MỞ ĐẦU Ung thƣ đang ngày càng gia tăng và là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên thế giới. Trong các bệnh ung thƣ, ung thƣ phổi chiếm khoảng 12% với khoảng 2 triệu ca mắc mới và chiếm tỷ lệ tử vong lên tới 18,4 %. Tại Việt Nam, ung thƣ phổi là một trong những bệnh ung thƣ thƣờng gặp nhất ở cả hai giới. Theo thống kê, năm 2018, tỷ lệ ngƣời mắc bệnh đã lên tới 23 000 ca mắc mới và hơn 20 000 ca tử vong mỗi năm.
Ung thƣ phổi có thể đƣợc điều trị dứt điểm nếu nhƣ đƣợc phát hiện sớm. Hiện nay, có nhiều phƣơng pháp đƣợc sử dụng trong chẩn đoán ung thƣ phổi nhƣ chụp X-quang ngực, chụp cắt lớp vi tính (CT), nội soi phế quản, chụp cộng hƣởng từ (MRI)… Để tăng tính chính xác, methyl hóa DNA đƣợc coi là một dấu chuẩn hỗ trợ chẩn đoán và tiên lƣợng ung thƣ đầy tiềm năng. Mặc dù chƣa có nghiên cứu nào khẳng định sự methyl hóa quá mức gen SHOX2 là nguyên nhân gây ung thƣ phổi, nhƣng việc sử dụng methyl hóa của gen này trong chẩn đoán, sàng lọc ung thƣ phổi đã đƣợc chứng minh khá rõ trong nhiều công bố khoa học. Do đó, việc định lƣợng mức độ methyl hóa DNA trên gen SHOX2 đƣợc coi nhƣ một cách tiếp cận mới để hỗ trợ phát hiện, chẩn đoán ung thƣ phổi.
Hiện nay, có nhiều kỹ thuật phân tích methyl hóa DNA, mỗi kỹ thuật đều có những ƣu nhƣợc điểm nhất định. Kỹ thuật PCR định lƣợng đặc hiệu methyl (qMSP) đƣợc phát triển dựa trên nền tảng của kỹ thuật realtime PCR với độ nhạy và độ đặc hiệu cao là lựa chọn tốt để thực hiện mục đích trên. Áp dụng kỹ thuật này, chúng tôi thực hiện đề tài ―Phân tích methyl hóa gen SHOX2 ở bệnh ung thƣ phổi‖ với mục tiêu phát hiện và định lƣợng mức độ methyl hóa gen SHOX2 trong bệnh ung thƣ này. 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Ung thƣ phổi Theo thống kê của tổ chức Y tế Thế giới WHO năm 2018, ung thƣ là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở cả nam và nữ với hơn 18 triệu ca mắc mới [86]. Trong đó, ung thƣ phổi là loại ung thƣ phổ biến nhất trong vài thập kỷ trở lại đây. Theo GLOBOCAN, ƣớc tính có khoảng 1,7 triệu ca tử vong và 2,1 triệu ca mắc mới ung thƣ phổi, đứng đầu trong tất cả các loại ung thƣ năm 2018. Tỷ lệ sống sót sau 5 năm của ung thƣ phổi thấp hơn 2 – 4 lần so với ung thƣ vú, đại tràng, tuyến tiền liệt cho thấy mức độ nguy hiểm của loại ung thƣ này [86].
Tại Việt Nam, năm 2018, có 23 667 ca mắc mới và 20 710 ca tử vong ung thƣ phổi ở cả hai giới [86]. Đây là loại ung thƣ đứng thứ hai ở nam giới chỉ sau ung thƣ gan và đứng thứ ba ở nữ giới chỉ sau ung thƣ vú và ung thƣ đại tràng về tỷ lệ mắc mới. Trung bình có khoảng 60 ca mắc mới mỗi ngày [86]. Tỷ lệ sống sót sau 5 năm thấp do ít đƣợc chẩn đoán và phát hiện ở các giai đoạn sớm.
