CHƯƠNG 1. Khái niệm thành ngữ Thành ngữ là một đơn vị từ vựng quan trọng của ngôn ngữ. Với số lượng đồ sộ, thành ngữ tiếng Việt từ lâu đã được các nhà Việt ngữ học quan tâm nghiên cứu. Tuy vậy, còn tồn tại những quan niệm chưa nhất quán về thành ngữ tiếng Việt.
Dưới đây, chúng tôi tổng thuật một số quan điểm trong việc định nghĩa thành ngữ tiếng Việt. - Quan điểm thứ nhất: Coi thành ngữ là đơn vị cố định về cấu trúc và có nghĩa hoàn chỉnh. Tác giả Nguyễn Văn Mệnh (1972) có viết: “Thành ngữ là đơn vị có nội dung giới thiệu, miêu tả một hình ảnh, một hiện tượng, một tính cách, một trạng thái. Về mặt hình thức, tuyệt đại đa số chúng là những cụm từ cố định.” (“Về ranh giới thành ngữ tục ngữ”, Ngôn ngữ, số 3/1972) [35, 11] Đồng quan điểm với Nguyễn Văn Mệnh, Đái Xuân Ninh nhận định: “Thành ngữ là cụm từ cố định mà các yếu tố cấu tạo đã mất tính độc lập ở cái mức độ nào đó và kết hợp lại thành một khối tương đối vững chắc.” [38, 60] Theo Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học (2010, 458): thành ngữ (idiom) là “một tổ hợp tương đối ít biến đổi trong thành phần cấu tạo, có tính chất của đơn vị trọn vẹn về nghĩa tương đương với cấu tạo của một từ có nghĩa từ vựng”.
- Quan điểm thứ hai: Chú trọng đến tính hình tượng của thành ngữ Thành ngữ là cụm từ cố định, hoàn chỉnh về cấu trúc và ý nghĩa. Nghĩa của chúng có tính hình tượng và gợi cảm. Thành ngữ là cụm từ hay ngữ cố định, bền vững, có tính nguyên khối về mặt ngữ nghĩa không nhằm diễn đạt một ý, một nhận xét như tục ngữ mà nhằm thể hiện một quan niệm dưới một hình thức sinh động, hàm súc. “Thành ngữ là những cụm từ cố định có tính hoàn chỉnh về nghĩa và có giá trị gợi tả.” [12], Hồ Lê (1976) lại định nghĩa: “Thành ngữ là cụm từ cố định hoàn chỉnh về cấu trúc ngữ nghĩa, nghĩa của chúng có tính hình tượng và gợi cảm.” [30, 77] 10 - Quan điểm thứ ba: Coi thành ngữ là đơn vị của ngôn ngữ văn hóa.
Đại diện cho khuynh hướng này là tác giả Nguyễn Công Đức (1995), ông đã định nghĩa thành ngữ một cách chi tiết: “Thành ngữ là những cụm từ cố định, là đơn vị có sẵn trong kho từ vựng, có chức năng định danh, gọi tên sự vật và phản ánh khái niệm một cách gợi tả bóng bảy; có hiệu năng trong giao tiếp và là đơn vị ngôn ngữ văn hóa.” [15, 34] Tác giả Nguyễn Đức Dân cũng có nhận xét về đặc tính văn hóa dân tộc của thành ngữ: “Thành ngữ là những đơn vị ngôn ngữ ổn định về hình thức, phản ánh lối nói, lối suy nghĩ đặc thù dân tộc, phản ánh khái niệm và hiện tượng.” [8] - Quan điểm thứ tư: Chú trọng đến mặt sử dụng của thành ngữ Tác giả Hoàng Văn Hành quan tâm đến phương diện ngữ dụng của thành ngữ, ông cho rằng: “Thành ngữ là một loại tổ hợp từ cố định, bền vững về hình thái cấu trúc, hoàn chỉnh, bóng bảy về ý nghĩa, được sử dụng rộng rãi trong giao tiếp hàng ngày, đặc biệt là khẩu ngữ.” [19, 27] - Quan điểm thứ năm: Chú trọng đến mặt hình thức ngữ âm của thành ngữ Có thể kể một số tác giả đại diện cho khuynh hướng này như: Nguyễn Như Ý, Phan Xuân Thành, Nguyễn Văn Khang. Tác giả Nguyễn Văn Khang đặc biệt chú ý đến vần điệu trong thành ngữ tiếng Việt: “Thành ngữ là những cụm từ cố định, thường có vần điệu, được sử dụng rộng rãi trong đời sống hàng ngày, trong đó nghĩa không giải thích đơn giản bằng ý nghĩa của các từ cấu tạo nên nó” [27, 719]. Nói tóm lại, từ trước đến nay, có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm thành ngữ. Kế thừa những thành quả nghiên cứu của các học giả đi trước, chúng tôi quan niệm: Thành ngữ là những ngữ cố định được dùng để định danh cho các sự vật, hiện tượng, tính chất, hành động; có cấu trúc hình thái ổn định.
