phần mở đầu, mục lục, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn đƣợc kết cấu thành 4 chƣơng, cụ thể đó là: Chƣơng 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu. Chƣơng 2: Nội dung và phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu. Chƣơng 4: Đề xuất giải pháp, kiến nghị 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Nhận thức và các mức độ nhận thức 1. Khái niệm nhận thức Nhận thức là một khái niệm trừu tƣợng vì vậy mỗi ngành khoa học có sự tiếp cận, sử dụng khác nhau. Có rất nhiều quan điểm khác nhau về nhận thức. Theo Từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê:“Nhận thức là quá trình hoặc kết quả phản ánh và tái hiện vào trong tư duy, là quá trình con người nhận biết, hiểu biết về thế giới khách quan hoặc kết quả nghiên cứu của quá trình đó” [8, tr.882] Theo Từ điển Bách khoa toàn thƣ Việt Nam: “Nhận thức là quá trình biện chứng của sự phản ánh thế giới khách quan trong ý thức con người, nhờ đó con người tư duy và không ngừng tiến đến gần khách thể” [9, tr.589] Theo quan điểm của C.Mac và Ănghen: “Nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc của con người.
Sự phản ánh đó không phải là một hành động nhất thời, máy móc, giản đơn và thụ động mà là một quá trình phức tạp của hoạt động trí tuệ tích cực và sáng tạo” [11, tr220] V.Lênin lại cho rằng: “Nhận thức là sự phản ánh thế giới khách quan bởi con người nhưng không phải là sự phản ánh đơn thuần, trực tiếp hoàn toàn. Quá trình này là cả một chuỗi những sự trừu tượng, sự cấu thành và sự hình thành nên các khái niệm, quy luật và chính các khái niệm, quy luật này lại bao quát một cách có điều kiện gần đúng tính quy luật phổ biến của thế giới tự nhiên vĩnh viễn vận động và phát triển” [10, tr192] Nhƣ vậy, nhận thức là quá trình con ngƣời nhận biết về một đối tƣợng nào đó từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp. Sống và hoạt động trong thế giới khách quan, con ngƣời phải tỏ thái độ, nhìn nhận, đánh giá và hành động với thế giới ấy, biết và hiểu rõ nó là gì, nó nhƣ thế nào và có ý nghĩa gì trong 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cuộc sống; để từ đó xuất hiện hành vi tích cực hoặc tiêu cực đối với đối tƣợng đó. Trong phạm vi nghiên cứu này tác giả tập trung vấn đề nhận thức của cộng đồng địa phƣơng về hoạt động phát triển du lịch có trách nhiệm tại Sầm Sơn xem họ hiểu và nhận biết thế nào về du lịch và các hoạt động du lịch có trách nhiệm.
Nhận thức là yếu tố khởi nguồn của các hành vi trách nhiệm. Nhận thức đúng và đủ về các sự vật, hiện tƣợng, các quá trình diễn ra trong hoạt động du lịch, quản lý, kinh doanh du lịch thì sẽ hành động có trách nhiệm để không hoặc hạn chế thấp nhất làm tổn hại tới xung quanh (các chủ thể tham gia khác) và mang lại lợi ích tối đa về kinh tế xã hội và môi trƣờng cho chính mình và xã hội. Nhận thức của cá nhân cơ bản phụ thuộc giáo dục, trình độ nghề nghiệp đồng thời với sự quan tâm và tần suất tiếp xúc với hoạt động du lịch, hoạt động chuyên môn. Nhận thức càng cao, sâu, rộng thì thể hiện trách nhiệm càng cao.
