Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam được công nhận là một trong những trung tâm đa dạng sinh học hàng đầu thế giới, sở hữu khu hệ linh trưởng phong phú với 24 loài và phân loài thuộc 3 họ chính. Tuy nhiên, áp lực từ các hoạt động nhân sinh đã khiến nhiều loài rơi vào tình trạng suy giảm nghiêm trọng, trong đó có 4 loài đặc hữu hẹp đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng toàn cầu. Nằm ở vùng Đông Bắc Việt Nam, Khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Mê thuộc tỉnh Hà Giang có tổng diện tích tự nhiên 9.042,5 ha, bao gồm 8.298,9 ha phân khu bảo vệ nghiêm ngặt và 743,6 ha phân khu phục hồi sinh thái. Nơi đây lưu giữ hệ sinh thái rừng nhiệt đới trên núi đá vôi đặc trưng, cung cấp sinh cảnh thiết yếu cho các loài thú hoang dã quý hiếm.

Mặc dù có tiềm năng sinh thái to lớn, công tác quản lý tại khu bảo tồn đối mặt với nhiều thách thức do thiếu hụt dữ liệu điều tra thực địa có hệ thống. Đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng của tác giả Hoàng Trung Kiên, dưới sự hướng dẫn của TS. Vũ Tiến Thịnh tại Trường Đại học Lâm nghiệp, được thực hiện nhằm lấp đầy khoảng trống khoa học này. Khảo sát thực địa được triển khai toàn diện từ ngày 15/3/2014 đến ngày 15/9/2014 trên địa bàn 3 xã Lạc Nông, Thượng Tân và Minh Ngọc.

Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là xác định thành phần loài, đánh giá hiện trạng quần thể, mô tả đặc điểm phân bố theo 5 dạng sinh cảnh và định lượng 5 nhóm đe dọa sinh thái chính. Kết quả công trình xác lập danh lục 7 loài linh trưởng, trong đó có 6 loài thuộc danh mục nguy cấp, tạo tiền đề khoa học vững chắc để Ban quản lý khu bảo tồn ban hành các chính sách bảo tồn bền vững và phân bổ nguồn lực tuần tra hiệu quả.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng hệ thống phân loại học của Groves (2004) kết hợp công trình của Wilson và Reeder được tổng hợp bởi Nguyễn Xuân Đặng và Lê Xuân Cảnh (2009) để xác định danh mục các loài thú thuộc bộ Linh trưởng (Primates). Khung lý thuyết này phân chia khu hệ linh trưởng Việt Nam thành 3 họ: họ Cu li (Loridae), họ Khỉ (Cercopithecidae) và họ Vượn (Hylobatidae). Về phân loại sinh cảnh, tác giả kế thừa phương pháp sinh thái học thực vật của Thái Văn Trừng (1978) kết hợp phân chia kiểu rừng của Lê Mộng Chân và Vũ Văn Dũng (1992), xác lập 5 dạng sinh cảnh rừng từ nguyên sinh trên núi đá vôi đến rừng phục hồi sau nương rẫy.

Để lượng hóa các tác động nhân sinh, luận văn áp dụng phương pháp Đánh giá giảm thiểu mối đe dọa TRA (Threats Reduction Assessment) do Margoluis và Salafsky (2001) phát triển. Mô hình đánh giá này vận hành dựa trên 3 tiêu chí cốt lõi: phạm vi không gian tác động, cường độ suy thoái đa dạng sinh học và mức độ cấp thiết về thời gian, với thang điểm chuẩn hóa từ 1 đến 5 điểm cho từng tiêu chí.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp từ Chi cục Kiểm lâm tỉnh Hà Giang và bản đồ quy hoạch 3 loại rừng theo Quyết định số 2104/QĐ-UBND kết hợp dữ liệu sơ cấp thu thập tại hiện trường trong khung thời gian từ 15/3/2014 đến 15/9/2014.

Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu được thiết kế chặt chẽ qua 5 tuyến khảo sát thực địa có tổng chiều dài 35 km, bề rộng quan sát từ 250 m đến 500 m, quy đổi diện tích điều tra trực tiếp đạt khoảng 95 ha. Trong đó, 3 tuyến tập trung tại xã Lạc Nông và 2 tuyến tại xã Thượng Tân. Mỗi tuyến được điều tra lặp lại ít nhất 3 lần vào cả ban ngày lẫn ban đêm để ghi nhận các loài ăn đêm. Đồng thời, nghiên cứu thiết lập 4 điểm nghe cố định trên các đỉnh núi cao có tầm nhìn thoáng nhằm phát hiện tiếng kêu đặc trưng.

