ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam là một trong những quốc gia có tính đa dạng sinh học cao trên thế giới, đặc biệt là khu hệ Linh trưởng. Thú Linh trưởng là nhóm động vật cực kỳ nhạy cảm với những tác động của môi trường và con người, do đó chúng thường chỉ phân bố tại những khu vực nhất định, nơi đảm bảo đủ nguồn thức ăn và ít có những mối đe dọa cho sự tồn tại. Thực tế, phần lớn các loài Linh trưởng chỉ sống ở những khu vực rừng còn tốt, nhiều cây gỗ lớn, ít bị con người tác động. Tuy nhiên, theo thời gian những tác động của con người ngày càng lớn, sinh cảnh và môi trường sống của các loài Linh trưởng dần bị thu hẹp.
Chính điều này đã khiến cho các loài Linh trưởng trở thành một trong những nhóm động vật bị đe dọa mạnh nhất cho sự tồn tại, không chỉ ở Việt Nam mà trên cấp độ toàn cầu. Theo phân loại của Groves (2004), khu hệ thú Linh trưởng Việt Nam gồm 24 loài và phân loài, thuộc 3 họ đó là họ Cu li (Loridae), họ Khỉ (Cercopithecidae) và họ Vượn (Hylobatidae). Đặc biệt, Việt Nam có 4 loài Linh trưởng đặc hữu và nằm trong số những loài Linh trưởng được coi là nguy cấp nhất thế giới bao gồm: Vọoc mông trắng (Trachypithecus delacouri), Vọoc đầu trắng (Trachypithecus poliocephalus), Vọoc mũi hếch (Rhinopithecus avunculus) và Chà vá chân xám (Pygathrix cinerea). Tất cả các loài thú Linh trưởng ở Việt Nam đều có tình trạng sắp nguy cấp đến nguy cấp.
Theo sách đỏ Việt Nam năm 2007 trong số 24 loài và phân loài hiện biết ở Việt Nam, có 4 loài trong tình trạng "Cực kỳ nguy cấp" (CR) và 8 loài ở tình trạng "Nguy cấp" (EN), một vài loài trong số này đang đứng trước bờ vực của sự tuyệt chủng. Do vậy, Linh trưởng luôn luôn được các nhà quản lý, các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu với nhiều mục đích khác nhau, trong đó hầu hết phục vụ cho công tác bảo tồn. Tuy nhiên, một trong những khó khăn 2 nhất trong việc đề xuất những giải pháp quản lý, bảo tồn hiệu quả các loài Linh trưởng tại Việt Nam là thiếu những thông tin quan trọng liên quan đến loài, phân bố cũng như tình trạng của chúng tại những khu vực cụ thể, đặc biệt tại các Vườn Quốc gia và Khu BTTN. Khu BTTN Bắc Mê nằm ở phía Đông của tỉnh Hà Giang được đặc trưng bởi hệ sinh thái rừng trên núi đá còn tương đối nguyên vẹn của khu vực phía Bắc.
Đây là điều kiện thích hợp cho sự cư trú của các loài trong bộ Linh trưởng. Tuy nhiên, việc điều tra khảo sát các loài Linh trưởng tại khu vực hầu như rất ít, gây khó khăn cho công tác quy hoạch quản lý bảo tồn các loài động vật nói chung và Linh trưởng nói riêng tại khu vực. Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu một số đặc điểm khu hệ thú linh trưởng tại khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Mê, tỉnh Hà Giang”. Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ xác định sự có mặt cũng như tình trạng, phân bố và các mối tác động chính tới các loài Linh trưởng tại khu vực.
Đây sẽ là cơ sở khoa học cho việc đề xuất các giải pháp quản lý bảo tồn các loài Linh trưởng tại Khu BTTN Bắc Mê, Hà Giang. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Lƣợc sử nghiên cứu thú Linh trƣởng ở Việt Nam 1. Đặc điểm chung của thú bộ Linh trưởng (Primates) ở Việt Nam Bộ Linh trưởng (Primates) hay còn gọi là Bộ Khỉ hầu gồm những loài thú có kiểu đi bằng cả bàn chân, sống chủ yếu trên cây, ăn tạp hay ăn thực vật.
