Chương 1 Lý luận tổng quan về các nhân tố ảnh hưởng đến xu hướng sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng cá nhân tại NHTM 1.1 Tổng quan về thẻ tín dụng của ngân hàng thương mại 1.1 Giới thiệu chung về thẻ tín dụng Thẻ thanh toán là phương tiện thanh toán do các ngân hàng, các định chế tài chính phát hành để thực hiện các giao dịch thẻ như nạp, rút tiền mặt tại các máy, các quầy tự động của ngân hàng, thanh toán tiền hàng hóa dịch vụ, hoặc chuyển khoản…Thẻ tín dụng là một trong các loại thẻ thanh toán được sử dụng phổ biến nhất trên thế giới. Theo Kinh tế học: Nguyên tắc hành động (Sullivan, Arthur, Shefferin - 2003): thẻ tín dụng là một loại thẻ thanh toán được phát hành cho người dùng như một phương thức thanh toán. Nó cho phép người nắm giữ thẻ thanh toán hàng hóa và dịch vụ dựa trên cam kết rằng người dùng sẽ hoàn trả khoản thanh toán đó. Theo quyết định số 20/2007/QĐ-NHNN, tại điều 2: “Thẻ tín dụng (credit card) là thẻ cho phép chủ thể thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi hạn mức tín dụng đã được cấp theo thỏa thuận với tổ chức phát hành thẻ”.
Đây là một phương tiện thanh toán mà ngân hàng cung cấp cho người sử dụng bằng cách trao một hạn mức tín dụng tuần hoàn không phải trả lãi (trong trường hợp hoàn trả trong thời hạn) để mua sắm hàng hóa và dịch vụ tại các cơ sở kinh doanh chấp nhận thẻ. Vào cuối kỳ tín dụng, chủ thẻ sẽ thanh toán với ngân hàng một phần hoặc toàn bộ các khoản đã chi sau khi đã hạch toán theo bảng kê các khoản chi tiêu trong kỳ. - Chủ thẻ: là cá nhân hay tổ chức được ngân hàng phát hành thẻ cấp thẻ để sử dụng, gồm có chủ thẻ chính và chủ thẻ phụ. Chủ thẻ chính là cá nhân hay tổ chức trực tiếp thỏa thuận với ngân hàng phát hành thẻ và phải thực hiện các thỏa thuận đó.
Chủ thẻ phụ là người do chủ thẻ chính đề nghị ngân hàng cấp thẻ phụ để sử dụng, toàn bộ chi tiêu của thẻ phụ do chủ thẻ chính chịu trách nhiệm. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 - Cơ sở chấp nhận thẻ: là các đơn vị cung cấp hàng hóa dịch vụ đã có ký kết hợp đồng với ngân hàng chấp nhận việc thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ, trả nợ…bằng thẻ tín dụng thay vì tiền mặt. Các cơ sở này được trang bị máy móc và kỹ thuật để tiếp nhận việc thanh toán qua thẻ. - Ngân hàng phát hành thẻ (NHPH): là ngân hàng được cấp phép thực hiện nghiệp vụ phát hành thẻ, có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ xin cấp thẻ, phát hành thẻ, mở và quản lý tài khoản, thực hiện việc thanh toán cuối cùng với chủ thẻ và đơn vị chấp nhận thẻ (nếu ngân hàng đồng thời đảm nhận vai trò là ngân hàng thanh toán), cung cấp máy móc thiết bị cho đơn vị chấp nhận thẻ… - Ngân hàng thanh toán (NHTT) hay ngân hàng đại lý (NHĐL): là ngân hàng được NHPH ủy quyền thực hiện thanh toán thẻ theo hợp đồng; là thành viên chính thức hoặc thành viên liên kết của Tổ chức thẻ quốc tế thực hiện dịch vụ thanh toán theo ký kết với tổ chức thẻ quốc tế đó.2 Thẻ tín dụng tại các ngân hàng thương mại 1.1 Phân loại thẻ tín dụng - Phân loại theo đối tượng khách hàng: + Thẻ khách hàng cá nhân: là thẻ phát hành cho cá nhân có nhu cầu và đáp ứng đủ các yêu cầu phát hành thẻ của ngân hàng.
