MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam nằm thuộc bán đảo Đông Dương, thuộc vùng nhiệt đới, đa dạng về địa hình, các cảnh quan, khí hậu, từ đó tạo nên đa dạng các kiểu hệ sinh thái. Đây là điều kiện cho sự hình thành, phát triển đa dạng các loài động vật, thực vật nói chung và lưỡng cư nói riêng ở Việt Nam. Lưỡng cư nói chung và ếch cây nói riêng là một mắt xích quan trọng trong lưới thức ăn tự nhiên, nhân tố quan trọng trong hệ sinh thái rừng mưa nhiệt đới.
Tuy nhiên chúng cũng là nhóm động vật có nguy cơ bị đe dọa lớn và có nguy cơ bị tuyệt chủng. Họ ếch cây Rhacophoridae là họ có số loài nhiều nhất trong lớp ếch nhái ở Việt Nam. Với diện tích 11.129,48 km2, tỉnh Thanh Hóa có địa hình chia cắt mạnh tạo nên các vùng vi khí hậu cũng như sự phân hóa cảnh quan và ổ sinh thái đa dạng. Trên địa bản tỉnh có một Vườn quốc gia (VQG) Bến En và ba Khu Bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) Pù Luông, Pù Hu và Xuân Liên.
Trong đó, KBTTN Pù Luông được thành lập từ năm 1999, với tổng diện tích là 17. Sau đó mở rộng thêm 9.009,6 ha vùng đệm nâng tổng số diện tích lên tới 26. Về tài nguyên sinh vật ở Pù Luông, những nghiên cứu bước cho thấy, khu hệ thực vật có 1.533 loài thực vật có mạch đã được xác định. Về khu hệ động vật, các kết quả điều tra bước đầu đã xác định được 84 loài, 525 loài chim, 55 loài cá, 28 loài bò sát và 28 loài ếch nhái, 158 loài bướm, 96 loài thân mềm trên cạn đã được ghi nhận tại đây.
Các nghiên cứu trước đây tại khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông tập trung chủ yếu vào thành phần loài; nghiên cứu về đặc điểm sinh học sinh thái; chưa có mô tả nào về hình thái và nòng nọc của các loài thuộc họ Ếch cây. Từ những lý do trên tôi chọn đề tài “Nghiên cứu đặc điểm hình thái của một số loài lưỡng cư thuộc họ Ếch cây (Rhacophoridae) ở Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, tỉnh Thanh Hóa”. Đây là vấn đề rất cần thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn. Mục tiêu nghiên cứu Xác định được đặc điểm hình thái của cá thể trưởng thành và mô tả được nòng nọc của một số loài thuộc Họ ếch cây (Rhacophoridae) ở Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, tỉnh Thanh Hóa.
Nội dung nghiên cứu 3. Mô tả đặc điểm hình thái của cá thể trưởng thành của một số loài thuộc Họ ếch cây (Rhacophoridae) ở Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Luông. Mô tả đặc điểm hình thái nòng nọc của một số loài thuộc một số loài thuộc Họ ếch cây (Rhacophoridae) ở Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Luông. Ý nghĩa khoa học Cung cấp dẫn liệu về thành phần loài Ếch cây tại Khu BTTN Pù Luông từ đó làm cơ sở khoa học cho công tác quản lý bảo tồn và khai thác bền vững nhóm động vật này.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khát quát về hình thái và sự phát triển của nòng nọc 1. Đặc điểm hình thái nòng nọc Hình dạng cơ thể: Nòng nọc của từng loài, nhóm loài sẽ có hình dạng khác nhau, thân hình tròn, hình elíp hoặc hình trụ. Nếu cao thân lớn hơn rộng thân (H > W) thì nòng nọc thuộc nhóm thân cao, nếu cao thân bằng rộng thân (H = W) thì nòng nọc thuộc nhóm thân trung bình, nếu cao thân bé hơn rộng thân (H < W) thì nòng nọc thuộc nhóm thân dẹp [18].
Mắt và mũi: Kích thước mắt nòng nọc của các loài lưỡng cư có thể lớn, nhỏ hay trung bình so với kích thước cơ thể. Mắt nòng nọc thường ở phía bên của thân (hình 1.a), hoặc mắt nằm ở phía trên của thân (hình 1. Mũi ở phía bên, phía trên hoặc trước [18]. Vị trí mắt của nòng nọc (theo McDiarmid & Altig, 1999) a.