Phương pháp phỏng vấn bán định hướng được thực hiện trên 100% nhóm thợ săn có kinh nghiệm và cán bộ kiểm lâm địa bàn bằng bộ ảnh màu nhận dạng chuẩn. Việc kết hợp điều tra tuyến, điểm nghe và phỏng vấn thợ săn là lựa chọn tối ưu giúp gia tăng khả năng phát hiện các loài thú nhạy cảm trên địa hình Karst chia cắt mạnh có độ dốc trên 30 độ. Toàn bộ tọa độ quan sát được xử lý và trực quan hóa bản đồ chuyên đề bằng phần mềm MapInfo phiên bản 11.0.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nghiên cứu đã xác định được 7 loài thú linh trưởng thuộc 4 giống và 2 họ tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Mê, chiếm 29,2% tổng số loài, 66,7% tổng số giống và 66,7% tổng số họ linh trưởng hiện biết tại Việt Nam. Đặc biệt, công trình đã phát hiện và bổ sung loài Khỉ mốc (Macaca assamensis) vào danh lục đa dạng sinh học của khu bảo tồn. Họ Khỉ chiếm ưu thế với 5 loài (chiếm 71,4% tổng số loài ghi nhận), tiếp theo là họ Cu li với 2 loài (chiếm 28,6%).

Thứ hai, kết quả ghi nhận giá trị bảo tồn đặc biệt cao khi 6 trên 7 loài (tương đương 85,7%) nằm trong Sách Đỏ Việt Nam năm 2007 và Danh lục Đỏ IUCN năm 2014 từ cấp sắp nguy cấp (VU) đến cực kỳ nguy cấp (CR). Xét theo khung pháp lý của Nghị định số 32/2006/NĐ-CP, có 4 loài thuộc nhóm IB nghiêm cấm khai thác vì mục đích thương mại gồm Cu li lớn, Cu li nhỏ, Voọc đen má trắng và Voọc mũi hếch; 3 loài thuộc nhóm IIB gồm Khỉ mặt đỏ, Khỉ vàng và Khỉ mốc.

Thứ ba, sự phân bố của các loài linh trưởng phụ thuộc chặt chẽ vào cấu trúc thảm thực vật. Toàn bộ 7 loài (100%) đều xuất hiện tại sinh cảnh rừng nguyên sinh trên núi đá vôi ở độ cao 700-1000 m. Rừng thứ sinh trên núi đá vôi và rừng nguyên sinh trên núi đất cùng ghi nhận 5 loài (71,4%). Rừng thứ sinh trên núi đất có 2 loài phân bố, trong khi sinh cảnh rừng phục hồi sau nương rẫy hoàn toàn không ghi nhận bất kỳ loài linh trưởng nào (0%).

Thứ tư, điều tra thực địa đã quan sát trực tiếp đàn Khỉ vàng gồm 12 cá thể tại tiểu khu 142 gần Bản Khén và 2 cá thể Voọc đen má trắng tại vùng rừng giáp Thác Đổ, chứng minh sự tồn tại của các quần thể sinh sản ngoài tự nhiên nhưng quy mô đang bị thu hẹp đáng kể.

Thảo luận kết quả

Khi so sánh với các vùng bảo tồn lân cận trên cùng cánh cung địa chất Đông Bắc, tài nguyên linh trưởng Bắc Mê thể hiện mật độ rất cao. Mặc dù diện tích tự nhiên của Bắc Mê (9.042,5 ha) nhỏ hơn nhiều so với Khu BTTN Na Hang (27.520 ha với 8 loài) hay Khu BTTN Du Già (24.293 ha với 8 loài), khu vực này vẫn bảo tồn tới 7 loài linh trưởng, tương đương độ phong phú loài của Khu BTTN Phong Quang (8.355,6 ha với 8 loài).

Dữ liệu phân bố và tình trạng bảo tồn trong luận văn có thể được biểu diễn trực quan qua biểu đồ cột so sánh tương quan số loài giữa các khu bảo tồn và ma trận bảng thống kê sự hiện diện của 7 loài qua 5 sinh cảnh. Bản đồ không gian xây dựng từ phần mềm chuyên dụng chỉ rõ tiểu khu 142 và 162B là hai điểm nóng có tần suất bắt gặp linh trưởng cao nhất, đồng thời cũng là nơi chịu tác động mạnh nhất.

