Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Khái niệm lập luận Hiện nay, giới ngôn ngữ học đưa ra nhiều định nghĩa về lập luận, nhưng. nhìn chung các tác giả đều thống nhất xem lập luận là dùng lí lẽ đưa người nghe đến kết luận. Theo tác giả Đỗ Hữu Châu, "Lập luận là đưa ra những lí lẽ nhằm dẫn dat người nghe đến một kết luận hay chấp nhận một kết luận nào đấy mà.
người nói muốn đạt tới. Có thể biểu diễn quan hệ lập luận giữa các nội dung phát ngôn như sau: Ppq —>r Trong đó: p; q;. là các lí lẽ, r là kết luận. và r có thể được diễn đạt bằng các phát ngôn u!, uỶ, Trong quan hệ lập luận, lí lẽ được gọi là luận cứ.
Luận cứ có thể là một ý kiến cũng có thể là một sự kiện, một nội dung miêu tả. Vậy quan hệ lập luận à quan hệ giữa một hoặc một số luận cứ với kết luận. Ví dụ sau đây là một lập luận: (a) Con mèo này màu đen (p) nên rất sợ (r). Theo tác giả Nguyễn Đức Dân "Lập luận là một hoạt động ngôn tie Bằng công cụ ngôn ngữ người nói đưa ra những lí lẽ nhằm dẫn đắt người nghe đến một hệ thống xác tính nào đó: rút ra một (/ một sô) kết luận hay chấp nhận một ( /một sô) kết luận nào đó" [14, tr.
Theo tác giả Đỗ Thị Kim Liên “Lập luận là người nói hay người viết đưa ra một hay một số lí lề mà ta còn gọi là luận cứ nhằm dẫn dắt người doc hay người nghe đến một kết luận nào đó mà người nói người nghe muốn hướng. Nhu vay, các tác giả tuy có khác nhau về cách thức diễn đạt nhưng tắt cả đều hướng đến bản chất chung của lập luận là cách “hức mà người nói, người viết dùng những lí lẽ dẫn chứng nhằm đưa người đọc, người nghe đi đến một kết luận nào đó mà người nói, người nuốn hướng đến. Cấu tạo lập luận Một lập luận thường có 2 phần: Phần thứ nhất là luận cứ (LC), phần thứ hai là kết luận (KL). Thông thường luận cứ đứng trước, kết luận đứng sau.
Mà phái con lội hay, con công nội ra ngoái. Gần thấy mô chứ gì (r).7] Phan luận cứ có thể chỉ một nhưng có thể có một số luận cứ. Cấu tạo của lập luận có thể có dạng một phát ngôn ghép, một đoạn thoại hoặc một cuộc thoại. Chẳng hạn, lập luận có cấu tạo là một phát ngôn ghép.
(3) Nó đã 13 tuổi đầu mà không biết một chữ nào (p) nên nó không dám ra thành phổ (r) "Nếu anh không có ý kiến gì (p) thì chúng ta dừng vấn đề này ở đây (r) Chuột thường phá hoại mùa màng (p) nên ta phải diệt chuột (7) Lập luận có thê có cấu tạo là một đoạn văn. Chẳng hạn như: (4) Quan lại vì tiên mà bắt chấp công lý. Sai nha vì tiền mà tấn công cha con Vương Ông. Tú Bà, Mã Giám Sinh, Bạc Hạnh vì tiền mà làm nghề bản thịt, buôn người.
Cả một xã hội chạy theo đồng tiền. Các thành phân lập luận 1. Khai niệm Theo tae giá Nguyễn Đức Dân, "luận cứ là các dữ kiện xuất phát làm luận cứ cho lập luận, từ đó suy ra kết đề”.174] Các luận cứ để rút ra kết luận rất đa dạng. Có thể chỉ một luận cứ đã đủ sức thuyết phục cho cả lập luận nhưng có thể cần đến nhiều luận cứ.
