CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về Tài chính doanh nghiệp 1. Khái niệm Doanh nghiệp: Doanh nghiệp là chủ thể kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân, hoạt động kinh doanh trên thị trường nhằm làm tăng giá trị của chủ sở hữu. Doanh nghiệp là một cách thức tổ chức hoạt động kinh tế của nhiều cá nhân.
Có nhiều hoạt động kinh tế chỉ có thể thực hiện được bởi các doanh nghiệp chứ không phải các cá nhân. (Lưu Thị Hương, 2005, tr7) Ở Việt Nam, theo Luật doanh nghiệp (2005): Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh – tức là thực hiện một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời. Phân loại doanh nghiệp Thông thường trong tài chính, tổ chức kinh doanh được chia ra làm ba dạng căn bản: doanh nghiệp tư nhân (Sole proprietorship), doanh nghiệp hợp danh (Partnership) và doanh nghiệp cổ phần (Company or Corporation). Ngoài ba dạng cơ bản, tổ chức kinh doanh trên thực tế cũng có những dạng cụ thể.
Ví dụ như ở Việt Nam, chúng ta còn có các loại hình như doanh nghiệp trách nhiệm hữu hạn một thành viên thuộc sở hữu nhà nước, doanh nghiệp trách nhiệm hữu hạn một thành viên nhà nước, doanh nghiệp trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên,… Trên thực thế, doanh nghiệp tư nhân là loại hình kinh doanh chiếm số lượng lớn nhất. Tuy nhiên, các doanh nghiệp cổ phần lại chiếm ưu thế về tỷ trọng hoá đơn kinh doanh cũng như tỷ trọng về lợi nhuận trong các loại hình doanh nghiệp. (Vũ Duy Hào, Trần Minh Tuấn, 2016, tr. Tài chính doanh nghiệp Tài chính doanh nghiệp: Tài chính doanh nghiệp được hiểu là những quan hệ giá trị giữa doanh nghiệp với các chủ thể trong nền kinh tế.
Các quan hệ tài chính doanh nghiệp chủ yếu bao gồm: Quan hệ giữa doanh nghiệp với Nhà nước: Đây là mối quan hệ phát sinh khi doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước, khi Nhà nước góp vốn vào doanh nghiệp. Quan hệ giữa doanh nghiệp với thị trường tài chính: Quan hệ này được thể hiện thông qua việc doanh nghiệp tìm kiếm các nguồn tài trợ. Trên thị trường tài chính, doanh nghiệp có thể vay ngắn hạn để đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn, có thể phát hành cổ phiếu và trái phiếu để đáp ứng nhu cầu vốn dài hạn. Ngược lại, doanh nghiệp phải trả lãi vay và vốn vay, trả lãi cổ phần cho các nhà tài trợ.
Doanh nghiệp cũng có thể gửi tiền vào ngân hàng, đầu tư chứng khoán bằng số tiền tạm thời chưa sử dụng. Quan hệ giữa doanh nghiệp với các thị trường khác: Trong nền kinh tế, doanh nghiệp có quan hệ chặt chẽ với các doanh nghiệp khác trên thị trường hang hoá, dịch vụ, thị trường sức lao động. Đây là những thị trường mà tại đó doanh nghiệp tiến hành mua sắm máy móc thiết bị, nhà xưởng, tìm kiếm lao động… Điều quan trọng là thông qua thị trường, doanh nghiệp có thể xác định được nhu cầu hang hoá và dịch vụ cần thiết cung ứng. Trên cơ sở đó, doanh nghiệp hoạch định ngân sách đầu tư, kế hoạch sản xuất, tiếp thị nhằm thoả mãn nhu cầu thị trường.
Quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp: Đây là quan hệ giữa các bộ phận sản xuất – kinh doanh, giữa cổ đông và người quản lý, giữa cổ đông và chủ nợ, giữa quyền sử dụng vốn và quyền sở hữu vốn. Các mối quan hệ này được thể hiện thong qua hang loạt chính sách của doanh nghiệp như: chính sách cổ tức (phân phối thu nhập), chính sách đầu tư, chính sách về cơ cấu vốn, chi phí…(Vũ Duy Hào, Trần Minh Tuấn, 2016, tr.11) 7 Vai trò của Tài chính doanh nghiệp Tài chính doanh nghiệp nắm vai trò thiết yếu trong hệ thống tài chính không chỉ ở Việt Nam mà với tất cả các quốc gia trên thế giới. Sự tăng trưởng hay suy thoái của nền kinh tế một quốc gia gắn liền với sự vận hành của bộ máy sản xuất kinh doanh, vốn có quan hệ sống còn với sự thu hẹp hay mở rộng của nguồn lực tài chính. Vì thế, việc phát huy vai trò của Tài chính doanh nghiệp là vô cùng quan trọng, điều này không chỉ phụ thuộc vào bộ máy quản lý, điều hành tài chính doanh nghiệp trong doanh nghiệp mà còn phụ thuộc rất lớn vào chính sách điều hành kinh tế vĩ mô của quốc gia.
Các vai trò cơ bản của Tài chính doanh nghiệp trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay: – Tài chính doanh nghiệp là công cụ khai thác và thu hút vốn, đảm bảo và duy trì vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh Vốn là yếu tố tiền đề của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh. Một doanh nghiệp bắt đầu kinh doanh hay mở rộng sản xuất đều phải có vốn đủ để đáp ứng nhu cầu. Khi nhu cầu về vốn tăng cao, tất yếu nảy sinh vấn đề huy động vốn. Trong điều kiện nền kinh tế hiện nay, việc khai thác và huy động vốn càng trở nên cấp bách và mang tính sống còn đối với doanh nghiệp.
