Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu; Chương 2: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu; Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận. 3 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài a) Tài nguyên Tài nguyên được hiểu một cách đơn giản là tất cả các dạng vật chất, tri thức được sử dụng để tạo ra của cải vật chất, hoặc tạo ra giá trị sử dụng mới của con người. Tài nguyên là đối tượng sản xuất của con người.
Xã hội loài người càng phát triển, số loại hình tài nguyên và số lượng mỗi loại tài nguyên được con người khai thác ngày càng tăng. Người ta phân loại tài nguyên như sau: - Theo quan hệ với con người: tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên xã hội. - Theo phương thức và khả năng tái tạo: tài nguyên tái tạo, tài nguyên không tái tạo. - Theo bản chất tự nhiên: tài nguyên nước, tài nguyên đất, tài nguyên rừng, tài nguyên biển, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên năng lượng, tài nguyên khí hậu cảnh quan, di sản văn hoá kiến trúc, tri thức khoa học và thông tin.
Trong nghiên cứu này, khái niệm tài nguyên được hiểu theo bản chất tự nhiên. b) Sử dụng hợp lý tài nguyên Sử dụng hợp lí tài nguyên là hình thức sử dụng vừa đáp ứng nhu cầu sử dụng tài nguyên của xã hội hiện tại, vừa bảo đàm duy trì lâu dài các nguồn tài nguyên cho các thê hệ con cháu mai sau. Như vậy, sử dụng hợp lý tài nguyên chính là đáp ứng mục tiêu phát triển bền vững. Sử dụng hợp lý tài nguyên phải đáp ứng hiệu quả về mặt kinh tế; phải đạt được sự công bằng trong phân phối, cung cấp đầy đủ các dịch vụ xã hội.
Đồng thời, sử dụng hợp lý tài nguyên phải bền vững về môi trường, duy trì nền tảng nguồn lực ổn định, tránh khai thác quá mức các hệ thống nguồn lực tái sinh hay những vận động tiềm ẩn của môi trường và việc khai thác các nguồn lực không tái tạo không vượt quá mức độ đầu tư cho sự thay thế một cách đầy đủ. Điều này bao gồm việc duy trì sự đa dạng sinh học, sự ổn định khí quyển và các hoạt động sinh thái khác mà thường không được coi như các nguồn lực kinh tế. c) Bảo vệ môi trường Bảo vệ môi trường là những hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp, cải thiện môi trường, đảm bảo cân bằng sinh thái, ngăn chặn, khắc phục các 4 hậu quả xấu do con người và thiên nhiên gây ra cho môi trường, khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên. Nhà nước bảo vệ lợi ích quốc gia về tài nguyên và môi trường, thống nhất quản lý bảo vệ môi trường trong cả nước, có chính sách đầu tư, bảo vệ môi trường, có trách nhiệm tổ chức thực hiện việc giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học và công nghệ, phổ biến kiến thức khoa học và pháp luật về bảo vệ môi trường.
Điều 4, Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam năm 2014 ghi rõ: - Bảo vệ môi trường là trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi cơ quan, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân. - Bảo vệ môi trường gắn kết hài hòa với phát triển kinh tế, an sinh xã hội, bảo đảm quyền trẻ em, thúc đẩy giới và phát triển, bảo tồn đa dạng sinh học, ứng phó với biến đổi khí hậu để bảo đảm quyền mọi người được sống trong môi trường trong lành. - Bảo vệ môi trường phải dựa trên cơ sở sử dụng hợp lý tài nguyên, giảm thiểu chất thải. - Bảo vệ môi trường quốc gia gắn liền với bảo vệ môi trường khu vực và toàn cầu; bảo vệ môi trường bảo đảm không phương hại chủ quyền, an ninh quốc gia.
