phần mở đầu, kết luận, mục lục, phụ lục, kết cấu của luận văn gồm 3 chương: Chương một trình bảy Khải quát về nghéo đói và Dịch vụ tải chinh cho hộ ughéo ở Việt Nam, khái quát về giới thiệu về sự phát triển của khu vực tài chính mông thôn và sự tham gia của các thể chế tài chính trong khu vực tài chính nông, thôn Việt Nam. Chương hai trình bày Thực trạng cung cấp địch vụ tài chính nông thôn ở dan tộc miễn núi phía Bắc vói kết quả nghiên cứu điểm tại Yên Bái và Điện Biện Trong phân nảy, phân tích về sự tiếp cận, nhu cầu, sự phủ hợp và tác động của dịch vụ tài chính nông thôn, phân tích các yến tổ ảnh hưởng (bao gồm oác khó khăn và thuận. lợi) trong việc tiếp cận đến các địch vụ tải chính nông thôn của người dân tộc thiệu số. Chương ba đưa ra các Để xuất nâng cao khả năng tiếp cận cáo dịch vụ tài chỉnh đổi với hộ nghỏo ở đân tôo miễn núi phía Bắc MO DAU 1.
Tính cấp thiết của đề tài: Xóa đói giảm nghèo là một trong những mục tiêu và nội dung quan trọng, 1u tiên hàng dau trong các mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam. Trong thời kỷ tiếp tục đổi mới, đây mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập, vận để xóa đói giảm nghèo cảng trở nên quan trong, gdp phản tăng trưởng, kinh tế cao và ổn định, thục hiện công bằng xã hội, cải thiện dời sống nhàn đân, lành mạnh hóa xã hội. Tuy vậy, thành tựu của công tác xoá đói giảm nghèo không đồng đên giữa các vùng, các đân tộc, nhất là tình trạng đói nghèo đáng lo ngại của người dân lộc thiểu số. Mặc đủ các số liệu dược sit dung Mim luận cử và mức độ đánh giả có khác nhau song mọi người đền đễ đàng nhận thảy rằng là tốc độ giảm.
nghèo của phan lớn các đân tộc thiểu số, thường là các đân tộc nhỏ, sinh sống tại các vùng có diễu kiên địa lý và khí hậu khó khăn, chậm hơn dân tộc Kinh và một số dan tộc kháo. Chính vì vậy, tỷ trọng người dân tộc thiếu số trong số người nghèo ngày gảng lăng, có thể lên tới 37% vào năm 2010 nếu không có cú nỗ lực đặc biệt dỗi với người đân tộc thiểu số (WB, 2003). Thực té này đòi hỏi cần xem xét và điều chính sự tiếp cận về chính sách xoá đói giảm nghèo đối với người dân tộc thiểu số trong thời gian lới Kinh nghiệm của nhiễu nước trên thế giỏi cũng cho thấy tăng cường sự tiếp cận đến cac dich vụ tải chính ví mồ là một biện pháp góp phẩn ting thu nhập cho người din (Doãn 1Iữu Tuệ, 2005).'1ừ những năm 90 của thế kỷ trước, Việt Nam đã cải cách hệ thống ngân hàng và quan tâm đến việc cung cấp tín dụng cho người nghèo. Đối tượng nầy dược coi là thiếu vốn sản xuất và citưa tiếp cận được thị trường lầi chính với lãi suất thị trường (Ngân hàng va Lin dụng thương mại), chỉ có Tội.
bộ phận tiếp cận được thị trường lài chính với lãi suất ưu dai Gir Ngan hang chính sách xã hội). Ngoài dich vụ tín dụng thi hộ nghèo chưa sử dụng hết những, dịch vụ của nhà cung cấp. Tính cấp thiết của đề tài: Xóa đói giảm nghèo là một trong những mục tiêu và nội dung quan trọng, 1u tiên hàng dau trong các mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam. Trong thời kỷ tiếp tục đổi mới, đây mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập, vận để xóa đói giảm nghèo cảng trở nên quan trong, gdp phản tăng trưởng, kinh tế cao và ổn định, thục hiện công bằng xã hội, cải thiện dời sống nhàn đân, lành mạnh hóa xã hội.