Nguyên nhân chính khiến các quần thể linh trưởng suy giảm bắt nguồn từ hoạt động săn bắn bằng súng tự chế và tình trạng khai thác gỗ Nghiến, gỗ Trai lý trái phép. Hoạt động đốn hạ cây gỗ lớn tầng vượt tán không chỉ phá hủy nguồn thức ăn chồi lá, quả hạt mà còn gây tiếng ồn xua đuổi các loài thú nhạy cảm di chuyển sâu vào vùng lõi. Sức ép này gắn liền với thực trạng kinh tế địa phương khi 96,9% lực lượng lao động làm nông lâm nghiệp thuần túy và tỷ lệ lao động qua đào tạo chỉ đạt 2,9%, dẫn đến việc khai thác tài nguyên rừng là nguồn thu nhập bổ trợ khó thay thế.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả đánh giá mối đe dọa TRA và đặc điểm phân bố sinh cảnh, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm bảo tồn toàn diện khu hệ thú linh trưởng:

  • Tăng cường tuần tra và triệt phá các điểm nóng vi phạm: Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Mê phối hợp với Hạt Kiểm lâm huyện Bắc Mê triển khai tuần tra định kỳ tại các tiểu khu trọng điểm 142 và 162B. Mục tiêu đặt ra là giảm thiểu ít nhất 80% số vụ săn bắt động vật hoang dã và khai thác gỗ trái phép trong giai đoạn 2015-2020, thực hiện thu hồi triệt để các loại súng săn tự chế và bẫy thú trong rừng.
  • Mở rộng khoán bảo vệ rừng gắn với chi trả dịch vụ môi trường: Ủy ban nhân dân huyện Bắc Mê cùng Ban quản lý khu bảo tồn tiến hành giao khoán toàn bộ 8.298,9 ha phân khu bảo vệ nghiêm ngặt cho các cộng đồng thôn bản tại 3 xã Lạc Nông, Thượng Tân và Minh Ngọc. Giải pháp này nhằm tạo nguồn thu nhập ổn định cho khoảng 1.750 lao động địa phương, giảm thiểu phụ thuộc vào việc thu hái lâm sản ngoài gỗ.
  • Tổ chức các chiến dịch truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng: Hạt Kiểm lâm và chính quyền các xã tổ chức định kỳ 15 đến 20 hội nghị tuyên truyền mỗi năm cho hơn 1.000 hộ gia đình thuộc đồng bào các dân tộc H’Mông, Dao, Tày. Nội dung tập trung phổ biến mức xử phạt vi phạm các loài động vật hoang dã thuộc nhóm IB theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP và ký cam kết bảo vệ các loài linh trưởng nguy cấp.
  • Xây dựng chương trình giám sát sinh thái định kỳ: Ban quản lý khu bảo tồn phối hợp với Viện Sinh thái rừng và Môi trường thiết lập hệ thống bẫy ảnh và theo dõi biến động quần thể 6 tháng một lần đối với hai loài đặc biệt quý hiếm là Voọc mũi hếch và Voọc đen má trắng trong suốt giai đoạn 2015-2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn mang lại giá trị ứng dụng thực tiễn và cơ sở lý luận chuyên sâu cho 4 nhóm đối tượng chính:

  • Cán bộ quản lý khu bảo tồn và lực lượng kiểm lâm: Nắm bắt chính xác tọa độ phân bố không gian và các điểm nóng sinh thái tại tiểu khu 142, 162B để tối ưu hóa lộ trình tuần tra trên tổng diện tích 9.042,5 ha, nâng cao hiệu quả ngăn chặn săn bắt trái phép.
  • Nhà nghiên cứu linh thái học và sinh học bảo tồn: Tiếp cận bộ dữ liệu thực địa chuẩn xác về tập tính, dấu vết kiếm ăn và sinh cảnh cư trú của 2 loài Cu li và 5 loài Khỉ, Voọc trên địa hình núi đá vôi Karst, làm tư liệu so sánh cho các công trình nghiên cứu tiến hóa và phân loại học.
  • Học viên sau đại học và sinh viên ngành Lâm sinh, Quản lý tài nguyên rừng: Tham khảo một case study mẫu mực về quy trình thiết kế 5 tuyến điều tra thực địa dài 35 km, kỹ thuật phỏng vấn bán định hướng và phương pháp lượng hóa mối đe dọa TRA phục vụ việc hoàn thiện đồ án và đề tài nghiên cứu khoa học.
  • Các tổ chức phi chính phủ và quỹ tài trợ bảo tồn quốc tế: Sử dụng các dẫn liệu định lượng về 85,7% số loài linh trưởng bị đe dọa để xây dựng hồ sơ tài trợ, đề xuất các dự án khẩn cấp nhằm bảo tồn các loài nguy cấp như Voọc mũi hếch và Voọc đen má trắng tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

Nghiên cứu đã xác định được bao nhiêu loài linh trưởng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Mê?