Thành ngữ có nội dung và hình thức khá hoàn chỉnh. Nghĩa của thành ngữ có tình hình tượng, tính gợi cảm, tính biểu trưng hóa và hàm súc, bóng bảy. Thành ngữ là đơn vị ngôn ngữ văn hóa, thường có vần điệu, có phong cách khẩu ngữ. Đặc điểm của thành ngữ 1.
Về mặt cấu tạo và chức năng ngữ pháp 1. Về cấu tạo Thành ngữ là loại cụm từ có tính cố định, chặt chẽ. Tính cố định của thành ngữ thể hiện ở chỗ thành phần từ vựng cấu tạo nên thành ngữ hầu như được giữ nguyên trong quá trình sử dụng. Người ta không thể thay thế, thêm bớt hoặc chêm xen bất kì một yếu tố nào vào trong lòng thành ngữ.
Chẳng hạn, thành ngữ hổ phụ sinh hổ tử không thể thay thế thành cọp phụ sinh cọp tử, thành ngữ buộc chỉ chân voi không thể đổi thành buộc chỉ chân tượng, v. Tuy nhiên, tính cố định và bền vững về hình thái cấu trúc của thành ngữ không phải là bất biến, bất di bất dịch. Nghĩa là trong hoạt động giao tiếp, người ta vẫn chấp nhận sự thay đổi nhất định trong việc sử dụng thành ngữ một cách sáng tạo, linh hoạt. Chẳng hạn, trong bài thơ “Bánh trôi nước” có viết: Thân em vừa trắng lại vừa tròn Bảy nổi ba chìm với nước non Thành ngữ ba chìm bảy nổi đã được tác giả Hồ Xuân Hương đổi trật tự hai vế thành bảy nổi ba chìm.
Việc dùng thành ngữ theo cấu trúc đảo này có tác dụng làm cho nhịp điệu câu thơ trở nên hài hòa, uyển chuyển. Còn trong Truyện Kiều, nhiều trường hợp nhà thơ Nguyễn Du thường tách thành ngữ ra từng bộ phận và xen vào những yếu tố phụ để nhấn mạnh ý nghĩa của tục ngữ, thành ngữ hoặc để cho phù hợp với vần điệu của câu thơ. Những thành ngữ “trong ấm ngoài êm”, “tình sông nghĩa bể”, “khổ tận cam lai”, v. được “bẻ vụn đan cài vào” các câu thơ sau: - “ Nàng rằng: non nước xa khơi, Sao cho trong ấm thì ngoài mới êm.” - “ Một nhà sum họp trúc mai, Càng sâu nghĩa bể, càng dài tình sông” - “ Tẻ vui bởi tại lòng này Hay là khổ tận đến ngày cam lai” 12 Tính cố định, bền vững và tính uyển chuyển của thành ngữ trong sử dụng là hai mặt không hề mâu thuẫn, loại trừ nhau mà có tác dụng bổ sung cho nhau.
Chính điều này khiến cho kho tàng thành ngữ ngày càng được mở rộng, phong phú hơn do xuất hiện nhiều biến thể của một thành ngữ. Bên cạnh tan cửa nát nhà còn có nhà tan cửa nát hoặc vênh váo như bố vợ phải đấm và vênh váo như bố vợ cậu ấm, v. Về chức năng ngữ pháp Thành ngữ là cụm từ cố định, có giá trị tương đương từ, vì vậy, trong hành chức, thành ngữ có chức năng cấu tạo phát ngôn, nó có thể tham gia làm thành phần cấu tạo phát ngôn, đó là làm thành phần chính: chủ ngữ và vị ngữ. Khi tham gia làm thành phần phụ của phát ngôn, thành ngữ có khả năng làm trạng ngữ (chủ yếu là trạng ngữ cách thức và trạng ngữ thời gian).