Phía trên Đĩa miệng: + Hình dạng: đĩa miệng có thể tròn hay bầu dục; có dạng thuỳ bám, dạng phễu hút, dạng ăn mặt nước hoặc dạng bám đáy (hình 1. 3 + Vị trí: đĩa miệng có thể hướng lên trên, hướng phía dưới, hướng phía trước hoặc hướng phía trước dưới [18]. + Răng sừng: Xác định bằng công thức răng (LTRF). Công thức răng được tính bằng số lượng hàng răng sừng nguyên, chia (đứt đoạn) ở môi trên, môi dưới; hướng của răng sừng, hình dạng.
Các hàng răng sừng ở môi trên được kí hiệu từ hàng đầu tiên phía trên cùng (A1) cho đến hàng cuối cùng của môi trên (A2, A3, A4. Các hàng răng sừng môi dưới được kí hiệu bằng P1 (hàng đầu tiên tính từ phía trong cùng của môi dưới) cho đến hàng ngoài cùng của môi dưới (P2, P3, P4. Cấu tạo đĩa miệng của nòng nọc (theo McDiarmid và Altig, 1999) AL: môi trên; A-1 và A-2: hàng răng sừng thứ nhất và thứ hai; A-2 GAP: khoảng trống giữa hàng răng thứ hai của môi trên; LJ: bao hàm dưới; LP: mép bên của bao hàm trên; M: miệng; MP: gai thịt ở phía bên; OD: đĩa miệng; PL: môi dưới; P-1, P-2, và P-3: hàng răng đầu tiên, thứ hai và thứ ba của môi dưới; SM: gai thịt gần mép; UJ: bao hàm trên [18]. + Gai thịt: các hàng gai thịt viền quanh miệng khác nhau về số lượng, hình dạng và kích thước.
Gai thịt có thể viền hoàn toàn quanh đĩa miệng, viền hai bên và phía dưới đĩa miệng, chỉ viền hai bên đĩa miệng hay không có gai 4 thịt viền phía ngoài đĩa miệng. Hình dạng gai thịt, mật độ, khoảng cách giữa các gai thịt; hướng của các gai thịt, số hàng gai thịt khác nhau tùy loài [18]. Bao hàm: Nòng nọc của các loài lưỡng cư khác nhau về hình dạng, độ lớn của bao hàm trên, bao hàm dưới (hình 1. Các dạng bao hàm ở nòng nọc (theo McDiarmid & Altig, 1999) A.
Cấu tạo bao hàm: W chiều cao, L chiều rộng của bao hàm trên; B. Lỗ thở: Lỗ thở của nòng nọc lưỡng cư có thể đơn hoặc kép (hình 1. Các kiểu lỗ thở và vị trí lỗ thở ở nòng nọc lưỡng cư (theo McDiarmid, Altig, 1999) A. Lỗ thở đơn, bên trái (Dendrobates tinctorius); B.
Lỗ thở đơn, bên trái với ống dài (Otophryne pyburni); C. Lỗ thở kép, phía bên (Lepidobatrachus llanensis); D. Lỗ thở kép, phía bên - bụng (Rhinophrynus dorsalis); E. Lỗ thở đơn, phía bụng sau (Kaloula pulchra); F.
Lỗ thở đơn, giữa bụng (Ascaphus truei) [18]. Đa số nòng nọc các loài, thường là lỗ thở đơn, chủ yếu nằm ở phía bên trái, hướng ra phía sau và lên trên như Dendrobates tinctorius (hình 1. Các loài trong giống Kaloula có lỗ thở đơn và nằm ở gần cuối bụng, ở khoảng giữa hoặc gần lỗ hậu môn (hình 1.4E), hay như các loài Ascaphus lỗ thở đơn nằm ở giữa bụng (hình 1. Lỗ thở kép có ở một số loài như Lepidobatrachus llanensis (hình 1.4C) và Rhinophrynus dorsalis (hình 1.
Loài Otophryne pyburni có lỗ thở với ống kéo dài (hình 1. Đuôi: Nòng nọc có hình dạng vây đuôi khác nhau, mút đuôi tròn, tù hoặc nhọn. Vây đuôi thấp hoặc cao, nếp trên và nếp dưới vây đuôi có thể bằng nhau, cao hơn hoặc thấp hơn. Cơ đuôi tròn, dẹp hoặc dạng sợi., dày hay mỏng tùy loài.
