Chương 1: Những tiền đề lí luận và thực tiễn của việc thay đổi mới sách giáo khoa Ngữ văn bậctrung học phổ thông. Chương 2: Khảo sát những thay đổi nội dung và phương pháp dạy học về tác gia Nguyễn Đình Chiểu theo quá trình đổi mới sách giáo khoa Ngữ Văn trung học phổ thông (từ 1975 đến 2006). Chương 3: Phương pháp dạy học tác gia Nguyễn Đình Chiểu theo quá trình thay đổi của sách giáo khoa Ngữ văn trung học phổ thông. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 NHỮNG TIỀN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA TIẾN TRÌNH ĐỔI MỚI SÁCH GIÁO NGỮ VĂN BẬC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.
Tiếp thu lí luận giáo dục hiện đại và yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông Việt Nam Một vấn đề có tính nguyên lý là việc giáo dục văn học ở bất kì chế độ nào và thời đại nào cũng phải nhằm vào mục tiêu xây dựng con người cho chế độ đó, đáp ứng yêu cầu của thời đại đó. Nhìn lại toàn bộ hệ thống sách giáo khoaNgữ Văn được biên soạn từ 1975 tới nay, một điều có thể khẳng định ngay là nó luôn luôn cố gắng xuất phát từ mục tiêu đào tạo của nhà trường và dựa trên nguyên lý giáo dục của Đảng để đáp ứng được ở một mức độ đáng kể những nhiệm vụ chính trị và cuộc sống ở từng giai đoạn cách mạng, từng thời kỳ lịch sử cụ thể. Cho nên, có thể bắt đầu từ những đổi thay trong chính trị, văn hoá, xã hội của các thời kỳ lịch sử để lý giải cho sự đổi thay của sách giáo khoa Văn học và chương trình, phương pháp dạy học về tác gia Nguyễn Đình Chiểu. Thời kỳ 1975- 1989 (khoảng thời gian tương ứng với sự ra đời và tồn tại của bộ sách giáo khoa Văn trước cải cách) có tầm quan trọng đặc biệt trong cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Đó là một thời kỳ có dư âm vẻ vang của cuộc kháng chiến chống Mỹ thắng lợi nhưng đồng thời cũng có những khó khăn phức tạp của bước đầu đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế mà sản xuất nhỏ còn phổ biến, có những đảo lộn kinh tế và xã hội sau một cuộc chiến tranh lâu dài, có những diễn biến không thuận lợi do chủ nghĩa đế quốc và bè lũ phản động gây nên. Vì thế, hơn bất cứ lúc nào trước đó, giáo dục quốc dân phải gắn chặt với sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa, giáo dục không chỉ đảm đương chức năng văn hoá- xã hội mà còn ở những mức độ khác nhau thể hiện rõ chức năng chính trị, kinh tế của mình. Trong bối cảnh chung ấy, “các môn chính trị, đạo đức và các môn khoa học xã hội giữ một vai trò quan trọng trong việc truyền đạt tri thức thế giới quan khoa học, về chủ nghĩa Mác- Lênin, đồng thời quá trình giáo dục cũng là một cuộc đấu tranh gay gắt nhằm đẩy lùi những tàn dư của tư tưởng tư sản còn khá sâu đậm trong một bộ phận nhân dân vùng mới giải phóng, nhằm đẩy lui những biểu hiện của suy thoái tư 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tưởng nảy sinh trong quá trình vận động kinh tế trong giai đoạn đầu của thời kỳ quá độ” [19, tr 98]. Cụ thể hơn, sách giáo khoa Văn trong thời kỳ này “cần vạch cho học sinh thấy rõ những khuynh hướng cơ hội chủ nghĩa đối với chủ nghĩa Mác- Lênin.
