Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý luận của nghiên cứu. Chương 3: Phƣơng pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận Chương 5: Kết luận và kiến nghị c 3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐÃ THỰC HIỆN Ở NƢỚC NGOÀI Để chuẩn bị cho bƣớc nghiên cứu tiếp theo của đề tài này liên quan đến việc chọn biến và đặt giả thuyết nghiên cứu.
Bài báo cáo xin đƣợc trình bày tóm tắt các biến đƣợc sử dụng trong các nghiên cứu trƣớc đó cũng nhƣ các kết quả đạt đƣợc, từ đó sẽ làm nền tảng và cơ sở cho nghiên cứu này thực hiện. Do có rất nhiều các nghiên cứu nƣớc ngoài đã đƣợc thực hiện liên quan đến việc xây dựng mô hình dự đoán ý kiến kiểm toán, do vậy mà trong phần này chỉ có thể tóm tắt một số nghiên cứu chính mà tác giả cảm thấy gần gũi với nội dung nghiên cứu của mình. Trình tự trình bày các nghiên cứu này sẽ đƣợc sắp xếp theo thứ tự thời gian từ trƣớc đến sau. Cụ thể gồm: Nghiên cứu đầu tiên có thể kể đến là của Mutchler (1985).
Ông đã sử dụng phƣơng pháp phân tích biệt số để dự đoán ý kiến kiểm toán về giả định hoạt động liên tục. Các biến tài chính đƣợc sử dụng trong nghiên cứu của ông bao gồm 6 tỷ số tài chính đƣợc sắp xếp theo từng nhóm đó là: (1)Tỷ số dòng tiền/tổng nợ phải trả;(2) tỷ số tài sản ngắn hạn/nợ ngắn hạn; (3)tỷ số tài sản thuần/tổng nợ phải trả; (4)tỷ số nợ dài hạn trên tổng tài sản; (5) tỷ số tổng nợ trên tổng tài sản; (6) tỷ số lợi nhuận trƣớc thuế/doanh thu thuần. Ngoài việc sử dụng biến tỷ số tài chính, nghiên cứu của Mutchler còn sử dụng một số biến phi tài chính để đƣa vào nghiên cứu của mình, đó là biến thông tin tốt và thông tin xấu, biến ý kiến kiểm toán năm trƣớc. Kết quả nghiên cứu đƣợc Mutchler đƣa ra là biến tỷ số tài chính và biến ý kiến kiểm toán năm trƣớc có khả năng dự đoán cao nhất với tỷ lệ dự đoán đúng là 89.9% đối với mẫu ban đầu (gồm 238 công ty) và tỷ lệ này sau đó đã giảm xuống còn 83% đối với mẫu chỉ gồm các công ty nhận đƣợc ý kiến không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần năm đầu tiên.
Đối với biến tỷ số tài chính kết hợp với biến biểu hiện thông tin tốt và thông tin xấu thì mô hình của Mutchler có khả năng đoán đúng 80. c 4 Mutchler (1986) tiếp tục nghiên cứu về mô hình này với số biến đƣợc mở rộng thêm, bao gồm biến về quy mô công ty và biến về loại công ty kiểm toán, cụ thể trong nghiên cứu này, Mutchler đã phân loại công ty kiểm toán thành hai loại là Big Eight và Non Big Eight. Kết quả của nghiên cứu này cho thấy, những công ty nhỏ có tình hình tài chính sa sút thì các công ty kiểm toán không phải là Big Eight thƣờng không đƣa ra ý kiến về giả định hoạt động liên tục. Tiếp theo, Dopuch và cộng sự (1987) đã nghiên cứu mô hình sử dụng phƣơng pháp xác suất căn cứ vào biến tài chính và biến thị trƣờng để dự đoán kiểm toán viên có đƣa ra ý kiến chấp nhận toàn phần hay không.