Quá trình phát triển biến thái của nòng nọc Hình 1.5 thể hiện các giai đoạn của nòng nọc từ khi thụ tinh đến khi hoàn thiện biến thái theo Gosner (1960). Các GĐ phát triển biến thái của nòng nọc theo Gosner, 1960 7 1. Các nghiên cứu về nòng nọc lưỡng cư ở Việt Nam Smith (1924) là tác giả đầu tiên nghiên cứu nòng nọc lưỡng cư ở Việt Nam trên loài Rana johnsi [61]. Tiếp đến là công trình nghiên cứu của Bourret (1942) về lưỡng cư vùng Đông Dương [43].
Nghiên cứu này đã mô tả và xây dựng khoá định loại cho nòng nọc của 62 loài lưỡng cư, trong đó 44 loài của Việt Nam. Trong những năm gần đây các loài nòng nọc chưa có nghiên cứu nào cụ thể, chủ yếu là các dẫn liệu nòng nọc được mô tả dựa trên các công bố về loài mới. Cụ thể như sau: Năm 2009, Lê Thị Thu và cộng sự đã đưa ra các dẫn liệu bổ sung về hình thái nòng nọc các giai đoạn phát triển của các loài thuộc họ Megophryidae ở rừng Tây Nghệ An [26]. Năm 2011, Nghiên cứu tại KBTTN Ngọc Linh theo Rowley et al mô tả 2 loài mới Theloderma nebulosum và T.
Palliatum để đưa ra các thông tin về hình thái nòng nọc của loài T. Các chỉ số hình thái về nòng nọc Gracixalus quangi được Rowley et al. mô tả cùng với sự công bố loài mới của chúng ở KBTTN Pù Hoạt, Nghệ An [60]. Năm 2012, Orlov et al.
có nhận xét về hệ thống các loài trong họ Rhacophoridae ở phía Nam của dãy Trường Sơn và mô tả 3 loài mới là Theloderma chuyangsinense,T. bambusicola và Rhacophorus robertingeri, trong đó tác giả đã có mô tả nòng nọc của loài T. bambusicola, đồng thời cũng đưa ra đặc điểm hình thái nòng nọc các loài T. palliatum, Raorchestes gryllus [56].
Năm 2012, Đoàn Thị Ngọc Linh và cộng sự đã dẫn ra những đặc điểm hình thái của một số giai đoạn phát triển nòng nọc 2 loài thuộc giống Ếch cây sần Theloderma [10]. Năm 2012, Lê Thị Quý và cộng sự đã mô tả đặc điểm hình thái nòng nọc của 2 loài Microhyla butleri và M. heymonsi và đồng thời bổ sung phân bố nòng 8 nọc của loài M. butleri cho VQG Bạch Mã.
Cũng trong năm đó, tác giả đã cung cấp và bổ sung dẫn liệu về đặc điểm hình thái ở các giai đoạn phát triển nòng nọc của loài Rhacophorus nnamensis thu được ở VQG Bạch Mã và theo dõi nòng nọc nuôi trong phòng thí nghiệm [19]. Nishikawa et al. Năm 2014, Poyarkov et al. xem xét lại hệ thống phân loại và phân bố của các loài trong giống Microhyla ở Việt Nam, đồng thời mô tả thêm 5 loài mới là Microhyla pineticola, M.
arboricola ở các tỉnh Lâm Đồng, Đắk Lắk, Đồng Nai, Kon Tum và Khánh Hòa. Trong nghiên cứu này, dẫn liệu về nòng nọc của các loài mới cũng được mô tả khá kỹ lưỡng. Có thể nói đây là công trình nghiên cứu khá hoàn thiện về hệ thống phân loại của một giống ở Việt Nam [54]. Vassilieva et al.
honbaensis thu ở Hòn Bà (Khánh Hòa), trong đó có mô tả nòng nọc của loài K. Năm 2014, Lê Thị Quý, Hoàng Ngọc Thảo đã đưa ra dẫn liệu về đặc điểm hình thái nòng nọc loài Cóc rừng Ingerophrunus galeatus ở VQG Bạch Mã [20]. Năm 2018, Nguyễn Thanh Luân công bố loài mới Leptolalax rowleyae sp. nov tại bán đảo Sơn Trà, Đà Nẵng đồng thời mô tả nòng nọc [49].
Năm 2018, Daniel Kane el al.