Đặc biệt cần vạch rõ bản chất tư tưởng phản động của chủ nghĩa Mao Trạch Đông, sự phản bội lớn nhất, tệ hại nhất và nguy hiểm nhất hiện nay của chủ nghĩa Mác- Lênin, chủ nghĩa xã hội” [1, tr 19]. So sánh với mục tiêu đó, thì bộ sách giáo khoa Văn trước cải cách được đánh giá là đã góp phần với các bộ môn văn hoá khác đào tạo các thế hệ trẻ nước ta thành những chiến sĩ xung kích trên các mặt trận chiến đấu, sản xuất, văn hoá, khoa học…tiêu biểu cho chủ nghĩa anh hùng cách mạng của dân tộc. Tuy nhiên, cũng bởi mục tiêu trên chi phối nên một đặc điểm chính của bộ sách giáo khoa này là nặng về nội dung tư tưởng- chính trị, chưa phát huy được ưu thế về đặc trưng bộ môn- nói cách khác nó chưa tận dụng được vũ khí đặc trưng lợi hại của nó là hình tượng ngôn ngữ nghệ thuật trong việc bồi dưỡng tâm hồn, tính cách con người Việt Nam mới xã hội chủ nghĩa. Và dù chiến tranh đã qua đi, đất nước đã thống nhất song các tác phẩm được chọn giảng trong hệ SGK này vẫn tập trung chủ yếu phản ánh cuộc sống chiến đấu chống giặc ngoại xâm gian khổ, hào hùng của dân tộc, vẫn chỉ tập trung phản ánh chủ đề yêu nước.
Yêu nước trong chiến đấu, trong lao động sản xuất, trong mọi hoàn cảnh sống. Dường như, mọi tình cảm riêng tư, sâu kín của con người: những dằn vặt, yêu thương, giận hờn, đau khổ đều không có “đất” tồn tại trong bộ sách giáo khoa tràn ngập không khí hào hùng ấy. Mặt khác, bộ sách giáo khoa trước cải cách “còn bó hẹp trong khuôn khổ một tài liệu thông tin, truyền thụ kiến thức đơn thuần; ít có tác dụng hướng dẫn tự học, tự nghiên cứu. Việc rèn luyện tư duy, rèn luyện con người, như thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nhiều lần nhắc nhở, chưa được coi trọng đúng mức trong sách giáo khoa văn phổ thông” [1, tr 53].Và tất nhiên, chương trình và phương pháp dạy học về tác gia Nguyễn Đình Chiểu cũng không nằm ngoài những đặc điểm chung đó.
Bước sang thời kỳ 1990- 2000 (khoảng thời gian chứng kiến sự ra đời của bộ sách giáo khoa Văn cải cách), tình hình chính trị- văn hoá- xã hội của nước ta đã dần có nhiều đổi thay đáng kể. Đất nước ta vượt qua được giai đoạn khó khăn của thời kỳ đầu thống nhất, của bước đầu quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội. Đặc biệt, 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trong thời kỳ này, chủ trương đổi mới của đại hội Đảng VI (1986) mới thực sự đi vào cuộc sống, tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ về mặt tư duy: vẫn kiên trì chủ nghĩa Mác- Lênin nhưng không cứng nhắc, giáo điều, tự do hơn, dân chủ hơn, năng động hơn và dám nhìn thẳng, nói thẳng trước sự thật. Công cuộc đổi mới toàn diện này cũng đã mở ra cho ngành giáo dục Việt Nam một giai đoạn phát triển mới: không phải đào tạo ra những con người “chính trị, công dân” mà là “đào tạo thế hệ trẻ theo hướng toàn diện: có đạo đức cách mạng, tinh thần nhân văn, có năng lực chuyên môn, có ý thức và khả năng tự tạo việc làm trong nền kinh tế nhiều thành phần”[19, tr103].