Thẻ cá nhân có hai loại là thẻ chính và thẻ phụ. +Thẻ khách hàng doanh nghiệp: là loại thẻ tín dụng dùng cho công ty để thanh toán các hoạt động của mình. Công ty đứng tên ký hợp đồng sử dụng thẻ và ủy quyền cho người đứng tên để sử dụng. - Phân loại theo phạm vi sử dụng thẻ: + Thẻ tín dụng trong nước: đây là loại thẻ chỉ được dùng để thanh toán trong một nước, NHPH và NHTT là cùng một quốc gia, đồng tiền thanh toán thẻ là VNĐ.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 + Thẻ tín dụng quốc tế: là loại thẻ có thể thanh toán ở tất cả các cơ sở chấp nhận thẻ kể cả trong và ngoài nước, được phát hành bởi các ngân hàng, tổ chức tài chính trong nước và quốc tế (là thành viên của tổ chức thẻ quốc tế). - Phân loại theo hạn mức tín dụng: tùy theo từng ngân hàng mà hạn mức tín dụng cho từng loại thẻ là có sự chênh lệch.2 Quy trình phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ tín dụng a. Điều kiện đăng kí phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: - Chủ thẻ chính (là cá nhân): có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật, đáp ứng đủ các điều kiện về đảm bảo tín dụng như có khả năng đảm bảo việc thực hiện đúng hạn và đầy đủ các nghĩa vụ tài chính của thẻ chính và các thẻ phụ, có tài sản đảm bảo hoặc được người thứ 3 đảm bảo bằng thế chấp, cầm cố tài sản; và thỏa mãn các điều kiện khác do NHPH quy định. - Chủ thẻ phụ: có năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật, được chủ thẻ chính cam kết thanh toán toàn bộ các khoản tiền thanh toán lãi và phí phát sinh khi sử dụng thẻ, đáp ứng các điều kiện khác của NHPH.
Quy định về cấp tín dụng qua thẻ - Hạn mức tín dụng thẻ của một khách hàng không được vượt quá tổng mức tín dụng tối đa của ngân hàng đối với khách hàng đó. - Thời hạn trả nợ, trả nợ tối thiểu, nghĩa vụ thanh toán và các nghĩa vụ khác liên quan đến cấp tín dụng thực hiện theo thỏa thuận giữa NHPH và chủ thẻ, và tuân theo các quy định về pháp luật. Nghiệp vụ chấp nhận và thanh toán thẻ - Đơn vị chấp nhận thẻ phải lập hóa đơn bán hàng có chữ kí của chủ thẻ khi khách hàng thanh toán hàng hóa, dịch vụ qua thẻ. Khi cài thẻ vào thiết bị chấp nhận TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 thẻ, máy sẽ tự động cấp phép nếu đủ tiêu chuẩn giao dịch, ngược lại máy sẽ không cấp phép nếu số tiền thanh toán lớn hơn dư nợ tín dụng hoặc thẻ hết thời hạn sử dụng.
Khi hoàn thành giao dịch, máy sẽ in hóa đơn thành ba liên, khách hàng phải kí tên vào các liên này, đơn vị chấp nhận thẻ sẽ giữ hai liên và giao cho khách hàng 1 liên. - Trung tâm thẻ (TTT) thực hiện nhiệm vụ quản lý chi tiêu gồm quản lý hạn mức tín dụng chung, hạn mức tín dụng ngày, hạn mức chi tiêu của chủ thẻ; tính lãi và phí trên tài khoản thẻ; lập sao kê và gửi cho chi nhánh phát hành. - Chi nhánh phát hành nhận sao kê từ TTT và gửi cho khách hàng hàng tháng; nhận giấy báo nợ từ TTT, thanh toán trả nợ của chủ thẻ. - Chủ thẻ phải thanh toán các khoản tín dụng, lãi và phí trên bảng kê theo quy định của hợp đồng, chủ thẻ cũng có thể ủy quyền cho NHPH trích tài khoản của mình để thanh toán các khoản trên.3 Những rủi ro khi sử dụng thẻ tín dụng 1.1 Đối với ngân hàng thương mại Ngân hàng có thể phát hành thẻ tín dụng cho các khách hàng cung cấp thông tin giả mạo do không thẩm định kỹ thông tin khách hàng trên hồ sơ xin phát hành thẻ.