Nghiên cứu đã ghi nhận chính xác 7 loài thú linh trưởng thuộc 4 giống và 2 họ, chiếm 29,2% tổng số loài linh trưởng của Việt Nam. Điểm nổi bật là công trình đã bổ sung thành công loài Khỉ mốc (Macaca assamensis) vào danh lục khu hệ thú của khu bảo tồn.

Loài linh trưởng nào có mức độ đe dọa cao nhất được ghi nhận trong khu vực?

Voọc mũi hếch (Rhinopithecus avunculus) là loài có bậc bảo tồn cao nhất, được xếp ở cấp cực kỳ nguy cấp (CR) trong Sách Đỏ Việt Nam và Danh lục Đỏ IUCN. Ngoài ra, Voọc đen má trắng, Cu li lớn và Cu li nhỏ cũng thuộc cấp nguy cấp (EN) và nằm trong nhóm IB của Nghị định 32/2006/NĐ-CP.

Dạng sinh cảnh nào đóng vai trò cốt lõi cho sự tồn tại của các loài linh trưởng tại đây?

Sinh cảnh rừng nguyên sinh trên núi đá vôi ở độ cao 700-1000 m đóng vai trò then chốt nhất khi nâng đỡ 100% (7/7 loài) thành phần loài linh trưởng tại khu bảo tồn, nhờ cấu trúc rừng nhiều tầng tán kín và nguồn thức ăn dồi dào, ít bị chia cắt.

Phương pháp TRA đánh giá các mối đe dọa sinh thái dựa trên những tiêu chí nào?

Phương pháp TRA đánh giá tác động dựa trên 3 tiêu chí: phạm vi không gian ảnh hưởng, cường độ phá hủy sinh cảnh và mức độ cấp thiết về mặt thời gian. Mỗi tiêu chí được chấm điểm từ 1 đến 5, từ đó xác định săn bắn và khai thác gỗ lậu là hai mối đe dọa nguy hại nhất.

Vì sao sinh cảnh rừng phục hồi sau nương rẫy không ghi nhận loài linh trưởng nào?

Dạng sinh cảnh này chịu tác động xáo trộn mạnh từ con người, có độ tàn che thấp, chủ yếu là các loài cây ưa sáng nhỏ như Sau sau, Trâm, Ngát, hoàn toàn thiếu vắng các cây gỗ lớn tầng vượt tán và nguồn thức ăn ổn định, khiến 0% loài linh trưởng lựa chọn cư trú.

Kết luận

  • Luận văn xác định thành công danh lục 7 loài thú linh trưởng thuộc 2 họ và 4 giống tại Khu BTTN Bắc Mê, bổ sung mới loài Khỉ mốc vào cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học địa phương.
  • Minh chứng giá trị bảo tồn đặc biệt cấp thiết khi 85,7% số loài ghi nhận (6/7 loài) nằm trong danh mục các loài nguy cấp của Sách Đỏ Việt Nam và Danh lục Đỏ IUCN.
  • Khẳng định mối quan hệ mật thiết giữa cấu trúc thực vật và khu hệ thú, trong đó rừng nguyên sinh trên núi đá vôi là sinh cảnh sống bắt buộc của 100% các loài linh trưởng tại khu vực.
  • Định lượng hóa 5 mối đe dọa nhân sinh bằng công cụ TRA, chỉ rõ áp lực khai thác tài nguyên xuất phát từ 96,9% lao động địa phương phụ thuộc hoàn toàn vào nông lâm nghiệp.
  • Đề xuất hệ thống 4 giải pháp đồng bộ kết hợp tuần tra thực địa tại 8.298,9 ha vùng lõi, giao khoán rừng và nâng cao sinh kế cho cộng đồng vùng đệm 3 xã Lạc Nông, Thượng Tân, Minh Ngọc.

Trong giai đoạn tiếp theo từ năm 2015 đến năm 2025, các cơ quan chức năng cần ưu tiên bố trí nguồn lực lắp đặt bẫy ảnh kỹ thuật số và thiết lập quy chế phối hợp tuần tra liên xã. Việc bảo vệ toàn vẹn sinh cảnh sống cho các loài linh trưởng tại Bắc Mê chính là hành động then chốt để gìn giữ nguồn gen đặc hữu quý báu của quốc gia và toàn cầu.