Thực tế hiện nay, hầu hết bệnh nhân chỉ đến khám tại các cơ sở y tế khi có các triệu chứng hô hấp kéo dài hoặc khi ung thƣ phổi đã tiến triển quá mức. Vì vậy đa số bệnh nhân ung thƣ phổi khi đƣợc chẩn đoán lần đầu đều ở giai đoạn III và IV. Trong một nghiên cứu hồi cứu ở năm bệnh viện lớn tại Việt Nam vào năm 2009, kết quả chỉ ra có tới 84,3 % bệnh nhân ung thƣ phổi đƣợc phát hiện ở giai đoạn muộn [14]. Theo hệ thống phân loại năm 2004 của Tổ chức Y tế thế giới WHO, ung thƣ phổi bao gồm hai loại chính là ung thƣ phổi tế bào nhỏ (UTPTBN) và ung thƣ phổi không tế bào nhỏ (UTPKTBN), tùy thuộc vào hình dạng tế bào dƣới kính hiển vi [73].
UTPTBN thƣờng xuất hiện ở những ngƣời sử dụng thuốc lá và hiếm thấy ở ngƣời không hút thuốc, chiếm khoảng 15% - 20% các trƣờng hợp ung thƣ phổi [65]. Đây là loại ung thƣ phát triển mạnh, có khả năng di căn đến các bộ phận khác của cơ thể, bao gồm hai giai đoạn phát triển chính: - Giai đoạn hạn chế: giai đoạn ung thƣ còn khu trú ở một bên phổi. - Giai đoạn mở rộng: giai đoạn khi ung thƣ đã di căn sang phổi đối diện hoặc các cơ quan khác nhƣ não, gan, xƣơng…[65] 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ngƣợc lại, UTPKTBN phát triển chậm, ít xâm lấn, chiếm khoảng 80 – 85 % các trƣờng hợp ung thƣ phổi, nếu đƣợc phát hiện sớm thì cơ hội chữa khỏi cao. UTPKTBN bao gồm ung thƣ phổi tế bào vảy, ung thƣ biểu mô tuyến và ung thƣ phổi tế bào lớn.
Trong đó, ung thƣ biểu mô tuyến là loại ung thƣ phổ biến nhất ở những ngƣời hút thuốc và không hút thuốc, chiếm 40 % các trƣờng hợp ung thƣ phổi. Tiếp đến là ung thƣ phổi tế bào vảy chiếm 25 – 30 % và ung thƣ phổi tế bào lớn chiếm 5 – 10 % các trƣờng hợp, thƣờng xảy ra ở những ngƣời hút thuốc [80]. Hiện nay, Hiệp hội Quốc tế kiểm soát bệnh ung thƣ (The Union for International Cancer Control's - UICC) đã đƣa ra hệ thống phân loại TNM (Tumor – Node – Metastasis) cho UTPKTBN [73]. Phân loại theo TNM là sự phân chia bệnh nhân vào những nhóm có tiên lƣợng khác nhau dựa trên những tiêu chuẩn gồm kích thƣớc khối u (Tumor), sự hình thành hạch (Node) và mức độ di căn (Metastasis) [73].
Đối với UTPTBN, tiên lƣợng của bệnh không phụ thuộc vào các yếu tố của phân loại TNM. Thời gian sống thêm không khác biệt giữa các giai đoạn I, II và III [65]. Do đó, trong hầu hết các trƣờng hợp UTPTBN, ngƣời ta chỉ phân loại theo hai giai đoạn nhƣ đã trình bày ở trên. Nguyên nhân chính gây ra ung thƣ phổi là do ảnh hƣởng của việc tiếp xúc với nhiều yếu tố nguy cơ nhƣ thuốc lá, khói bụi của môi trƣờng làm việc.
Trong đó, thuốc lá là nguyên nhân chủ yếu gây ra ung thƣ phổi [65]. Để khắc phục nguy cơ này, năm 2012, Quốc hội đã thông qua luật cấm thuốc lá. Theo đó, tỷ lệ sử dụng thuốc lá ở nam giới đã giảm từ 56,1 % năm 2002 xuống 47,4 % năm 2010, khoảng 1 % mỗi năm [89]. Đến nay, hầu hết ung thƣ phổi đều đƣợc chẩn đoán lần đầu dựa trên các triệu chứng lâm sàng.