- Bảo vệ môi trường phải phù hợp với quy luật, đặc điểm tự nhiên, văn hóa, lịch sử, trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. - Hoạt động bảo vệ môi trường phải được tiến hành thường xuyên và ưu tiên phòng ngừa ô nhiễm, sự cố, suy thoái môi trường. - Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng thành phần môi trường, được hưởng lợi từ môi trường có nghĩa vụ đóng góp tài chính cho bảo vệ môi trường. - Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân gây ô nhiễm, sự cố và suy thoái môi trường phải khắc phục, bồi thường thiệt hại và trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật.
d) Chiến lược bảo vệ môi trường: Chiến lược bảo vệ môi trường là bộ phận không thể tách rời của Chiến lược phát triển kinh tế xã hội, là cơ sở quan trọng bảo đảm phát triển bền vững đất nước. Phát triển kinh tế phải kết hợp chặt chẽ, hài hoà với phát triển xã hội và bảo vệ môi trường. Đầu tư bảo vệ môi trường là đầu tư cho phát triển bền vững. 5 Chiến lược bảo vệ môi trường cấp tỉnh bao gồm các gải pháp mang tính chiến lược nhằm hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm, khắc phục tình trạng suy thoái và cải thiện chất lượng môi trường; giải quyết một bước cơ bản tình trạng suy thoái môi trường ở các khu công nghiệp, các khu dân cư thành thị và nông thôn; cải tạo và xử lý ô nhiễm môi trường trên các dòng sông, hồ ao, kênh mương.
Nâng cao khả năng phòng tránh và hạn chế tác động xấu của thiên tai, của sự biến động khí hậu bất lợi đối với môi trường; ứng cứu và khắc phục có hiệu quả sự cố ô nhiễm môi trường do thiên tai gây ra. Khai thác và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo đảm cân bằng sinh thái ở mức cao, bảo tồn thiên nhiên và giữ gìn đa dạnh sinh học. Khái quát đặc điểm tài nguyên thiên nhiên tỉnh Lào Cai 1. Vị trí địa lý và điều kiện địa hình a) Vị trí địa lý: Tỉnh Lào Cai phía bắc giáp với Vân Nam (Trung Quốc), phía Nam giáp tỉnh Yên Bái với chiều dài 203 km, phía Đông giáp với tỉnh Hà Giang với chiều dài 90 km, phía Tây giáp với tỉnh Lai Châu với chiều dài 106 km.
Như vậy, Lào Cai nằm trên trục phát triển kinh tế dọc theo đới sông Hồng, nối liền với các tỉnh đồng bằng và trung du Bắc Bộ bằng cả giao thông đường bộ, đường sắt và đường thuỷ, có điều kiện thông thương buôn bán, thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước. b) Điều kiện địa hình: Địa hình của Lào Cai gồm nhiều đồi núi và thung lũng với độ chia cắt sâu, chia cắt ngang, độ dốc rất lớn. Nơi thấp nhất là các huyện Bát Xát, Bảo Thắng, Bảo Yên, có độ cao trung bình là 100 m. Nơi cao nhất là SaPa (1.600m), Mường Khương (1.
Lào Cai là tỉnh có nhiều đỉnh núi cao như: Phu Ta Leng - 3096m, Lang Lung - 2913m, Tả Giàng Phìn - 2850m., đặc biệt Phan Xi Păng là đỉnh cao nhất cả nước 3143m. Sự phân hoá về địa hình dẫn đến sự phân hoá về tài nguyên khí hậu, thổ nhưỡng, thảm thực vật,. cả theo chiều thẳng đứng và theo chiều ngang. Tài nguyên đất Do đặc điểm cấu trúc địa chất, địa hình phân hoá phức tạp, khí hậu mang tính đa dạng, thảm thực vật không đồng nhất và chịu sự tác động mạnh mẽ của con người nên tài nguyên đất tỉnh Lào Cai rất phong phú và đa dạng, với 10 nhóm đất chính: đất mùn trên núi, đất mùn - vàng đỏ trên núi, đất đỏ vàng, đất đỏ vàng bị biến 6 đổi do trồng lúa, đất đen, đất bạc màu, đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ, đất phù sa, đất lầy, đất xói mòn mạnh trơ xỏi đá.