Tuy vậy, thành tựu của công tác xoá đói giảm nghèo không đồng đên giữa các vùng, các đân tộc, nhất là tình trạng đói nghèo đáng lo ngại của người dân lộc thiểu số. Mặc đủ các số liệu dược sit dung Mim luận cử và mức độ đánh giả có khác nhau song mọi người đền đễ đàng nhận thảy rằng là tốc độ giảm. nghèo của phan lớn các đân tộc thiểu số, thường là các đân tộc nhỏ, sinh sống tại các vùng có diễu kiên địa lý và khí hậu khó khăn, chậm hơn dân tộc Kinh và một số dan tộc kháo. Chính vì vậy, tỷ trọng người dân tộc thiếu số trong số người nghèo ngày gảng lăng, có thể lên tới 37% vào năm 2010 nếu không có cú nỗ lực đặc biệt dỗi với người đân tộc thiểu số (WB, 2003).
Thực té này đòi hỏi cần xem xét và điều chính sự tiếp cận về chính sách xoá đói giảm nghèo đối với người dân tộc thiểu số trong thời gian lới Kinh nghiệm của nhiễu nước trên thế giỏi cũng cho thấy tăng cường sự tiếp cận đến cac dich vụ tải chính ví mồ là một biện pháp góp phẩn ting thu nhập cho người din (Doãn 1Iữu Tuệ, 2005).'1ừ những năm 90 của thế kỷ trước, Việt Nam đã cải cách hệ thống ngân hàng và quan tâm đến việc cung cấp tín dụng cho người nghèo. Đối tượng nầy dược coi là thiếu vốn sản xuất và citưa tiếp cận được thị trường lầi chính với lãi suất thị trường (Ngân hàng va Lin dụng thương mại), chỉ có Tội. bộ phận tiếp cận được thị trường lài chính với lãi suất ưu dai Gir Ngan hang chính sách xã hội). Ngoài dich vụ tín dụng thi hộ nghèo chưa sử dụng hết những, dịch vụ của nhà cung cấp.
Tính cấp thiết của đề tài: Xóa đói giảm nghèo là một trong những mục tiêu và nội dung quan trọng, 1u tiên hàng dau trong các mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam. Trong thời kỷ tiếp tục đổi mới, đây mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập, vận để xóa đói giảm nghèo cảng trở nên quan trong, gdp phản tăng trưởng, kinh tế cao và ổn định, thục hiện công bằng xã hội, cải thiện dời sống nhàn đân, lành mạnh hóa xã hội. Tuy vậy, thành tựu của công tác xoá đói giảm nghèo không đồng đên giữa các vùng, các đân tộc, nhất là tình trạng đói nghèo đáng lo ngại của người dân lộc thiểu số. Mặc đủ các số liệu dược sit dung Mim luận cử và mức độ đánh giả có khác nhau song mọi người đền đễ đàng nhận thảy rằng là tốc độ giảm.
nghèo của phan lớn các đân tộc thiểu số, thường là các đân tộc nhỏ, sinh sống tại các vùng có diễu kiên địa lý và khí hậu khó khăn, chậm hơn dân tộc Kinh và một số dan tộc kháo. Chính vì vậy, tỷ trọng người dân tộc thiếu số trong số người nghèo ngày gảng lăng, có thể lên tới 37% vào năm 2010 nếu không có cú nỗ lực đặc biệt dỗi với người đân tộc thiểu số (WB, 2003). Thực té này đòi hỏi cần xem xét và điều chính sự tiếp cận về chính sách xoá đói giảm nghèo đối với người dân tộc thiểu số trong thời gian lới Kinh nghiệm của nhiễu nước trên thế giỏi cũng cho thấy tăng cường sự tiếp cận đến cac dich vụ tải chính ví mồ là một biện pháp góp phẩn ting thu nhập cho người din (Doãn 1Iữu Tuệ, 2005).'1ừ những năm 90 của thế kỷ trước, Việt Nam đã cải cách hệ thống ngân hàng và quan tâm đến việc cung cấp tín dụng cho người nghèo. Đối tượng nầy dược coi là thiếu vốn sản xuất và citưa tiếp cận được thị trường lầi chính với lãi suất thị trường (Ngân hàng va Lin dụng thương mại), chỉ có Tội.