Khi làm thành phần phụ của cụm từ, thành ngữ xuất hiện với tư cách là bổ ngữ, là định ngữ. Sau đây là một số ví dụ thành ngữ đảm nhận các chức vụ cú pháp trong phát ngôn – Lên voi xuống chó là quy luật thường tình của cuộc sống. -> làm chủ ngữ – Dần //chân yếu tay mềm lắm. Hắn thà nhịn đói mà ở cửa ở nhà thì còn hơn.
-> làm vị ngữ – Con giun xéo mãi cũng quằn, tôi không còn nhịn được nữa, tiền học tháng này còn chưa đưa cho người ta -> làm trạng ngữ chỉ cách thức. – Người ta thăm hỏi nhau, kiêng mắng chó chửi mèo, không hốt rác, rồi trồng nêu, vạch vôi vẽ cung tên, chẳng qua chỉ để hi vọng năm sắp tới, bản thân mình, gia đình mình, làng nước mình sẽ khôn ngoan hơn, khoẻ mạnh hơn, sinh sản nhiều hơn ->làm bổ ngữ – Chị Hai đôi khi nhìn tôi chép miệng: “Chỉ sợ thằng Hoài vô môi trường đó dễ sa ngã, phải chi nó chịu học cho giỏi rồi tìm một nghề ăn chắc mặc bền như em. -> làm định ngữ Tóm lại, về mặt ngữ pháp, thành ngữ là đơn vị tương đương với từ, dùng để cấu tạo các đơn vị ngôn ngữ lớn hơn. Về nội dung ngữ nghĩa Có thể nhận thấy trong các công trình nghiên cứu về từ vựng, ngữ pháp tiếng Việt nói chung, về thành ngữ tiếng Việt nói riêng, các nhà ngôn ngữ học Việt Nam đã đi đến một số điểm khá thống nhất căn bản về nghĩa của thành ngữ.
Phần lớn các tác giả trong những công trình nghiên cứu về từ vựng - ngữ nghĩa nói chung đều ghi nhận nghĩa đặc trưng nổi bật về nghĩa của thành ngữ là tính chỉnh thể hình tượng và tính hàm súc, bóng bẩy, gợi cảm cao. Mỗi thành ngữ là một đơn vị hoàn chỉnh về mặt ý nghĩa, diễn đạt tương đối trọn vẹn một khái niệm hay một hiện tượng trong đời sống xã hội. Nghĩa của một thành ngữ không phải là sự cộng gộp ý nghĩa của các yếu tố trong thành ngữ một cách máy móc. Chẳng hạn, nghĩa của thành ngữ “treo đầu dê, bán thịt chó” không phải đề cập đến việc mua bán mà ý nghĩa của nó là nói đến sự không thống nhất giữa hình thức và nội dung, từ đó nâng lên một bước có thể hiểu đó là một hành động giả dối, lừa đảo.
Hay nghĩa của thành ngữ “mẹ tròn con vuông” không thể hiểu một cách đơn giản là mẹ hình tròn, con hình vuông. Theo quan niệm của người xưa “tròn” là ý niệm diễn tả Trời, “vuông” là ý niệm diễn tả Đất, người xưa cho rằng trời thì tròn và đất thì vuông, con người sinh ra là do Trời sinh và Đất dưỡng. Con người là sản phẩm của Trời Đất, nên sản phẩm đó được toàn vẹn là do trời đất. Bởi vậy “mẹ tròn con vuông” là lời chúc dành cho cả người mẹ và con đều khỏe mạnh và an toàn, không bị rủi ro gì cả.
Trong thành ngữ, các yếu tố tham gia có giá trị như một nét tín hiệu thẩm mỹ. Nghĩa của thành ngữ rút ra trên cơ sở khái quát hóa, trừu tượng hóa của tín hiệu này. Bản chất của sự việc đưa ra mới là nghĩa của thành ngữ. Vì vậy, cùng một nghĩa, có thể có nhiều thành ngữ khác nhau.
Ví dụ như các thành ngữ: chó ngáp phải ruồi; buồn ngủ gặp chiếu manh; chuột sa chĩnh gạo;v.