Vì thế tài chính doanh nghiệp phải phát huy vai trò khai thác và thu hút vốn qua các kênh huy động vốn khác nhau nhằm huy động các nguồn vốn thích hợp với các mục tiêu kinh doanh, chi phí thấp, an toàn và nhanh chóng cho doanh nghiệp. – Tài chính doanh nghiệp có vai trò trong việc sử dụng vốn một cách tiết kiệm và hiệu quả Hiện nay, mỗi nhà quản lý đều phải cân nhắc rất kỹ khi sử dụng vốn trong doanh nghiệp bởi tình hình kinh tế suy thoái, sản xuất kinh doanh trì trệ. Vì thế, mỗi đồng vốn phải được sử dụng một cách cẩn trọng, tiết kiệm nhưng phải phát huy được hiệu quả tối đa. Khi đó, tài chính doanh nghiệp phải phát huy tối đa vai trò của mình trong việc sử dụng vốn bằng việc xem xét các mối quan hệ của doanh nghiệp với các chủ thể kinh tế khác, giám sát các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng như phân tích thực trạng các số liệu kế toán để đảm bảo an toàn vốn 8 đồng thời cũng phân tích, tính toán để tạo ra khả năng quay vòng vốn nhanh nhất có thể hoặc mở rộng nguồn vốn bằng việc sử dụng đòn bẩy tài chính một cách có hiệu quả nhất.
– Tài chính doanh nghiệp là công cụ quan trọng để kiểm tra các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Tình hình tài chính của doanh nghiệp phản ánh rõ nhất thực trạng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Thông qua các chỉ tiêu tài chính như hệ số nợ, hệ số thanh toán, hệ số đòn bẩy… nhà quản lý có thể thấy rõ điểm mạnh, điểm yếu trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp để áp dụng các chính sách tốt nhất đối với doanh nghiệp. Phân tích Báo cáo Tài chính doanh nghiệp 1. Khái niệm, mục tiêu của phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp 1.
Khái niệm Phân tích được hiểu theo cách chung nhất là sự phân chia các sự vật, hiện tượng trong mối quan hệ hữu cơ, biện chứng giữa các bộ phận cấu thành của sự vật và hiện tượng đó. Trên cơ sở đó nhận thức được tính chất và hình thức phát triển của các sự vật và hiện tượng đang nghiên cứu. Hiện nay có nhiều cách diễn giải khác nhau về khái niệm phân tích báo cáo tài chính. Tuy nhiên trong đề tài này, tác giả xin phép được sử dụng định nghĩa sau: Phân tích báo cáo tài chính là quá trình xem xét, kiểm tra, đối chiếu và so sánh số liệu về tài chính trong kì hiện tại với các kì kinh doanh đã qua.
Thông qua việc phân tích báo cáo tài chính sẽ cung cấp cho người sử dụng thông tin có thể đánh giá tiềm năng, hiệu quả kinh doanh cũng như những rủi ro về tài chính trong tương lai của doanh nghiệp. (Nguyễn Năng Phúc, 2014, tr. Mục tiêu Mục tiêu của phân tích báo cáo tài chính thì khác nhau tuỳ theo từng đối tượng sử dụng thông tin được phân tích: 9 - Đối với các nhà quản trị doanh nghiệp: tạo thành chu kỳ đánh giá đều đặn về các hoạt động kinh doanh quá khứ, tiến hành cân đối tài chính, đánh giá khả năng thanh toán, khả năng sinh lời cũng như các rủi ro của doanh nghiệp; làm cơ sở cho các dự báo tài chính như lập kế hoạch đầu tư, kế hoạch ngân quỹ…; cung cấp thông tin cho các quyết định của ban giám đốc, đồng thời là công cụ kiểm soát các hoạt động quản lý. - Đối với các nhà đầu tư (cổ đông và các nhà đầu tư khác): Mục tiêu chính của các nhà đầu tư là gia tăng giá trị tài sản, giá trị doanh nghiệp vì họ đã bỏ vốn vào doanh nghiệp và có thể phải chịu nhiều rủi ro.
Các cổ đông và các nhà đầu tư khi đầu tư vào doanh nghiệp quan tâm tới khả năng sinh lời, rủi ro, diễn biến giá của cổ phiếu, do đó khi phân tích tài chính họ tập trung vào các nội dung này. - Đối với chủ nợ (những người cho vay): người cho vay phân tích báo cáo tài chính để nhận biết khả năng vay và trả nợ của doanh nghiệp. Ngoài ra phân tích báo cáo tài chính cũng được các đối tượng khác quan tâm bởi họ có sử dụng các thông tin của phân tích làm cơ sở cho các hoạt động của họ. Đó là các cơ quan thuế, công an, những người hưởng lương trong doanh nghiệp.
(Vũ Duy Hào, Trần Minh Tuấn, 2016, tr. Thông tin phân tích báo cáo tài chính 1. Thông tin nội bộ Các số liệu được lấy từ báo cáo tài chính công khai của doanh nghiệp và các báo cáo nội bộ phản ánh đúng tình hình hoạt động kinh doanh và tài chính của doanh nghiệp. Các báo cáo cần thiết đối với hoạt động phân tích tài chính doanh nghiệp Hoạt động tài chính có mối quan hệ trực tiếp với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và là nội dung chủ yếu của hoạt động sản xuất kinh doanh.
Báo cáo tài chính là những báo cáo tổng hợp nhất về tình hình tài sản, vốn và công nợ cũng như tình hình tài chính và kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh 10 nghiệp.