MỞ ĐẦU Ung thƣ đại trực tràng là một trong những bệnh ung thƣ phổ biến nhất trên thế giới, nó đứng thứ ba chỉ sau ung thƣ phổi và ung thƣ vú. Đây là căn bệnh có tỷ lệ tử vong cao và tỷ lệ mắc bệnh có xu hƣớng ngày càng tăng. Theo thống kê, năm 2008 ƣớc tính có khoảng 1,24 triệu ngƣời trên thế giới đƣợc chẩn đoán là mắc ung thƣ đại trực tràng, chiếm khoảng 10% trong số các loại ung thƣ. Số ca tử vong do ung thƣ đại trực tràng trong năm 2008 là 610.000 ca trên toàn thế giới, chiếm khoảng 8% số lƣợng tử vong do ung thƣ.
Tại Việt Nam, ung thƣ đại trực tràng là loại ung thƣ đứng thứ năm trong các loại ung thƣ thƣờng gặp, sau ung thƣ dạ dày, phổi, vú, vòm họng. Theo thống kê của Bệnh viện Ung Bƣớu thành phố Hồ Chí Minh, năm 2008, bệnh viện có 306 ca bệnh ung thƣ đại trực tràng và con số này ngày càng gia tăng. Tính đến tháng 9 năm 2009, đã có đến trên 220 bệnh nhân mới đến điều trị ung thƣ đại trực tràng tại đây [54]. Tỷ lệ mắc ung thƣ đại trực tràng là 9% tổng số bệnh nhân ung thƣ [55].
Việc chẩn đoán và phát hiện sớm ung thƣ đại trực tràng có ý nghĩa rất quan trọng, giúp làm tăng hiệu quả điều trị bệnh, giảm tỷ lệ tử vong do loại ung thƣ này gây ra. Thực tế cho thấy, nếu phát hiện khối u đại trực tràng ở giai đoạn đầu và chữa trị kịp thời thì tỷ lệ sống sót của bệnh nhân sau 5 năm sẽ là 80 – 100%. Hiện nay, một số phƣơng pháp xét nghiệm lâm sàng đang đƣợc áp dụng để chẩn đoán ung thƣ đại trực tràng nhƣ chẩn đoán hình ảnh thông quan nội soi, sinh thiết, chụp X quang, xét nghiệm tìm máu trong phân, thăm khám trực tiếp, sử dụng chỉ thị CEA. Nhƣợc điểm của các phƣơng pháp này là thƣờng phát hiện bệnh ở giai đoạn muộn, phƣơng pháp nội soi thƣờng gây khó chịu cho bệnh nhân, xét nghiệm máu trong phân cho nhiều kết quả dƣơng tính và âm tính giả nên hiệu quả chẩn đoán và điều trị bệnh không cao.
Vì vậy, nhu cầu đặt ra cho các nhà khoa học là làm thế nào để tìm ra đƣợc các chỉ thị sinh học đặc trƣng để chẩn đoán, phát hiện ung thƣ đại trực tràng ở giai đoạn sớm. 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn thạc sĩ Nguyễn Thị Ngọc Hà Hiện nay, một trong những hƣớng nghiên cứu chỉ thị sinh học cho ung thƣ đại trực tràng đang đƣợc các nhà khoa học quan tâm là sử dụng công cụ proteomics. Bằng việc phân tích sự biến đổi trong thành phần, số lƣợng các protein có mặt trong huyết thanh, dịch cơ thể, mô ung thƣ của bệnh nhân ung thƣ, các nhà khoa học hi vọng tìm ra đƣợc các chỉ thị sinh học mới, dễ nhận biết để ứng dụng chẩn đoán ung thƣ đại trực tràng ở giai đoạn sớm, nhằm phục vụ công tác chẩn đoán, điều trị bệnh một cách hiệu quả. Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu “Phân tích proteomics mô ung thƣ của bệnh nhân ung thƣ đại trực tràng“ với mục tiêu: - Phân tách hệ protein tách chiết từ mô đại trực tràng bình thƣờng và mô ung thƣ đại trực tràng của bệnh nhân ung thƣ đại trực tràng.
