MỞ ĐẦU Đa dạng sinh học (ĐDSH) là thuật ngữ chỉ sự phong phú của tất cả các dạng sống trên trái đất cùng với các quá trình sinh thái, tiến hoá để duy trì chúng. ĐDSH có giá trị lớn đối với con người, là nguồn thức ăn, thuốc chữa bệnh, cung cấp gỗ củi và các sản phẩm khác cho nhiều ngành kinh tế, là nguồn giống vô tận cho sản xuất nông lâm nghiệp 13. ĐDSH là yếu tố quan trọng đối với việc duy trì các quá trình sinh thái cơ bản, tạo ra và giữ vững cân bằng sinh thái tự nhiên, tạo môi trường sống ổn định và bền vững cho con người. Mặc dù giá trị của ĐDSH là rất lớn và không thể thay thế, nhưng đã và đang bị suy thoái trên trái đất.
Khu bảo tồn thiên nhiên và di tích (BTTN&DT) Vĩnh Cửu được hình thành trên cơ sở sát nhập diện tích của 3 lâm trường thuộc tỉnh Đồng Nai là Mã Đà, Hiếu Liêm và Vĩnh An. Do những nguyên nhân lịch sử, trong khu vực hiện có nhiều cụm dân cư phân bố đan xen giữa các khu rừng, ở đây người dân sinh sống bằng sản xuất nông nghiệp và một phần sống dựa vào tài nguyên rừng (TNR). Trong thời gian qua, những thay đổi của tự nhiên và xã hội đã ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của người dân nơi đây, đặc biệt là những người dân sống phụ thuộc vào rừng. Để giải quyết nhu cầu cuộc sống trong điều kiện kinh tế ngày càng khó khăn, cùng với nhận thức hạn chế, đã đẩy một số người dân đến với những hành vi vi phạm như lấy cắp lâm sản, săn bắt động vật rừng, phá rừng làm rẫy, đào ao nuôi trồng thuỷ sản.
Đây chính là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến TNR Mã Đà nói riêng và khu vực Vĩnh Cửu nói chung ngày càng bị giảm sút. Mặc dù trong những năm qua, các ngành chức năng đã rất cố gắng thực hiện tốt nhiệm vụ được giao, song do nhiều nguyên nhân khác nhau, rừng ở c 2 đây vẫn đang bị xâm hại. Hiện tượng chặt, đốt rừng để làm nương rẫy, khai thác và buôn bán gỗ, săn bắn động vật vẫn còn diễn ra nhiều, tính ĐDSH ngày càng bị suy giảm. Vì vậy, việc nghiên cứu hiện trạng tài nguyên của khu bảo tồn thiên nhiên (BTTN), đánh giá sự phụ thuộc của người dân địa phương vào TNR cũng như những khó khăn thuận lợi trong công tác bảo tồn là điều rất cần được quan tâm hiện nay.
Các số liệu nghiên cứu sẽ là cơ sở giúp cho các nhà quản lý đưa ra những giải pháp hữu hiệu hơn trong công tác bảo tồn ĐDSH, bảo tồn những nguồn gen động thực vật và phát triển bền vững TNR trong khu vực. Nhằm góp phần giải quyết các vấn đề trên, chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu các giải pháp bảo tồn ĐDSH dựa vào cộng đồng tại xã Mã Đà, Khu bảo tồn Thiên nhiên và Di tích Vĩnh Cửu”. Giả thuyết chính được đặt ra là sự tham gia của cộng đồng là yếu tố quan trọng đảm bảo sự thành công của quản lý rừng cũng như nâng cao đời sống của họ trong các khu vực có rừng tự nhiên. Để có đủ cơ sở lý luận khoa học, đề tài tiến hành nghiên cứu một cách có hệ thống vai trò của cộng đồng trong quản lý rừng ở một xã cụ thể và đặt nó trong bối cảnh quản lý chung của tỉnh và huyện.
