3. Luận án phân loại các mô hình BHTG trên thế giới theo thẩm quyền thành những loại nào? Theo thẩm quyền và mục tiêu hoạt động, BHTG được phân chia thành 3 loại hình:

  • Loại hình chuyên chi trả (Paybox).
  • Loại hình chi trả với quyền hạn mở rộng (Paybox with extended powers).
  • Loại hình giảm thiểu rủi ro (Risk minimizer).

4. Vì sao luận án ủng hộ cơ chế bắt buộc TCTD tham gia BHTG thay vì tự nguyện? Dịch vụ BHTG là dịch vụ công không thuần túy, có tính thụ hưởng không loại trừ. Việc quy định tham gia bắt buộc bảo đảm sự công bằng giữa các TCTD, tập trung nguồn lực tài chính cho Quỹ BHTG, tối ưu hóa việc phân tán rủi ro trên diện rộng và loại trừ được rủi ro lựa chọn đối nghịch vốn rất dễ xảy ra ở hình thức tự nguyện.

5. Văn bản pháp luật đầu tiên về BHTG tại Việt Nam được ban hành vào thời điểm nào? Văn bản pháp luật đầu tiên về BHTG tại Việt Nam là Quyết định số 101/TC-QĐ-BH ngày 01/01/1994 của Bộ Tài chính ban hành Quy tắc bảo hiểm trách nhiệm của Quỹ tín dụng nhân dân đối với khoản tiền gửi có kỳ hạn.

Kết luận

Luận án "Pháp luật về hoạt động bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam" là công trình nghiên cứu hệ thống và toàn diện dưới góc độ khoa học pháp lý về thiết chế bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam. Tác giả đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận, bản chất pháp lý ba bên và tính đặc thù của hoạt động BHTG trong mối quan hệ với an toàn hệ thống ngân hàng. Thông qua việc phân tích thực trạng pháp luật thực định từ năm 1994 đến Luật BHTG năm 2012 và đối chiếu kinh nghiệm quốc tế, luận án đã đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm kiện toàn địa vị pháp lý của BHTGVN, đổi mới cơ chế phí theo rủi ro và tăng cường năng lực giám sát, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người gửi tiền.