(6) Cô ấy xinh đẹp (p.), ngoan hiền (p›), lại có công ăn việc làm ồn định (p›) nên chàng trai nào cũng muốn lấy làm vợ (r)! Mối quan hệ giữa các luận cứ trong một lập luận có thể đồng hướng hoặc nghịch hướng lập luận. Điều này sẽ được chúng tôi làm rõ hơn ở phần quan hệ lập luận. Giống như kết luận, luận cứ có thể tường minh hoặc hàm ẩn trong lập. Luận cứ tường minh tường minh hóa những căn cứ để rút ra kết luận.
Luận cứ hàm ẩn là những luận cứ vì một lí do nảo đó có thể vắng mặt trong. lập luận nhưng người nghe vẫn có thể tự suy ra được và không làm thay đổi hiệu quả lập luận. Vị trívà sự hiện diện Về vị trí của luận cứ trong một lập luận, luận cứ có thể đứng trước, đứng sau hoặc cả trước và sau kết luận. Như vậy có nghĩa là kết luận có thể đứng.
trước,sau, hoặc giữa các luận cứ. Vị trí của luận cứ và kết luận liên quan đến nhau nên phần này tôi sẽ trình bảy cụ thể trong mục vị trí của kết luận. Khải niệm Kết luận là một thành phần không th thiếu của lập luận. Trong một lập.
luận, kết luận có thể ở vị trí đầu, vị trí giữa hoặc cuối của lập luận. Có kết luận là có lập luận, trường hợp lập luận chỉ có kết luận, các luận cứ đã bị hàm. ẩn và trong hoàn cảnh nhất định người nghe khôi phục đề có thẻ hiểu trọn vẹn. một lập luận.
b, Vị trí và sự hiện diện ~ Kết luận có thẻ ở vị trí đầu: Œ)_ Nghỉ học thôi (r), mưa to qué!(p) Trong lập luận này, (r) đứng trước (p) ~ Kết luận đứng sau luận cứ: (8) Mưa réi (p) vé thôi! (r) Trong lập này, (r) đứng sau (p) ~ Kết luận có thê ở vị trí giữa các luận cứ: (9) Trời nóng (p,) khiến mình không ôn thỉ được(r). Đã thế lại còn mắt điện nữa chứ (p›) Hai lí do “ười nóng" và “mắt điện” là những luận cứ đồng hướng tới lập. luận “mình không ôn thỉ được”. Dường như luận cứ thứ nhất chưa đủ thuyết phục cho hành vi “không ổn thí được”, người nói phải bổ sung thêm luận cứ thứ hai bằng kết tử lập luận “da thé”, tại còn” đề làm gia tăng độ khắc nghiệt của hoàn cảnh khiến kết luận trở nên chặt chẽ hơn.
Ở các ví dụ trên, kết luận được đưa ra một cách tường minh. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp thì kết luận cũng có thể tồn tại dưới dang ham an. Vidu: (10) Spl: Anh oi, tối nay chúng mình đi xem ban nhạc “tam ca áo tring” dil Sp2: Đoàn này ở Hà Nội những một thắng kia mà. Vả lại anh trát nhận lời với mắy thằng bạn rồi.
Anh không muồn em bị gò bó. Kết luận từ chối lời rủ của cô gái ở dạng hàm ẩn, chàng trai đã đưa ra hai luận cứ là: đoàn m ở Hà Nội những một tháng, và thứ hai là anh không muốn em bị gò bó vì anh đã nhận lời đi xem với bạn rồi. Lập luận trên đưa ra một kết luận về thời gian, kết luận này đồng thời lại là một luận cứ p: thời gian như một con sông, mà con sông thì chỉ chảy xuôi, chứ không bao giờ ngược. Từ luận cứ này, người tiếp nhận có thể suy ra kết luận hàm ẩn r là: vì thời gian qua rồi sẽ không trở lại nên con người cần phải biết quý trọng thời gian, dùng chúng có nghĩa.