Các biến tài chính đƣợc đƣa vào phân tích trong nghiên cứu này bao gồm: (1)Biến sự thay đổi tổng nợ/sự thay đổi tổng tài sản; (2)sự thay đổi tổng phải thu/sự thay đổi tổng tài sản; (3)sự thay đổi hàng tồn kho/sự thay đổi tổng tài sản;(4) biến giá trị sổ sách của tổng tài sản; (5) biến lãi,lỗ năm hiện tại. Các biến thị trƣờng đƣợc sử dụng trong nghiên cứu của Dopuch và các cộng sự bao gồm: (1) thời gian niêm yết; (2) sự thay đổi chỉ số beta; (3) sự thay đổi của độ lệch giữa giá trị thặng dƣ và lợi nhuận; (4) sự thay đổi lợi nhuận công ty trừ đi lợi nhuận trung bình ngành. Kết quả cuối cùng của nghiên cứu cho thấy biến quan trọng nhất trong việc dự đoán ý kiến kiểm toán theo mô hình xác suất là biến giả lợi nhuận của doanh nghiệp năm hiện tại, biến sự thay đổi lợi nhuận công ty trừ đi lợi nhuận trung bình ngành và biến tỷ số tài chính tổng nợ trên tổng tài sản. Keasy et al (1988) đã phát hiện ra rằng, khẳ năng một công ty nhận đƣợc đƣợc báo cáo kiểm toán có ý kiến dạng không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần lớn hơn đáng kể nếu công ty đó đƣợc các công ty kiểm toán lớn thực hiện, công ty đó có ít ban điều hành, có các khoản vay đƣợc đảm bảo, và có sự chậm trễ giữa báo cáo kiểm toán đƣợc phát hành so với năm tài chính kết thúc.
Spathis và các cộng sự (2003) đã tiến hành cuộc thử nghiệm mở rộng bằng việc kết hợp giữa các thông tin tài chính và phi tài chính có thể đƣợc sử dụng để tăng cƣờng khả năng phân biệt giữa việc phát hành báo cáo kiểm toán với ý kiến chấp nhận toàn phần hay ý kiến không phải là chấp nhận toàn phần. Phƣơng pháp nghiên cứu đƣợc Spathis và các cộng sự sử dụng là phƣơng pháp phân loại c 5 UTADIS sau đó ông đã sử dụng kết quả của phƣơng pháp nghiên cứu này để so sánh với kết quả của mô hình phân tích đa biến khác nhƣ phƣơng pháp hồi quy tuyến tính. Nghiên cứu của ông đã chỉ ra rằng biến tài chính có khả năng phân biệt ý kiến kiểm toán cao nhất là tỷ số lợi nhuận/tổng tài sản; doanh thu/tổng tài sản và vốn lƣu chuyển/tổng tài sản. Biến phi tài chính có khả năng phân biệt ý kiến kiểm toán đó là thông tin về vụ kiện tụng của doanh nghiệp.
Kết quả của sự so sánh giữa các phƣơng pháp nghiên cứu cho thấy rằng, phƣơng pháp phân loại UTADIS có khả năng dự đoán cao nhất với tỷ lệ đoán đúng 80%. Đến năm 2006, Caramanis và spathis đã tiếp tục phát triển mô hình dự đoán ý kiến kiểm toán gồm bốn biến tỷ số tài chính và một số biến phi tài chính mới gồm đặc điểm của công ty kiểm toán và công ty khách hàng. Spathis và cộng sự tiếp tục sử dụng phƣơng pháp phân tích Logistic regerssion để nghiên cứu kết quả dự đoán khi thêm một số biến mới, sau đó so sánh kết quả này với phƣơng pháp sử dụng T- Test và chi bình phƣơng để kiểm định mối tƣơng quan giữa các biến độc lập và ý kiến kiểm toán. Kết quả là trong các biến đƣợc chọn đƣa vào mô hình thì biến có khả năng dự đoán tốt nhất ý kiến kiểm toán là lợi nhuận hoạt động/tổng tài sản; tài sản ngắn hạn/nợ ngắn hạn với xác suất dự đoán đúng của mô hình xấp xỉ 90%.