Ngoài những đặc điểm chung về cấu tạo của động vật có xương sống, của nhóm thú thì sự thích nghi với đời sống trên cây của thú Linh trưởng được đặc trưng bởi hình dạng và cấu trúc các chi. Xương cẳng tay, xương cánh tay khớp động với xương bả vai và có thể quay quanh trục của nó. Chi có 5 ngón, ngón 1 (ngón cái) nằm đối diện với 4 ngón còn lại. Hệ xương đai ngực luôn có xương đòn, tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho cử động ngang của chi trước một thể loại vận động rất cần thiết cho đời sống leo trèo.
Nhờ cấu tạo đặc biệt này nên chi trước giảm đáng kể vai trò nâng đỡ cơ thể trong vận chuyển và khả năng cầm nắm tốt hơn gọi là tay. Thân chuyển dần tư thế nằm ngang của nhóm thú thành chiều thẳng đứng, đồng thời sự thay đổi đó cũng đã làm thay đổi vị trí của nhiều nội quan và não. Hộp sọ tăng theo chiều cao và giảm nhiều chiều dài. Đáy hộp sọ nằm vuông góc với cột sống.
Hai hố mắt gần nhau, mắt hướng về trước tạo nên kiểu nhìn lưỡng hình. Mũi ngắn; Thể tích hộp sọ tương đối lớn so với cơ thể và phát triển đồng thời với sự tăng thể tích não bộ. Tăng thể tích não bộ là đặc điểm rất tiến hoá của thú Linh trưởng. Răng thú Linh trưởng có 2 loại: răng sữa và răng chính thức (difiodonte).
Răng cửa to, răng hàm có 4 nón tù. Cấu tạo bộ răng thích nghi với chế độ ăn tạp nhưng thiên về thực vật (quả, lá). Số lượng răng của các loài Linh trưởng có thể biến đổi từ 32 đến 36 chiếc. Thú Linh trưởng ở con đực, có một đôi tinh hoàn và luôn nằm trong bìu da ở ngoài bụng.
Con cái có một 4 đôi vú ngực phát triển, có tử cung đơn hoặc hai sừng. Nhau của Linh trưởng thuộc loại nhau tán, không rụng ở nhóm Leiur và rụng ở các loài khác. Thời gian mang thai dài, thường đẻ một con. Con non đẻ ra yếu, thời gian bú sữa dài.
Phân loại thú Linh trưởng ở Việt Nam Đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu về khu hệ thú Linh trưởng ở Việt Nam và đưa ra nhiều quan điểm phân loại thú Linh trưởng khác nhau, các quan điểm này thay đổi theo thời gian và rất khác nhau giữa các tác giả (Bảng 1. Chẳng hạn, Phạm Nhật (2002) cho rằng thú Linh trưởng Việt Nam bao gồm 25 loài và phân loài thuộc 3 họ; Roos (2004) cho rằng thú Linh trưởng Việt Nam bao gồm 24 loài và phân loài thuộc 3 họ. Trong khi đó Groves (2004) chỉ ra rằng Việt Nam có 24 loài và phân loài. Tuy có sự khác nhau về số lượng loài, nhìn chung các tác giả đều thống nhất rằng khu hệ thú Linh trưởng ở Việt Nam có 3 họ chính: Họ Cu li (Loridae), họ Khỉ (Cercopithecidae) và họ Vượn (Hylobatidae).