Qua đó ta thấy điều quan trọng là dù kết luận hay luận cứ có tường. minh hay hàm ẩn, thì về nguyên tắc người nghe phải căn cứ vào ngữ cảnh, ngữ huống, để tự mình suy ra kết luận, hay luận cứ ẩn. Quan hệ lập luận 1. Khái niệm Quan hệ lập luận là quan hệ giữa các luận cứ với nhau hoặc giữa các luận eứ với kết luận.
Giữa các luận cứ có quan hệ định hướng lập luận, có nghĩa là p q. được đưa ra để hướng tới một r nào đó. Trong một lập luận có từ hai luận cứ trở lên, tồn tại hai kiểu quan hệ giữa các luận cứ: quan hệ đồng hướng. lập luận hoặc quan hệ nghịch hướng lập luận.
Hướng lập luận Hướng của lập luận (tức là kết luận) của cả lập luận là do luận cứ có hiệu lực lập luận mạnh nhất trong các luận cứ quyết định. Theo Đỗ Hữu Châu có thể biểu diễn đặc tính của các luận cứ nói trên, đặc tính có hiệu lực lập luận bằng hai sơ đồ sau: Đặc tính hiệu lực lập luận: r 4 Pp 13 (đọc: q có hiệu lực lập luận mạnh hơn p đối với kết luận r) Đặc tính định hướng về lập luận: r or P P (đọc: p hướng tới r, p` hướng tới ~ r) Tính chất của hiệu lực lập luận khác nhau không chỉ do nội dung của luận cứ mà còn do vị trí của chúng trong lập luận quyết định. Quan hệ đồng hướng Các luận cứ có quan hệ đồng hướng lập luận với nhau khi cả hai cùng hướng đến một kết luận chung, kí hiệu: por qor Giữa các luận cứ đồng hướng có thể có quan hệ tương hợp với nhau, nghĩa là chúng lập nên một nhóm luận cứ thuộc cùng một phạm trù. (12) Chiếc xe này còn mới (p) Chiếc xe này mới chạy được 1000km(4) -Anh vừa mới lãnh lương (u) Mua di! (r) Các luận cứ không cùng phạm trù vẫn có thể đồng hướng lập luận với nhau, cùng hướng tới kết luận là “Mua đi ”! b.
Quan hệ nghịch hướng Các luận cứ p, q nghịch hướng lập luận với nhau khi p hướng tới kết luận r còn q hướng tới kết luận -r (ở đây r và -r cùng phạm trù, nói khác đi, -r phải là phủ định của r). Kí hiệu: 14 q¬r q—+ (13) Chiếc xe này rẻ (p) nhưng quá cũ (4) ~> đừng mua! -r Luận cứ “nhưng quá cũ” hướng tới kết luận 'đừng mua”, luận cứ “chiếc. xe này rẻ” hướng tới kết luận “mua”. Xét trong quan hệ lập luận đã cho, hai luận cứ này nghịch hướng với nhau.
Hiệu lực lập luận khác nhau không chỉ do nội dung của luận cứ mà còn do vi trí của chúng trong lập luận quyết định. Tức là luận cứ nào ở gần kết luận hơn sẽ có hiệu lực lập luận mạnh hơn, luận cứ nào cảng ở xa kết luận thì sự chỉ phối của nó. ip luận càng yếu. Do đó, hướng lập luận phụ thuộc vào.
luận cứ gần kết luận nhất. Các đạng lập luận Đỗ Hữu Châu khẳng định: “Tiếu chí để xác định một lập luận là kết luận. -HỀ tìm ra được một kết luận là ta có một lập luận ” [S, tr. Từ đó, phân chia thành hai loại sau: 1.
Lập luận đơn + Lập luận đơn là lập luận chỉ có một kết luận, các thành phản còn lại đều là luận cứ. Mô hình cấu trúc của dạng này là: P — r — hoặc pl, p2,p3,. Lập luận phức + Lập luận phức là lập luận có từ hai kết luận trở lên. kết luận khái quát và các kết luận bộ phận, các kết luận bộ phận đóng vai trỏ 15 là luận cứ để đi đến kết luận chung.
Theo Đỗ Hữu Châu, dang lập luận phức là dạng lập luận thường gặp nhất.