Mục tiêu của đề tài là xây dựng những giải pháp lồng ghép bảo tồn và phát triển hệ sinh thái rừng tự nhiên theo hướng bền vững và ổn định, phát huy cao nhất các chức năng kinh tế và sinh thái của rừng phục vụ bảo tồn và phát triển ở địa phương. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Sự tham gia của cộng đồng Cách tiếp cận có sự tham gia đã được nhiều tác giả nghiên cứu, nhưng có lẽ vấn đề quan trọng nhất có thể là những cách hiểu khác nhau về khái niệm “tham gia” (Chambers, 1991; dẫn theo Bùi Việt Hải, 2007 [7]). Đây là một khái niệm được diễn dịch một cách rất mềm dẻo.
Trong những ý kiến thảo luận về sự tham gia trong quản lý tài nguyên thiên nhiên (TNTN), cần phân biệt giữa các mức độ và loại hình tham gia. Có hai trường hợp cực đoan có thể xẩy ra liên quan đến khái niệm này: (1) Sự tham gia có thể được xem là một phương thức hay phương tiện để tạo điều kiện thực hiện một biện pháp quản lý đã được các cơ quan bên ngoài ấn định trước; (2) Sự tham gia được xem là mục đích; phát huy sự tham gia là một phương thức phát huy nội lực của các cộng đồng địa phương để bảo vệ cơ sở tài nguyên của họ. Trong thực tế, mức độ và hình thức tham gia bị chi phối bởi bối cảnh xã hội, nhưng điều quan trọng khi đánh giá mức độ tham gia là ý nghĩa cơ bản của nó: người dân phải tham gia vào các quyết định chi phối đến đời sống của họ (Bùi Việt Hải, 2007 [7]). Việc sử dụng phổ biến cụm từ “sự tham gia” phản ánh những quan điểm khác nhau về mục tiêu và phương thức.
Trong nhiều trường hợp, “sự tham gia” ít khi được định nghĩa rõ ràng và do đó trở nên ít có ý nghĩa khi thực thi các hoạt động quản lý rừng. Sự suy diễn phong phú các nội dung khác nhau về sự tham gia đã dẫn tới những định nghĩa phức tạp về các “kiểu tham gia”. Nói chung, sự phân biệt các kiểu tham gia dựa trên mức độ kiểm soát tiến trình lập quyết định về tài nguyên giữa những người trong cuộc (hay đối tượng hưởng lợi) và người ngoài cuộc (hay người khởi xướng) [11]. c 4 (1) Sự tham gia thường được hiểu ở cấp độ cơ bản và đơn giản nhất, đó là sự cung cấp thông tin tham vấn khi một cơ quan hay tổ chức tiến hành để lấy ý kiến của các thành viên trong một cộng đồng trước khi đưa ra các quyết định hay triển khai các hoạt động có ảnh hưởng đến người dân địa phương.
Một lần nữa, ở đây, người dân không có quyền quyết định trồng rừng như thế nào, hoặc QLBVR ra sao, mặc dù họ có thể có quyền ký hay không ký các hợp đồng này; ở đây, sự tham gia dừng lại ở mức độ đóng góp sức lao động. (3) Cao hơn nữa, sự tham gia được thể hiện ở mức độ người dân tham gia vào việc lập kế hoạch cùng với các cơ quan phát triển từ bên ngoài, đóng góp nhân lực và kinh phí cho các hoạt động phát triển ở địa phương vì lợi ích của mình và giám sát tiến trình. Nhiều hoạt động của chương trình 145/TTg đã được thực hiện thành công theo hướng này. (4) Sau cùng, ở mức cao nhất, sự tham gia thường được hiểu như là một chuẩn mực, trong đó người dân chủ động, tích cực đưa ra các phương án phát triển.