Nhận thức của tập thể, tổ chức hay cộng đồng phụ thuộc vào nhận thức của từng cá nhân đồng thời tùy thuộc vào sự gắn kết của tổ chức và định hƣớng dẫn dắt thông qua quá trình lâu dài thực hiện các chƣơng trình nhận thức về trách nhiệm của từng thành viên trong tổ chức. Nâng cao nhận thức là cơ sở quyết định nâng cao trách nhiệm trong hoạt động du lịch, bao gồm nhận thức của cán bộ quản lý nhà nƣớc, nhận thức của chủ doanh nghiệp, ngƣời lao động, dân cƣ và du khách [20,tr22] Nhận thức của cộng đồng và việc phát triển du lịch có trách nhiệm có mối quan hệ hai chiều. Khi nhận thức của cộng đồng đúng và đủ sẽ quyết định trách nhiệm cao; ngƣợc lại, các phƣơng thức quản lý hoạt động du lịch đúng đắn cũng sẽ giúp nâng cao nhận thức, ý thức cộng đồng, Hai yếu tố này luôn cần đƣợc phát triển, tồn tại song song với nhau, nhằm hƣớng đến sự phát triển bền vững dựa trên cân bằng lợi ích kinh tế và bảo tồn. 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Các mức độ nhận thức Theo Benjamin S.1: Thang các mức độ nhận thức của Benjamin S. Bloom - Biết (Knowledge): Biết là năng lực nhớ lại các thông tin, sự kiện mà không nhất thiết phải hiểu chúng. - Hiểu (Comprehention): Hiểu là năng lực hiểu ý nghĩa của thông tin và giải thích các thông tin. - Ứng dụng (Application): Ứng dụng là năng lực vận dụng các thông tin hiểu biết đƣợc vào những hoàn cảnh mới, tình huống mới, điều kiện mới, giải quyết các vấn đề đặt ra.
- Phân tích (Analysis): Phân tích là năng lực chia thông tin thành nhiều thành tố để biết đƣợc các mối quan hệ nội tại và cấu trúc của chúng. - Tổng hợp (Synthesis): Tổng hợp là năng lực liên kết các thông tin lại với nhau tạo ra ý tƣởng mới, khái quát hóa các thông tin suy ra các hệ quả. - Đánh giá (Evaluation): Đánh giá là năng lực đƣa ra nhận định, phán quyết về giá trị thông tin, vấn đề, sự vật, hiện tƣợng theo một mục đích cụ thể. Trong nghiên cứu này, khi điều tra về nhận thức của cộng đồng địa phƣơng về hoạt động du lịch có trách nhiệm tác giả đã dựa trên thang nhận 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thức của Benjamin S.Bloom, tuy nhiên để phù hợp cho việc đánh giá tác giả đã điều chỉnh lại thang nhận thức thành 4 mức độ: biết, hiểu, chấp nhận và thực hiện.Với những mức độ khác nhau, nhận thức phát triển từ những bƣớc đầu nhƣ biết, hiểu, chấp nhận cho đến thực hiện.
Trong quá trình xây dựng và nâng cao nhận thức cộng đồng, các thông tin đƣa ra không chỉ để cộng đồng biết mà còn phải hiểu rõ bản chất, ý nghĩa của nó. Từ đó, thuyết phục cộng đồng chấp nhận, thực hiện các hành vi tích cực, và duy trì các hành vi đó thành thói quen, tập quán, phƣơng thức sống bền vững 4.2: Thang các mức độ nhận thức của cộng đồng địa phương về du lịch có trách nhiệm Qua các mức độ phát triển của nhận thức, ta có thể nhận thấy rằng nhận thức đóng một vai trò quan trọng, nó chi phối thái độ, hành động biểu hiện ra bên ngoài và tạo nên ý thức. Trong giới hạn của nghiên cứu, tác giả đi sâu nghiên cứu sự nhận thức của cộng đồng địa phƣơng trong việc phát triển du lịch có trách nhiệm. Sự phát triển của du lịch và các tác động của nó phụ thuộc vào nhận thức và ý thức của ngƣời dân.