Bản đồ địa hình tỉnh Lào Cai Trong 10 nhóm đất, nhóm đất feralit chiếm ưu thế và phân bố rộng khắp, chất lượng đất khá đồng đều trong toàn tỉnh. Loại đất này có độ phì nhiêu tự nhiên từ trung bình đến khá. Lớp phủ thổ nhưỡng thường chịu ảnh hưởng của các nguồn cacbonnat từ các núi đá vôi do chúng phủ lên, nên nhìn chung đất khá tơi xốp, ít chua và có sức duy trì độ màu mỡ bền lâu hơn so với nhiều vùng đất tương ứng của các lãnh thổ khác. Ngoài ra, nhóm đất mùn - vàng đỏ, đất dốc tụ và đất phù sa là những nhóm phổ biến và chiếm ưu thế nhất.
Đồng thời cũng là những nhóm đất có tầng dầy khá, hàm lượng các chất dinh dưỡng, độ phì cao phù hợp với nhiều loại 7 cây trồng, do đó cũng là những nhóm chịu tác động và bị biến đổi mạnh mẽ nhất dưới các hoạt động của con người. Tài nguyên nước a) Tài nguyên nước mặt: Tài nguyên nước mặt của Lào Cai chủ yếu tập trung vào 4 sông lớn là: sông Hồng dài 120 km, sông Chảy dài 124 km, sông Nậm Mu 122 km, Ngòi Nhu 68 km. Các sông này là những nguồn cung cấp nước chủ yếu cho các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội cũng như sinh hoạt của con người, là nơi tiếp nhận chủ yếu các chất thải (đặc biệt là nước thải), đồng thời bồi đắp phù sa tạo nên các đồng bằng phù sa mầu mỡ. Nhìn chung, trữ lượng nước mặt tại Lào Cai phân bố không đều theo cả không gian và thời gian phụ thuộc vào địa hình, mùa mưa, bề mặt đệm.
Mùa mưa là thời kỳ thừa nước, chiếm 70 - 85% lượng mưa cả năm. Vào mùa khô khả năng khai thác tối đa là 0,9 tỷ m3, nhưng mới sử dụng được 55,8 triệu m3 bằng 6,2% khả năng nên ở đây thường xuyên xảy ra tình trạng thiếu nước làm cho hàng vạn người thiếu nước dùng cho sinh hoạt, đặc biệt là các đồng bào vùng cao (có tới 106/180 xã vùng cao thiếu nước sinh hoạt), hàng ngàn ha đất nông nghiệp bị bỏ hoang do không có nước để canh tác như ở Văn Bàn, Mường Khương. b) Tài nguyên nước dưới đất: Tài nguyên nước dưới đất của Lào Cai khá phong phú, phần lớn nước dưới đất tồn tại ở dạng nước ngầm với trữ lượng khoảng 30 triệu m3 (trong đó trữ lượng động là 4,448 triệu m3). Một trữ lượng nhỏ được phun lên bề mặt dưới dạng suối nước khoáng, nước nóng.
Toàn tỉnh có 4 nguồn nước khoáng, nước nóng: nước sunphát, sunphát cacbonat, nước nóng silic, nước nóng sunphua hydro với nhiệt độ cao hơn 400C và độ khoáng thấp khoảng 0,92 0 - 2,89 g/lít. Tài nguyên khí hậu Do phân hóa về độ cao địa hình, tài nguyên khí hậu của Lào Cai phân hóa thành các đai và tiểu vùng khí hậu: Đai khí hậu nhiệt đới (< 700 m, 20 - 220C), đai khí hậu á nhiệt đới (700 m - 1.800 m, 18 - 200C), đai khí hậu ôn đới (> 1.