Tuy nhiên, các triệu chứng ban đầu thƣờng không rõ ràng, dễ nhầm lẫn sang các bệnh khác nhƣ ho ngày càng nặng và kéo dài, tức ngực, giảm cân không có lý do, đau lƣng, chán ăn và mệt mỏi; do đó bệnh thƣờng đƣợc phát hiện ở giai đoạn muộn [79]. Bên cạnh những phƣơng pháp lâm sàng, cần phối hợp với các xét nghiệm cận lâm sàng để có đƣợc những chẩn đoán sớm và chính xác hơn cho 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com bệnh nhân. Các phƣơng pháp xét nghiệm cận lâm sàng hiện đang đƣợc sử dụng phổ biến trong việc chẩn đoán ung thƣ phổi bao gồm: - Phương pháp chẩn đoán hình ảnh: có thể chia thành 2 nhóm: Phƣơng pháp không xâm lấn: + Chụp X – quang ngực: Đây là phƣơng pháp phổ biến nhất phát hiện đƣợc những đám mờ, hình ảnh tràn dịch màng phổi, xác định đƣợc vị trí, kích thƣớc, hình thái phổi bị tổn thƣơng, dựa vào đó để chẩn đoán ung thƣ phổi. Tuy nhiên độ nhạy và độ đặc hiệu của phƣơng pháp này còn rất hạn chế do không phát hiện đƣợc các tổn thƣơng nhỏ (thƣờng chỉ phát hiện đƣợc khi khối u đạt kích thƣớc 7 – 10 mm và chứa khoảng một triệu tế bào).
Bên cạnh đó, kỹ thuật không phân biệt đƣợc chính xác bệnh ung thƣ phổi với một số bệnh lý khác nhƣ áp-xe phổi,.[75] + Chụp cắt lớp vi tính lồng ngực (CT): Phƣơng pháp này thƣờng đƣợc sử dụng để chẩn đoán u phổi, u trung thất và giãn phế quản khi kết quả chụp X–quang nghi ngờ có khối u. Những hình ảnh cắt lớp chi tiết đƣợc hiển thị trên màn hình máy tính cho phép đánh giá kỹ hơn các tổn thƣơng của u phổi (kích thƣớc, vị trí, mức độ xâm lấn). Tuy nhiên, dù độ nhạy của phƣơng pháp chụp cắt lớp vi tính khá cao nhƣng độ đặc hiệu vẫn còn thấp do chƣa chẩn đoán đƣợc tính chất mô bệnh học của tổn thƣơng cũng nhƣ phân biệt u lành với u ác [71]. + Chụp cộng hƣởng từ (MRI) có độ phân giải mô mềm cao và an toàn.
Có ƣu thế hơn kỹ thuật CT trong việc đánh giá tình trạng xâm lấn vào màng tim, tim và các mạch máu lớn; mức độ chèn ép tủy sống của khối u và phát hiện di căn hệ thần kinh trung ƣơng [52]. + Một số xét nghiệm xác định tình trạng di căn: PET/CT, xạ hình xƣơng, chụp cộng hƣởng từ sọ não, siêu âm bụng, chụp cắt lớp vi tính bụng,… [52]. Phƣơng pháp xâm lấn: + Nội soi phế quản: đây là phƣơng pháp dùng ống soi mềm đƣa vào phế quản giúp quan sát đƣợc các khối u xuất phát từ phế quản và cho phép lấy mẫu mô 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trong lòng phế quản hoặc dịch phế quản làm giải phẫu bệnh hoặc tế bào học. Ngoài ra, dựa vào kết quả nội soi, tiến hành sinh thiết gián tiếp xuyên qua thành phế quản hoặc lấy dịch chải rửa phế quản để chẩn đoán xác định khối u và đánh giá khả năng phẫu thuật và mức độ cắt bỏ khối u [2].
Tuy nhiên, nội soi phế quản ống mềm chỉ đến đƣợc vùng trung tâm và vùng giữa, không quan sát đƣợc những tổn thƣơng ngoại vi. + Nội soi lồng ngực: phƣơng pháp này dùng để đánh giá các khối u chƣa thể chẩn đoán chính xác sau khi nội soi phế quản hoặc sinh thiết xuyên thành ngực. Ngoài ra, nội soi lồng ngực còn giúp sinh thiết các nốt đơn độc ngoại vi và chẩn đoán nguyên nhân tràn dịch màng phổi [43]. - Phương pháp mô bệnh học: Xét nghiệm mô bệnh học khối u: đƣợc xem là ―tiêu chuẩn vàng‖ để chẩn đoán ung thƣ phổi.
Mẫu bệnh phẩm có thể lấy từ mô khối u sau phẫu thuật hoặc sinh thiết qua nội soi phế quản hoặc sinh thiết qua thành ngực dƣới sự hƣớng dẫn của cắt lớp vi tính. Phƣơng pháp này ngoài xác định phân nhóm, hình ảnh giải phẫu bệnh còn cho biết mức độ ác tính và xâm lấn của khối u, giúp lựa chọn phác đồ điều trị và tiên lƣợng.