- Phân tích và so sánh sự biểu hiện khác biệt của các protein ở mô ung thƣ đại trực tràng so với mô đại trực tràng bình thƣờng thông qua biểu hiện của các điểm protein trên bản gel điện di hai chiều. - Nhận dạng đƣợc một số protein biểu hiện khác biệt đặc trƣng giữa mô ung thƣ đại trực tràng và mô đại trực tràng bình thƣờng. Đề tài đƣợc thực hiện tại phòng Proteomics và Sinh học Cấu trúc thuộc phòng thí nghiệm Trọng điểm Công nghệ Enzyme và Protein, Trƣờng Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội. 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn thạc sĩ Nguyễn Thị Ngọc Hà Chƣơng 1 – TỔNG QUAN 1.
TỔNG QUAN VỀ UNG THƢ ĐẠI TRỰC TRÀNG 1. Ung thƣ đại trực tràng là gì? Ung thƣ là thuật ngữ đƣợc sử dụng để chỉ các bệnh liên quan đến việc các tế bào phân chia mất kiểm soát và có thể xâm lấn các mô khác. Các tế bào ung thƣ có thể di căn tới các phần khác của cơ thể thông qua máu hoặc hệ bạch huyết. Ung thƣ không chỉ là một bệnh mà bao gồm nhiều bệnh.
Hiện nay, có hơn 100 loại ung thƣ khác nhau. Hầu hết ung thƣ đƣợc đặt tên theo cơ quan hoặc loại tế bào, nơi ung thƣ phát sinh. Ví dụ ung thƣ phát sinh từ đại tràng đƣợc gọi là ung thƣ đại tràng, ung thƣ phát sinh từ gan đƣợc gọi là ung thƣ gan… [48]. Ung thƣ là một trong 8 nguyên nhân gây chết đối với nhân loại trên toàn thế giới.
Số lƣợng ngƣời tử vong do ung thƣ còn lớn hơn số lƣợng tử vong do nhiễm HIV, lao và sốt xuất huyết cộng lại. Đối với các nƣớc có nền kinh tế phát triển, ung thƣ là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu. Đối với các nƣớc đang phát triển, ung thƣ là nguyên nhân gây tử vong thứ hai, sau bệnh tim mạch [45]. Năm 2008, ƣớc tính có khoảng 12,66 triệu ngƣời mắc ung thƣ và 7,56 triệu ngƣời chết do căn bệnh này.
Trong đó 4 loại ung thƣ là ung thƣ phổi, ung thƣ vú, ung thƣ dạ dày và ung thƣ đại trực tràng chiếm 2/5 tổng số ca mắc ung thƣ trên thế giới [45]. Ung thƣ đại trực tràng là loại ung thƣ phổ biến nhất trong các loại ung thƣ đƣờng tiêu hóa [28], bao gồm ung thƣ đại tràng và ung thƣ trực tràng đƣợc gọi theo tên của mô, nơi phát sinh ung thƣ. Đại tràng và trực tràng là một phần của hệ tiêu hóa. Đại trực tràng (hay còn gọi là ruột già) là phần cuối của ống tiêu hóa ở ngƣời, gồm có đại tràng (hay còn gọi là ruột kết) và trực tràng (hay còn gọi là ruột thẳng).
Đại tràng chia ra làm nhiều phần: manh tràng, đại tràng lên, đại tràng ngang, đại tràng xuống và đại tràng sigma (Hình 1). Trực tràng nằm ngay trƣớc hậu môn. Ung thƣ xảy ra ở đại tràng gọi là ung thƣ đại tràng và ung thƣ xảy ra ở trực tràng gọi là 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn thạc sĩ Nguyễn Thị Ngọc Hà ung thƣ trực tràng. Ung thƣ ở đại tràng xảy ra thƣờng xuyên hơn ung thƣ ở trực tràng [21Error! Reference source not found.
Hình ảnh đại trực tràng [57] Ung thƣ đại trực tràng xảy ra khi một số tế bào ở lớp lót trong (còn gọi là niêm mạc) của đại tràng hay trực tràng trở nên bất thƣờng và phát triển một cách không kiểm soát đƣợc, tạo thành khối u (còn gọi là polyp). Các khối u này có thể là u lành tính hay u ác tính. U lành tính thƣờng không gây hại cho cơ thể, có thể cắt bỏ dễ dàng mà không tái phát trở lại, không xâm lấn các mô xung quanh, không di căn đến các bộ phận khác của cơ thể và khối u lành tính không phải là ung thƣ. U ác tính là ung thƣ thƣờng gây hại cho cơ thể, có thể cắt bỏ khối u ác tính nhƣng đôi khi chúng sẽ tái phát trở lại.