Tuy nhiên xác suất rủi ro này xảy ra là rất thấp vì ngân hàng có thể theo dõi dòng thu nhập của chủ thẻ, yêu cầu có thế chấp và có số dư tiền gửi tại ngân hàng. Các tổ chức tội phạm có thể tạo các thẻ giả (bằng các thu thập thông tin chủ thẻ từ các cơ sở chấp nhận thẻ, hoặc từ các thẻ bị thất lạc hoặc đánh cắp) để tiến hành những giao dịch giả mạo, và NHPH phải chịu hoàn toàn trách nhiệm đối với những giao dịch có mã PIN của NHPH, đây là loại rủi ro rất nguy hiểm vì nó nằm ngoài dự đoán của NHPH. Trong trường hợp chủ thẻ không nhận được thẻ do NHPH gửi qua đường bưu điện do thẻ bị thất lạc trong quá trình gửi, và thẻ được sử dụng mà chủ thẻ không hề TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 hay biết, khi đó NHPH sẽ chịu mọi rủi ro đối với các giao dịch được thực hiện trong trường hợp này. Trường hợp sơ sở chấp nhận thẻ in nhiều hóa đơn nhưng chỉ giao một hóa đơn cho khách hàng thanh toán, số còn lại sẽ giả mạo chữ kí của khách hàng để yêu cầu ngân hàng chi trả, cả ngân hàng thanh toán và ngân hàng phát hành cũng sẽ bị ảnh hưởng.
Ngoài ra còn có một số rủi ro khác khi ngân hàng không chú trọng đến quản lý hệ thống xử lí dữ liệu và việc an toàn bảo mật của hệ thống thông tin, dữ liệu.2 Đối với khách hàng Chủ thẻ gặp rủi ro khi thẻ bị thất lạc hoặc mất cắp được người khác sử dụng trước khi chủ thẻ thông báo cho ngân hàng phát hành hạn chế sử dụng hoặc thu hồi thẻ. Ngoài ra, thẻ tín dụng còn kích thích sự tiêu dùng quá mức của chủ thẻ vì khi sử dụng tiền mặt, khách hàng nhận thức số tiền mang theo là hữu hạn nên sẽ chọn những hàng hóa dịch vụ phù hợp với số tiền đó; ngược lại, khách hàng có thể sẽ mua những thứ mình thích bằng thanh toán qua thẻ vì số tiền trên thẻ có giá trị lớn.2 Lý thuyết dự đoán ý định hành vi 1.1 Thuyết hành động hợp lý (The theory of reasoned action – TRA) Mô hình TRA là mô hình dùng để dự báo về ý định hành vi, được phát triển bởi Martin Fishbein và Ajzen Icek (1975, 1980) dựa trên nghiên cứu trước đó về hành vi và thái độ, cho thấy xu hướng tiêu dùng là yếu tố dự đoán tốt nhất về hành vi tiêu dùng. Các thành phần của TRA bao gồm ý định hành vi (behavioral intension - BI), thái độ (attitude -A) và chuẩn chủ quan (subjective norm - SN) (BI = A +SN). Nếu một người có ý định thực hiện một hành vi nào đó thì rất có khả năng người đó sẽ làm việc đó.
Ý định hành vi đo lường độ mạnh tương đối về ý định của một người để thực hiện một hành vi nào đó. Nó là sự kết hợp giữa thái độ đối với hành vi đó và các chuẩn chủ quan đối với hành vi đó, và giúp dự đoán hành vi thực sự. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.