phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo nội dung của luận văn gồm có 3 chƣơng: CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIÊN VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG NÔNG THÔN CHƢƠNG II: ĐẶC ĐIỂM HUYỆN TAM DƢƠNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. CHƢƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN. c 4 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIÊN VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 1. Lý luận về lao động nông thôn, lực lƣợng lao động nông thôn 1.
Khái niệm về lao động và nguồn lao động Khái niệm lao động: Lao động của con ngƣời là hoạt động có mục đích, có ý thức tác động vào thế giới tự nhiên nhằm cải biến những vật tự nhiên thành sản phẩm phục vụ cho nhu cầu đời sống của con ngƣời. Khái niệm về nguồn lao động: Theo giáo trình Kinh tế phát triển của trƣờng Đại học Kinh tế quốc dân (2005) đƣa ra khái niệm: “Nguồn lao động là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật có khả năng lao động, có nguyện vọng tham gia lao động và những ngƣời ngoài độ tuổi lao động (trên độ tuổi lao động) đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân”. Theo tổ chức lao động của (ILO): Lực lƣợng lao động là một bộ phận dân số trong độ tuổi quy định, thực tế có tham gia lao động và những ngƣời không có việc làm đang tích cực tìm kiếm việc làm. Ở mỗi quốc gia khác nhau thì việc quy định độ tuổi lao động là khác nhau, thậm chí còn khác nhau ở các giai đoạn của mỗi nƣớc điều đó tùy thuộc vào trình độ phát triển kinh tế.
Ở nƣớc ta, theo quy định của Bộ luật Lao động (2012) thì độ tuổi lao động đối với nam từ 15-60 tuổi và nữ là 15-55 tuổi [38, điều 187]. Nguồn lao động luôn đƣợc xem xét trên hai mặt, biểu hiện đó là số lƣợng và chất lƣợng lao động: - Số lƣợng lao động là toàn bộ những ngƣời trong độ tuổi lao động có khả năng lao động gồm: Dân số đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và dân số trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhƣng đang thất nghiệp, đang đi học, c 5 đang làm công việc nội trợ trong gia đình, không có nhu cầu việc làm và những ngƣời thuộc tình trạng khác (bao gồm cả những ngƣời nghỉ hƣu trƣớc tuổi quy định). - Chất lƣợng lao động: Thể hiện trình độ chuyên môn, tay nghề (trí lực) và sức khoẻ (thể lực) của ngƣời lao động, ý thức, văn hóa, đạo đức… Dân số trong tuổi lao động quy định Có việc làm Không có việc làm E Muốn làm việc Không muốn làm việc - Chủ động tìm việc Không Chủ động tìm - Sẵn sàng làm việc việc U N Không thuộc lực lƣợng lao Lực lƣợng lao động động Sơ đồ 1.1: Cơ cấu lực lƣợng lao động E: Ngƣời có việc làm U: Ngƣời thất nghiệp N: Ngƣời không tham gia hoạt động kinh tế. Từ những quan niệm của các nhà nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam, có thể đƣa ra quan niệm về lực lƣợng lao động nhƣ sau: “Lực lƣợng lao động bao gồm số lƣợng và chất lƣợng những ngƣời từ đủ 15 tuổi trở lên đang có việc làm hoặc không có việc làm, nhƣng có nhu cầu làm việc và sẵn sàng làm việc”.
Khái niệm lao động nông thôn - Lao động nông thôn là những ngƣời thuộc lực lƣợng lao động và hoạt động trong hệ thống kinh tế nông thôn. - Nguồn lao động nông thôn là một bộ phận dân số sinh sống và làm việc ở nông thôn trong độ tuổi lao động theo qui định của pháp luật và có khả năng lao động. - Lực lƣợng lao động ở nông thôn là một bộ phận của nguồn lao động ở nông thôn bao gồm những ngƣời trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, đang có việc làm và những ngƣời thất nghiệp nhƣng có nhu cầu tìm việc làm. Tuy nhiên do đặc điểm, tính chất, mùa vụ của công việc ở nông thôn mà lực lƣợng tham gia sản xuất nông nghiệp không chỉ có những ngƣời trong độ tuổi lao động mà còn có những ngƣời ngoài độ tuổi lao động tham gia sản xuất với những công việc phù hợp với mình.
Lý luận về việc làm, thất nghiệp và giải quyết việc làm cho lao động nông thôn 1. Lý luận về việc làm, thất nghiệp, thiếu việc làm Có nhiều cách quan niệm khác nhau về việc làm, song xét cho cùng thực chất của việc làm là sự kết hợp sức lao động của con ngƣời với tƣ liệu sản xuất. Khái niệm việc làm theo Bộ luật Lao động của nƣớc ta bao gồm một phạm vi rất rộng; từ những công việc đƣợc thực hiện trong các doanh nghiệp, công sở đến mọi hoạt động lao động hợp pháp nhƣ các công việc nội trợ, chăm sóc con, cháu trong gia đình.đều đƣợc coi là việc làm [3, điều 9]. Việc làm là mối quan tâm thƣờng nhật của ngƣời lao động và giải quyết việc làm cho lao động xã hội là công việc quan trọng của tất cả các quốc gia.
Cuộc sống của bản thân và gia đình ngƣời lao động phụ thuộc rất lớn vào việc làm của họ. Sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia cũng gắn liền với tính c 7 hiệu quả của chính sách giải quyết việc làm. Với tầm quan trọng nhƣ vậy, việc làm đƣợc nghiên cứu dƣới nhiều góc độ khác nhau nhƣ kinh tế, xã hội học, lịch sử. Khi nghiên cứu dƣới góc độ lịch sử thì việc làm liên quan đến phƣơng thức lao động kiếm sống của con ngƣời và xã hội loài ngƣời.