Muốn phát triển du lịch có trách nhiệm và bền vững thì cần sự quan tâm và chấp hành từ cộng đồng địa phƣơng, cộng đồng có nhận thức đúng sẽ tạo ra hành động đúng. Khi ngƣời dân có sự hiểu biết, họ nhận thức đƣợc những lợi ích do hoạt động du lịch mang lại, họ sẽ có ý thức giữ gìn cảnh quan, môi trƣờng và tham gia tích cực hơn vào sự phát triển du lịch địa phƣơng. Nắm bắt đƣợc mức độ nhận thức, sự quan tâm của cộng đồng là điều quan trọng để đƣa ra những đề xuất, giải pháp phù hợp nhằm phát triển du lịch có trách nhiệm. 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Cộng đồng địa phƣơng và hoạt động du lịch 1. Khái niệm cộng đồng Khái niệm cộng đồng xuất hiện vào những năm 1940 tại các nƣớc thuộc địa của Anh. Năm 1950, Liên Hợp Quốc công nhận khái niệm phát triển cộng đồng và khuyến khích các quốc gia sử dụng khái niệm này nhƣ một công cụ để thực hiện các chƣơng trình viện trợ vào thập kỷ 50-60. Cộng đồng là khái niệm về tổ chức xã hội đã đƣợc nhiều nhà nghiên cứu đƣa ra trong các công trình khoa học với nhiều ngữ nghĩa khác nhau.
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: Cộng đồng đƣợc hiểu là “Một tập đoàn người rộng lớn, có những dấu hiệu chung về thành phần giai cấp, về nghề nghiệp, về địa điểm sinh tụ và cư trú. Cũng có những cộng đồng xã hội bao gồm một dòng giống, một sắc tộc, một dân tộc”.601] Theo quan điểm về cộng đồng Keith và Ary, 1998 đề cập đến các yếu tố con ngƣời với phạm vi địa lý, mối quan hệ và mục đích chung trong phát triển và bảo tồn cộng đồng đó cho rằng: “Cộng đồng là một nhóm người, thường sinh sống trên cùng khu vựa địa lý, tự xác dịnh mình thuộc về cùng một nhóm. Những người trong cùng một cộng đồng thường có quan hệ huyết thống hoặc hôn nhân và có thể cũng một nhóm tôn giáo, một tầng lớp chính trị” [41] Trong đời sống xã hội, khái niệm cộng đồng đƣợc sử dụng một cách tƣơng đối rộng rãi để chỉ nhiều đối tƣợng có những đặc điểm tƣơng đối khác nhau về quy mô, đặc tính xã hội. Theo nghĩa rộng cộng đồng là nói đến tập hợp ngƣời các liên minh lớn nhƣ: cộng đồng thế giới, cộng đồng Châu Âu, cộng đồng các nƣớc Ả Rập.
Theo nghĩa hẹp hơn danh từ cộng đồng đƣợc áp dụng cho một kiểu, hạng xã hội. Ngoài ra, ngƣời ta còn căn cứ vào những đặc tính tƣơng đồng về sắc tộc, chủng tộc, tôn giáo, phong tục tập quán,. cũng có thể gọi là cộng đồng nhƣ: cộng đồng ngƣời Do Thái. Cộng đồng ngƣời da đen tại Chicago, cộng đồng ngƣời Hồi giáo,.
21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Fichter: “Cộng đồng là một tập thể ngƣời nhất định trên một lãnh thổ nhất định đƣợc hình thành bởi các yếu tố: lãnh thổ, kinh tế và văn hoá trong đó bao gồm 4 yếu tố: - Tƣơng quan cá nhân mật thiết với những ngƣời khác, tƣơng quan này đôi khi đƣợc gọi là tƣơng quan mặt đối mặt, tƣơng qua thân mật. - Có sự liên hệ về tình cảm và cảm xúc. - Có sự tự nguyện hy sinh đối với những giá trị đƣợc tập thể coi là cao cả và có ý nghĩa.
- Có ý thức đoàn kết với mọi thành viên trong tập thể. Tại Việt Nam, lần đầu tiên khái niệm phát triển cộng đồng đƣợc giới thiệu vào giữa những năm 1950 thông qua một số hoạt động phát triển cộng đồng tại các tỉnh phía Nam, trong lĩnh vực giáo dục. Từ ngành giáo dục phát triển cộng đồng chuyển sang công tác xã hội.