Trong trường hợp này, các cơ quan bên ngoài tham gia vào hoạt động của cộng đồng mà không phải là các cộng đồng tham gia vào công việc của họ. Bốn cấp độ trên đây của cách tiếp cận “có sự tham gia” có thể được vận dụng trong từng tình huống cụ thể. Do đó, ý tưởng cho rằng mọi sự tham gia đều đồng nghĩa với “tốt” và mọi hoạt động thiếu sự tham gia đều đồng nghĩa với “không tốt” có vẻ cực đoan. Tuy nhiên, trong thực tế, nó có thể ẩn dấu một cách thức làm cho các hoạt động dựa trên sự điều khiển được tiến hành thuận lợi và dễ được chấp nhận [11].
c 5 Mặc dù sự phân loại các ý tưởng có vẻ đơn giản về sự tham gia, có thể hữu ích cho việc tìm hiểu bản chất của vấn đề, nó cũng có một số nhược điểm gây trở ngại cho việc phát triển các hệ thống quản lý rừng có sự tham gia (Pimbert, Gujja and M. Shah, 1996; dẫn theo Hoàng Hữu Cải, 2001). Thứ nhất, nó giả định rằng mức độ tham gia có thể được xác định ngay từ đầu khi lập kế hoạch, tiến hành thiết kế hệ thống giám sát và đánh giá có sự tham gia, và giữ bất biến trong tiến trình đó. Thứ hai, nó phân biệt một cách giản đơn “người trong” và “người ngoài”.
Điều này làm lu mờ một thực tế là các thành viên ở cả hai nhóm cũng có những mức độ tham gia khác nhau. Khi xem xét tất cả các thành viên của cộng đồng là người trong cuộc, các dự án dễ có xu hướng đồng nhất, người có nhiều đất với người không có đất, phụ nữ và nam giới, nông dân khá giàu và nông dân nghèo. Đối với việc giám sát, điều này có nghĩa là khi sự tham gia được giả định là chỉ báo của sự phát triển. Thứ ba, vì sự phân loại ít nhiều mang tính chất phán đoán, nhiều tác giả đã đưa ra các thuật ngữ như tham gia bắt buộc hay sự tham gia được điều khiển.
Tuy nhiên trong thực tế, không phải mọi người đều mong muốn, có thể và cam kết sẽ tham gia như nhau trong một tiến trình. Trong thực tế, bối cảnh chính sách và xã hội địa phương có ảnh hưởng rất lớn đến mức độ và hình thức tham gia của các nhóm nông dân khác nhau. Do đó, khả năng đạt được sự tham gia hoàn toàn trong tiến trình lập kế hoạch, giám sát và đánh giá chỉ là một tình trạng phi thực tế (Hoàng Hữu Cải, 2001) [2]. Trong sự phát triển của lý thuyết về sự tham gia trong quản lý môi trường và TNTN, cần nhấn mạnh một xu thế: bản thân các vấn đề về quản lý TNTN nói chung và TNR nói riêng là một tiến trình xã hội (Myint, 2003; dẫn theo Nguyễn Thị Kim Tài [16]).
Tuy nhiên, hành động của con người trong các cộng đồng ở trong hay gần rừng bị chi phối bởi các quy luật tự nhiên của các hệ sinh thái đồng thời các quy luật do con người tạo ra. Do đó, c 6 để phân tích tương tác giữa cộng đồng với môi trường và tài nguyên theo các khía cạnh định chế - môi trường, cần xem môi trường và cộng đồng như là tác nhân hành động hơn là nhân tố trong quản lý tài nguyên. Bản thân thuật ngữ “cộng đồng” cũng đã được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Trong các tài liệu liên quan đến quản lý TNTN, cộng đồng thường được hiểu là “một nhóm người chia sẻ những lợi ích, mối quan tâm, hay các mối liên hệ chức năng hay đạo đức” (Pomeroy và Carlos, 1996; dẫn theo R.
Bên cạnh đó, cũng có những cách hiểu khác nhau về cách tiếp cận “quản lý TNR dựa vào cộng đồng”.