Các nhà kinh tế coi sức lao động thông qua quá trình thực hiện việc làm của ngƣời lao động là yếu tố quan trọng của đầu vào sản xuất và xem xét vấn đề thu nhập của ngƣời lao động từ việc làm. Ở Việt Nam trƣớc đây, trong cơ chế kế hoạch tập trung, quan liêu bao cấp, ngƣời lao động đƣợc coi là có việc làm và đƣợc xã hội thừa nhận chỉ khi làm việc trong thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa (quốc doanh, tập thể) [16]. Trong cơ chế đó, xã hội không thừa nhận việc làm ở các thành phần kinh tế khác và cũng không thừa nhận thiếu việc làm, thất nghiệp. Quan niệm về việc làm đã từng bƣớc đƣợc mở rộng hơn theo hƣớng khuyến khích các loại hình tổ chức kinh tế, hộ gia đình và ngƣời lao động cùng tham gia tạo việc làm, tạo thu nhập mà không bị pháp luật cấm.
Điều 13, chƣơng II Bộ luật Lao động Nƣớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật cấm đều đƣợc thừa nhận là việc làm”[43,tr.42] Theo quan niệm trên, việc làm là các hoạt động lao động bao gồm: các loại công việc làm thuê có trả tiền công, tiền lƣơng hoặc một hình thái hiện vật có giá trị tƣơng đƣơng với giá trị do công việc đó tạo ra; những công việc tự làm mang lại lợi ích vật chất thay thế cho thu nhập của bản thân hoặc gia đình, những công việc tự làm thƣờng không đƣợc trả công bằng tiền hoặc hiện vật, nhƣng có ý nghĩa về kinh tế đối với bản thân và gia đình ngƣời lao động. Nhƣ vậy, có thể diễn giải một hoạt động lao động đƣợc coi là việc làm cần thoả mãn hai điều kiện: Một là, phải có ích, tạo ra thu nhập và mang lại lợi ích cho ngƣời lao động và các thành viên trong gia đình. Hai là, không bị c 8 pháp luật cấm hay đƣợc pháp luật thừa nhận là hợp pháp. Hai điều kiện trên có quan hệ chặt với nhau, là điều kiện cần và đủ của một hoạt động đƣợc thừa nhận là việc làm.
Quan niệm trên đã góp phần mở rộng khái niệm về việc làm, phản ánh đầy đủ các yếu tố cơ bản nhất của việc làm dƣới góc độ khoa học và pháp luật. * Khái niệm thất nghiệp Có nhiều quan điểm khác nhau về thất nghiệp, nhƣng nội dung cơ bản của thất nghiệp là đề cập về việc ngƣời lao động có khả năng làm việc, mong muốn làm việc nhƣng không đƣợc làm việc. Samuelson - nhà kinh tế học của trƣờng phái hiện đại cho rằng: “Thất nghiệp là những ngƣời không có việc làm nhƣng đang chờ để trở lại việc làm hoặc đang tích cực tìm việc làm” [32]. Theo tổ chức lao động Quốc Tế (ILO) thì: Tình trạng thất nghiệp là tình trạng khi một bộ phận ngƣời trong độ tuổi lao động, có khả năng làm việc, muốn làm việc, nhƣng không tìm đƣợc việc làm ở mức tiền công nhất định mà xã hội thừa nhận.
Nói cách khác, ngƣời thất nghiệp là ngƣời lao động trong độ tuổi, có khả năng lao động, nhƣng không có việc làm và đang tìm việc làm [7]. Một cách tiếp cận khác cho rằng, thất nghiệp là hiện tƣợng xã hội, trong đó có một bộ phận ngƣời lao động bị mất thu nhập do không có khả năng tìm đƣợc việc làm trong khi họ đang trong độ tuổi lao động, có khả năng làm việc và đã đăng ký tìm việc làm ở cơ quan môi giới về việc làm, nhƣng chƣa đƣợc giải quyết việc làm phù hợp với khả năng lao động của họ. Nhƣ vậy, những ngƣời thất nghiệp tất yếu phải thuộc lực lƣợng lao động hay dân số hoạt động kinh tế với 3 tiêu chuẩn sau: - Mong muốn tìm việc làm và đã đăng ký tìm việc tại cơ quan môi giới việc làm; - Có khả năng làm việc; c 9 - Đang chƣa có việc làm phù hợp với khả năng lao động và với mức thu nhập đƣợc xã hội thừa nhận. Với cách hiểu trên đây, không phải bất kỳ ai có sức lao động nhƣng chƣa làm việc đều đƣợc coi là thất nghiệp.
Do đó để xác định một ngƣời có thể đƣợc coi là đối tƣợng thất nghiệp hay không thì phải biết đƣợc ngƣời đó có muốn làm việc hay không. Bởi lẽ, trên thực tế nhiều ngƣời trong tuổi lao động, có sức khoẻ, có nghề nghiệp song không có nhu cầu làm việc, họ sống chủ yếu dựa vào “nguồn tài chính dự trữ” kế thừa của bố mẹ hoặc nguồn tài trợ từ xã hội hoặc từ ngƣời khác. Các kết quả nghiên cứu về lao động và thất nghiệp cho đến nay đã phân ra các loại hình thất nghiệp nhƣ sau: - Thất nghiệp tự nhiên: Là loại thất nghiệp xảy ra khi có một tỷ lệ nhất định số lao động lâm vào tình trạng không có việc làm do xã hội không thể tạo đủ việc làm cho họ.