Khối u ác tính thƣờng xâm lấn và gây tổn thƣơng các mô, cơ quan xung quanh. Các tế bào ung thƣ từ khối u ác tính có thể phát tán đến các bộ phận khác của cơ thể bằng cách đi vào máu hoặc hệ bạch huyết và gọi là di căn. Khi ung thƣ đại trực tràng phát triển ra ngoài đại tràng và trực tràng, các tế bào ung thƣ thƣờng di căn đến các hạch bạch huyết. Khi các tế bào ung thƣ đến đƣợc hạch bạch huyết, chúng có thể phát tán đến các các hạch bạch huyết khác hay các cơ quan khác.
Các tế bào ung thƣ đại trực tràng thƣờng phát tán đến gan [10]. 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn thạc sĩ Nguyễn Thị Ngọc Hà Hầu hết các trƣờng hợp ung thƣ đại trực tràng là ung thƣ biểu mô tuyến, chiếm 90 – 95% trong các loại ung thƣ đại trực tràng [21Error! Reference source not found. Điều này có nghĩa là tế bào ung thƣ đƣợc hình thành từ các tế bào biểu mô tuyến bất thƣờng ở bề mặt lớp lót bên trong của đại trực tràng. Một số dạng ung thƣ đại trực tràng khác, ít gặp hơn là ung thƣ bắt đầu từ các tế bào lympho và các tế bào biểu mô vảy.
Ung thƣ đại trực tràng là ung thƣ phổ biến thứ ba trên thế giới chỉ sau ung thƣ phổi và ung thƣ vú. Năm 2008 ƣớc tính có khoảng 1,24 triệu ngƣời trên thế giới đƣợc chẩn đoán là mắc ung thƣ đại trực tràng, chiếm khoảng 10% trong số các loại ung thƣ. Số ca tử vong do ung thƣ đại trực tràng trong năm 2008 là 610.000 ca trên toàn thế giới, chiếm khoảng 8% số lƣợng tử vong do ung thƣ [16, 45]. Ung thƣ đại trực tràng thƣờng gặp ở các nƣớc phát triển nhiều hơn các nƣớc đang phát triển.
Năm 2008, 60% các ca đƣợc chẩn đoán ung thƣ đại trực tràng là ở các nƣớc phát triển [16]. Tỷ lệ bệnh nhân mắc ung thƣ đại trực tràng cũng tăng lên ở các khu công nghiệp và thành thị. Tỷ lệ ung thƣ đại trực tràng ở các nhóm tuổi khác nhau là khác nhau. Số lƣợng ngƣời mắc ung thƣ đại trực tràng ở nhóm tuổi trên 75 tuổi là cao nhất (250/100.
Ung thƣ đại tràng ít xảy ra ở độ tuổi dƣới 45 tuổi và tỷ lệ này là 2/100. Ở nhóm tuổi từ 45 đến 54, tỷ lệ mắc ung thƣ đại tràng là 20/100. Nhóm tuổi từ 55 đến 64, tỷ lệ mắc ung thƣ đại tràng là 55/100. Nhóm tuổi từ 65 đến 74, tỷ lệ này là 150/100.000/năm [21Error! Reference source not found.
Tại Việt Nam, ung thƣ đại trực tràng là loại ung thƣ đứng thứ năm trong các loại ung thƣ thƣờng gặp, sau ung thƣ dạ dày, phổi, vú, vòm họng và bệnh này có xu hƣớng ngày càng tăng cao. Theo thống kê của Bệnh viện Ung Bƣớu TPHCM, năm 2007, bệnh viện có 218 ca bệnh ung thƣ đại trực tràng. Năm 2008 con số này là 306 ca và tính đến tháng 9 năm 2009, đã có đến trên 220 bệnh nhân mới đến điều trị ung thƣ đại trực tràng [54]. Theo thống kê của Bệnh viện K, tỷ lệ mắc ung thƣ đại tràng 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn thạc sĩ Nguyễn Thị Ngọc Hà là 9% tổng số bệnh nhân ung thƣ [55].