Phân loại thú Linh trƣởng ở Việt Nam theo thời gian Năm Họ Số loài và phân loài Nguồn thông tin 2001 3 24 Groves (2001) 2002 3 25 Phạm Nhật (2002) 2004 3 24 Roos (2004) 2004 3 24 Groves (2004) Trong đề tài này, việc sử dụng hệ thống phân loại thú Linh trưởng sẽ theo hệ thống phân loại của Groves (2004) vì đây là hệ thống phân loại phản ánh đầy đủ phân loại học của thú Linh trưởng Việt Nam và được các nhà khoa học đang sử dụng rộng rãi. Phân loại khu hệ thú Linh trƣởng Việt Nam theo Groves (2004) Tên loài TT Phổ thông Khoa học 1 Cu li lớn Nycticebus coucang (Boddaert, 1785) 2 Cu li nhỏ Nycticebus pygmaeus Bonhote, 1907 3 Khỉ cộc Macaca arctoides (Geoffroy, 1831) Macaca assamensis (M’Clelland, 4 Khỉ mốc 1839) 5 Khỉ đuôi lợn Macaca nemestrina (Linnaeus, 1766) 6 Khỉ vàng Macaca mulatta 7 Khỉ đuôi dài Macaca fascicularis Trachypithecus phayrei 8 Voọc xám crepusculus (Elliot, 1909) 9 Voọc bạc Trachypithecus obscurus 10 Voọc géc manh Trachypithecus germaini Trachypithecus francoisi 11 Voọc đen má trắng francoisi (Pousargues, 1898) Trachypithecus francoisi 12 Voọc đầu trắng poliocephalus (Trouessart, 1911) 13 Voọc gáy trắng Trachypithecus hatinhensis 14 Voọc đen tuyền Trachypithecus ebenus Trachypithecus francoisi 15 Voọc mông trắng delacouri (Osgood, 1932) 16 Chà vá chân nâu Pygathrix nemaeus 17 Chà vá chân đen Pygathrix nigripes 18 Chà vá chân xám Pygathrix cinerea 6 Tên loài TT Phổ thông Khoa học Rhinopithecus avunculus Dollman, 19 Voọc mũi hếch 1912 Hylobates concolor concolor (Harlan, 20 Vượn đen tuyền 1826) 21 Vượn đen Hải Nam Nomascus nasutus 22 Vượn đen má trắng Nomascus leucogenys 23 Vượn siki Nomascus siki 24 Vượn má hung Nomascus gabriellae (Nguồn: Grove, 2004) 1. Phân bố Linh trưởng Việt Nam Ở Việt Nam, thú Linh trưởng phân bố hầu khắp các tỉnh có rừng trong cả nước, một số loài có vùng phân bố rộng như: Cu li nhỏ, Khỉ cộc, Khỉ đuôi lợn, Khỉ vàng. Trong khi đó, một số loài có phân bố rất hẹp như Voọc Hà Tĩnh, Voọc Cúc Phương, Voọc Cát Bà và Voọc mũi hếch.
Phân bố thú Linh trưởng theo Sách Đỏ Việt Nam năm 2007 được tổng hợp trong bảng sau: Bảng 1. Phân bố thú Linh trƣởng theo sách đỏ Việt Nam năm 2007 TT Tên loài Phân bố Cao Bằng (Ba Bể), Thái Nguyên (Chợ Đồn, Đình Cả, Chợ Rả), 1 Cu li lớn Lạng Sơn, Hòa Bình, Quảng Trị (Lao Bảo) Thừa Thiên Huế Có nhiều nơi: Hà Giang, Tuyên Quang, Lai Châu, Sơn La, Hòa 2 Cu li nhỏ Bình, Hà Tây, Ninh Bình, Quảng Trị, Gia Lai, Kontum , Đắc Lắc, Lâm Đồng, Đồng Nai, Phú Yên. Loài này phân bố từ Quảng Nam - Đà Nẵng trở vào các tỉnh 3 Khỉ đuôi dài phía Nam 7 TT Tên loài Phân bố Hà Giang, Tuyên Quang, Yên Bái, Lào Cai, Bắc Thái, Sơn La, Hòa Bình, Hà Tây, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Thừa Thên - 4 Khỉ đuôi lợn Huế, Gia Lai, Kontum , Đắc Lắc, Lâm Đồng, Đồng Nai, Tây Ninh. Bắc Thái, Lạng Sơn, Sơn La, Hòa Bình, Hà Tây, Quảng Ninh, Ninh 6 Khỉ mốc Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh.
khỉ vàng phân bố khắp các tỉnh có rừng từ Gia Lai trở ra Bắc kể 7 Khỉ vàng cả các đảo gần bờ. Từ Thanh Hóa (19030 độ vĩ bắc) dọc dãy Trường Sơn tới Gia Chà vá chân 8 Lai, Kontum , Đắc Lắc, Lâm Đồng, Đồng Nai, Sông Bé, Tây nâu Ninh. Chà vá chân Phía Tây tỉnh Quảng Nam và Tỉnh Kon Tum 9 xám Kontum (Sa Thầy), Đắc Lắc (Nam Ca), Lâm Đồng (Di Linh), Chà vá chân thành phố Hồ Chí Minh, Vườn quốc gia Núi Chúa, Ninh Thuận 10 đen và mới phát hiện một quần thể khá lớn ở núi Chứa Chan thuộc tỉnh Đồng Nai Vượn đen má Tuyên Quang (Nà Hang, Chiêm Hóa), Cao Bằng, Lạng Sơn, 11 trắng Quảng Ninh.