bộ phận tiếp cận được thị trường lài chính với lãi suất ưu dai Gir Ngan hang chính sách xã hội). Ngoài dich vụ tín dụng thi hộ nghèo chưa sử dụng hết những, dịch vụ của nhà cung cấp. DANH MỤC HÌNH VẼ ‘Trang Hình I.L - Mối quan hệ nhân qủa giữa xöa dói giảm nghèo với bảo 18 vệ môi trường và phát triển bền vững.2 — Vòng luần quấn của nghèo đói Hình 1.3 - Nghiên cứu nâng cao năng lực thị trường cho người nghèo Hình L4 - Mô hình phân tích giảm nghèa bên vững theo hướng tiếp cận thị rường và khuyến khích thoát nghèo Hình 1.5 - Mô phỏng các nguồn vốn sinh kế Hình L.7 - Phương pháp phân tich SWOT Hình 2.1 - Thi phan tai chính hộ ở Yên Bái Tình 2.2 - Thị hẩn tải chính hộ ở Điện Biên Hình 2.3 - Xác định hộ nghèo để nghị vay van NHCSXH Hình 244 - Số hộ dư nợ của NHNG&PTNT Yên Bái và Điện Biên Hình 2.5 - Số lượng hộ DTTS vay vốn hàng năm của NHCSXH và NHNo&PTNT Hình 3.L - Mỗi quan hệ trong mô hinh 6 TKR VV Hinh 3.2 Mô hình Tổ Tiết kiệm & Vay vốn MO DAU 1. Tính cấp thiết của đề tài: Xóa đói giảm nghèo là một trong những mục tiêu và nội dung quan trọng, 1u tiên hàng dau trong các mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam.
Trong thời kỷ tiếp tục đổi mới, đây mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập, vận để xóa đói giảm nghèo cảng trở nên quan trong, gdp phản tăng trưởng, kinh tế cao và ổn định, thục hiện công bằng xã hội, cải thiện dời sống nhàn đân, lành mạnh hóa xã hội. Tuy vậy, thành tựu của công tác xoá đói giảm nghèo không đồng đên giữa các vùng, các đân tộc, nhất là tình trạng đói nghèo đáng lo ngại của người dân lộc thiểu số. Mặc đủ các số liệu dược sit dung Mim luận cử và mức độ đánh giả có khác nhau song mọi người đền đễ đàng nhận thảy rằng là tốc độ giảm. nghèo của phan lớn các đân tộc thiểu số, thường là các đân tộc nhỏ, sinh sống tại các vùng có diễu kiên địa lý và khí hậu khó khăn, chậm hơn dân tộc Kinh và một số dan tộc kháo.
Chính vì vậy, tỷ trọng người dân tộc thiếu số trong số người nghèo ngày gảng lăng, có thể lên tới 37% vào năm 2010 nếu không có cú nỗ lực đặc biệt dỗi với người đân tộc thiểu số (WB, 2003). Thực té này đòi hỏi cần xem xét và điều chính sự tiếp cận về chính sách xoá đói giảm nghèo đối với người dân tộc thiểu số trong thời gian lới Kinh nghiệm của nhiễu nước trên thế giỏi cũng cho thấy tăng cường sự tiếp cận đến cac dich vụ tải chính ví mồ là một biện pháp góp phẩn ting thu nhập cho người din (Doãn 1Iữu Tuệ, 2005).'1ừ những năm 90 của thế kỷ trước, Việt Nam đã cải cách hệ thống ngân hàng và quan tâm đến việc cung cấp tín dụng cho người nghèo.