Trước tình hình đó, sách giáo khoa Văn không thể là “phiên bản của cuốn đạo đức học, nặng về hô hào, lý thuyết” (GS. Nguyễn Đức Nam) mà “được biên soạn với tinh thần trả lại bản chất nghệ thuật, thẩm mĩ cho môn Văn; phát huy ở mức cao nhất sức mạnh bộ môn; chú ý cụ thể, hoàn thiện hơn lĩnh vực phương pháp dạy học”[25, tr 11]. Bởi vậy, một trong những đặc điểm nổi bật của sách giáo khoa thời kỳ này là đề cao tính thẩm mĩ và tính nhân văn của Văn học, phát huy sức mạnh đặc thù của văn chương, chống lối dạy học xã hội học tầm thường hay chính trị hoá một cách thô bạo. Đồng thời bộ sách giáo khoa này cũng bắt đầu chú ý hơn đến Phương pháp dạy học.
Chương trình và phương pháp dạy học về tác gia Nguyễn Đình Chiểu trong bộ sách giáo khoa Văn cải cách, vì thế, đã có những ưu điểm nổi bật hơn hẳn chương trình trong bộ SGK trước đó. Sang những năm đầu của thế kỉ XXI này (thời điểm chứng kiến sự ra đời của bộ sách giáo khoa Ngữ văn mới), tình hình chính trị- kinh tế- xã hội nước nhà có biến đổi mạnh mẽ. Điểm khác biệt đầu tiên là đất nước ta đang phát triển với một tốc độ rất mau chóng theo xu thế tích cực hội nhập quốc tế. Quá trình hội nhập ấy đem lại nhiều cơ hội nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức.
Nó đòi hỏi con người muốn tồn tại và phát triển thì phải có những phẩm chất mới: năng động, sáng tạo, chủ động và có khả năng thích nghi tối đa với đời sống xã hội nhiều biến đổi. Điểm khác biệt thứ hai là đất nước ta đang đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá với mục tiêu đến năm 2020 Việt Nam về cơ bản sẽ trở thành một nước công nghiệp. Sự nghiệp to lớn trên đã đặt ra yêu cầu về một lớp người lao động có những phẩm chất và năng lực phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đặc biệt phải có những giá trị mới như tư duy phê phán và khả năng sáng tạo; năng lực tổng hợp, chuyển đổi và ứng dụng thông tin vào hoàn cảnh mới để giải quyết các vấn đề đặt ra, để thích ứng với những thay đổi trong cuộc sống; năng lực hợp tác và giao tiếp có hiệu quả; năng lực chuyển đổi nghề nghiệp theo yêu cầu mới của sản xuất và thị trường lao động…Muốn có những thế hệ người thích ứng với thời đại và xã hội mới tất yếu phải đổi thay mô hình giáo dục, đổi thay sách giáo khoa.
Nhìn lại sách giáo khoa Văn cải cách, chúng ta thấy rằng hệ sách này đã hoàn thành nhiệm vụ lịch sử của giai đoạn thống nhất hệ thống giáo dục phổ thông trên phạm vi cả nước, góp phần quan trọng vào quá trình phổ cập và nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông. Tuy nhiên trước yêu cầu mới của giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nó đã bộc lộ nhiều hạn chế: “+ Bộ sách giáo khoa này được xây dựng trên một mô hình “tri thức tĩnh”, chỉ chú trọng tới khối lượng kiến thức. Kiến thức bị nhìn nhận một cách tĩnh tại, tách rời khỏi đối tượng tiếp nhận và con đường vận động của bản thân chủ thể tiếp nhận kiến thức đó. + Bộ sách giáo khoa này là có phần bị thu gọn trong giới hạn của một lĩnh vực hẹp của một môn học, tách rời giả tạo khỏi những quan hệ vốn có của nó như quan hệ giữa văn và tiếng, giữa ngữ văn và làm văn, giữa ngữ văn của THPT với THCS, giữa văn học nhà trường với cuộc sống hàng ngày đang biến đổi không ngừng, tách rời cung cấp kiến thức và kĩ năng… + Nội dung tỏ ra lạc hậu với yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, với mục tiêu đào tạo con người của thế kỉ mới.