Ngoài những nghiên cứu đã đƣợc kể trên còn có rất nhiều các nghiên cứu nƣớc ngoài liên quan cũng đã đƣợc tiến hành để tìm hiểu mức độ dự đoán của các nhân tố đến dạng ý kiến kiểm toán. Một số nghiên cứu khác liên quan đó là, Nghiên cứu của Pasiouras và các cộng sự (2006) với phƣơng pháp phân tích UTADIS. Kết quả của phƣơng pháp phân tích này đã đƣa ra đƣợc một mô hình dự đoán ý kiến kiểm toán với tỷ lệ đoán đúng đạt đƣợc là 70%, trong đó phƣơng pháp nghiên cứu UTADIS đã chỉ ra đƣợc biến có đóng góp nhiều nhất vào mô hình dự đoán là biến ROA, còn phƣơng pháp phân tích MHDIS đã chỉ ra hai biến có khả năng dự đoán cao nhất là biến ROA và biến tỷ số thanh toán. Đến năm 2007, Gaganis và các cộng sự lại tiếp tục nghiên cứu mô hình dự đoán dựa vào các biến tỷ số tài chính đƣợc xắp xếp theo từng mặt tình hình tài chính nhƣ: khả năng thanh toán, khả năng sinh lời, đòn bẩy tài chính, sự phát triển về quy mô và hai biến phi tài chính.
Phƣơng pháp đƣợc sử dụng trong nghiên cứu này là hệ số “láng giềng gần nhất K” (nearest neighbor), c 6 phân tích biệt số và phân tích hồi quy. Kết quả của nghiên cứu là khả năng dự đoán của mô hình “láng giềng gần nhất K” có khả năng dự đoán cao nhất với xác suất đoán đúng là 70% trong khi hai phƣơng pháp còn lại thì tỷ lệ đự đoán đúng giảm xuống còn 60%.2 CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐÃ THỰC HIỆN TRONG NƢỚC Do lĩnh vực nghiên cứu thực nghiệm vẫn chƣa đƣợc thực hiện phổ biến tại Việt Nam, đặc biệt là trong lĩnh vực kiểm toán. Chính vì vậy mà các nghiên cứu liên quan đến đề tài này trong nƣớc vẫn còn hạn chế về số lƣợng. Cụ thể là trong nƣớc, chỉ có đề tài mới liên quan đến lĩnh vực này và đƣợc thực hiện vào năm 2012 do học viên cao học kinh tế khóa 19 Nguyễn thiên Tú hoàn thành với tên đề tài là nghiên cứu thực nghiệm về quan hệ giữa ý kiến kiểm toán đối với báo cáo tài chính của các công ty niêm yết tại Việt Nam giai đoạn 2006-2010 và tỷ số tài chính, nghiên cứu đã sử dụng phƣơng pháp phân tích biệt số với 8 tỷ số tài chính thuộc 5 nhóm tỷ số gồm, nhóm tỷ số phân tích về khả năng thanh toán; khả năng sinh lời; khả năng hoạt động; phân tích cơ cấu tài chính và cuối cùng là nhóm tỷ số phân tích sự phát triển về quy mô.
Kết quả của nghiên cứu là có 4 tỷ số tài chính có khả năng dự đoán công ty đó sẽ nhận đƣợc ý kiến kiểm toán dạng nào, cụ thể là tỷ số thể hiện sự phát triển về quy mô, khả năng thanh toán, khả năng sinh lời và khả năng hoạt động của công ty. Trong 4 tỷ số này thì có 2 tỷ số có đóng góp quan trọng nhất cho mô hình dự đoán là tỷ số phản ánh khả năng hoạt động và tỷ số phản ánh khả năng thanh toán. c 7 Kết luận chƣơng 1 Với lý do là tại Việt Nam, các nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến việc xây dựng mô hình dự đoán ý kiến kiểm toán còn chƣa nhiều, đặc biệt là các mô hình dự đoán áp dụng riêng cho các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực xây dựng và bất động sản. Chính vì vậy mà nghiên cứu này đã lựa chọn các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực xây dựng và bất động sản làm đối tƣợng nghiên cứu để qua đó có thể xây dựng đƣợc mô hình dự đoán ý kiến kiểm toán báo cáo tài chính dành riêng cho các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực này.