CHƯƠNG I. TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC VỀ KHAI THÁC, SỬ DỤNG VÀ QUẢN LÝ TỔNG HỢP TÀI NGUYÊN NƯỚC LƯU VỰC SÔNG 1.1 Tình hình nghiên cứu nước ngoài Quy hoạch tài nguyên nước lưu vực sông là một quá trình, liên quan đến nhiều vấn đề về khoa học và công nghệ. Do vậy, khó có thể đưa ra một tổng quan chung cho các vấn đề này trên thế giới hiện nay.
Tuy nhiên, liên quan đến quy hoạch khung lưu vực sông và các quy hoạch thành phần theo cách tiếp cận hợp lý với điều kiện Việt Nam hiện nay như đã trình bày, có thể kể ra một số hoạt động, công trình nghiên cứu tiêu biểu ở nước ngoài: Tháng 2 năm 1983, Tổng thống Mỹ lúc đó là Ronald Reagan đã ký ban hành “Các nguyên tắc về kinh tế và môi trường đối với các nghiên cứu triển khai về nước và tài nguyên đất có liên quan” (Economic and Environmental Principles for Water and Related Land Resources Implementation Studies). Trên cơ sở các nguyên tắc này, Hội đồng Quốc gia Tài nguyên nước của Hoa Kỳ đã ban hành các hướng dẫn, phục vụ việc xây dựng và quản lý quy hoạch. Nhằm cụ thể hơn các công việc cần tiến hành, tháng 4 năm 2002, lực lượng công binh Hoa Kỳ đã biên soạn, cập nhật sổ tay hướng dẫn quy hoạch (Planning Guidance Notebook) bao gồm nhiều khía cạnh khác nhau của công tác quy hoạch tài nguyên nước. Viện Tài nguyên nước cũng là cơ quan đưa ra nhiều mô hình phục vụ quy hoạch tài nguyên nước như IWR – MAIN; IWR – PLAN.
Ở Úc, lưu vực sông Murray – Darling với diện tích trên 1 triệu km2 nằm trên P P phần lãnh thổ thuộc các bang New South Wales, Victoria, Queenland, South Australia. Để tiến hành quản lý lưu vực sông, chiến lược quản lý lưu vực sông được chuẩn bị và phê duyệt trước tiên, sau đó các quy hoạch sẽ được xây dựng bao gồm: quy hoạch bảo vệ tài nguyên nước và chất lượng nước, quy hoạch chia sẻ, phân bổ Luận văn thạc sĩ kỹ thuật 5 nguồn nước, quy hoạch phòng, chống, giảm thiểu tác hại của xâm nhập mặn. Các quy hoạch này, trong một số trường hợp được xây dựng dưới dạng các chương trình hành động cụ thể. Ở các lưu vực sông khác, chẳng hạn lưu vực sông Murrumbidgee của bang New South Wales cũng đã tiến hành lập quy hoạch chia sẻ tài nguyên nước và đang tiến hành điều chỉnh, bổ sung.
Có những lưu vực sông/tiểu lưu vực sông được nghiên cứu khá kỹ lưỡng và đã xây dựng báo cáo quy hoạch phân bổ tài nguyên nước khá chi tiết như đối với tiểu lưu vực sông Clare, Broughton. Tại New Zealand, các hoạt động quy hoạch phân bổ tài nguyên nước được hỗ trợ thông qua hệ thống WAIORA. Hệ thống này được coi là một dạng công cụ hỗ trợ ra quyết định, có khả năng đánh giá ảnh hưởng của việc thay đổi dòng chảy tới môi trường sống của các hệ sinh thái trong sông, nhiệt độ nước, nồng độ ôxy hòa tan, nồng độ amôni. Những chương trình hành động, các quy hoạch và công cụ phần mềm trên là nguồn thông tin tham khảo quan trọng trong quá trình tiến hành những nội dung nghiên cứu của đề tài.
Tại các nước châu Âu, cụ thể là các nước trong Cộng đồng châu Âu, hoạt động quy hoạch tài nguyên nước lưu vực sông tuân theo chỉ thị khung về nước (Water Framework Directive) số 2000/60/EC. Điều 13 của chỉ thị quy định về quy hoạch quản lý các lưu vực sông đã đưa ra những nội dung cần thiết đối với quy hoạch. Một loạt vấn đề có liên quan đến công tác điều tra, khảo sát kỹ thuật phục vụ lập quy hoạch đối với các loại hình nguồn nước cũng đã được quy định, tuy mới chỉ ở mức độ khung, mang tính khái quát.2 Tình hình nghiên cứu trong nước Báo cáo của đề tài nghiên cứu “Quản lý tổng hợp lưu vực sông ở Việt Nam nhằm phát triển bền vững” do Trung tâm phát triển Tài nguyên và Môi trường và Viện Môi trường và Phát triển bền vững trong khuôn khổ dự án Vietnam Agenda 21 – VIE/01/021 đã trình bày những nội dung quan trọng và được cập nhật về quản lý tổng hợp lưu vực sông ở Việt Nam. Báo cáo gồm các phần chính: (i) Tổng quan các chính sách và thể chế quản lý tổng hợp lưu vực sông; (ii) Hiện trạng thực hiện chính Luận văn thạc sĩ kỹ thuật 6 sách và thể chế quản lý tổng hợp lưu vực sông.
Tác động đối với kinh tế – xã hội – môi trường; (iii) Tồn tại và thách thức; (iv) Phương hướng tăng cường chính sách và thể chế; (v) Kết luận và kiến nghị. Liên quan đến công tác quy hoạch, sau khi nhận định tổng quát về thực tế chưa thực hiện quy hoạch tổng hợp lưu vực sông và những yêu cầu cấp thiết hiện nay về công tác này, đề tài đề cập: Nhiệm vụ hàng đầu là lập quy hoạch tổng hợp lưu vực sông. Công tác này sẽ dựa trên cơ sở yêu cầu phát triển kinh tế xã hội môi trường của các tỉnh trên lưu vực, trên thành quả các quy hoạch chuyên ngành khai thác tài nguyên nước và các quy hoạch tài nguyên nước liên quan nông, lâm, ngư mà tổng hợp lại và điều chỉnh lẫn nhau. Quy hoạch tổng hợp được cụ thể hóa thành kế hoạch hành động của lưu vực sông.
Vì mục tiêu các ngành, các tỉnh liên quan đều là phát triển bền vững, do đó quan hệ giữa các bên sẽ là cộng tác, lắng nghe, tiếp nhận và điều chỉnh. Các bên liên quan kể cả cộng đồng được tham gia vào quá trình xây dựng quy hoạch tổng hợp lưu vực sông. Dự thảo quy hoạch được công bố công khai cho các tổ chức và công chúng đóng góp ý kiến trước khi Hội đồng lưu vực sông thông qua và trình lên cấp có thẩm quyền phê duyệt. Nhiệm vụ thường xuyên thể hiện trong kế hoạch hành động LVS là quản lý và giám sát sự thực hiện quy hoạch tổng hợp lưu vực sông: Những nội dung quan tâm bao gồm: phân phối nước lúc bình thường và bất thường; quy chế vận hành hồ chứa trong điều kiện bình thường và bất thường; kiểm soát xả thải và ô nhiễm nước; tham gia phòng, chống lũ lụt; các giải pháp về khắc phục hạn hán, xói mòn và rửa trôi đất, sa bồi; các giải pháp về bảo vệ hình thái và môi trường dòng sông, bờ, bãi, cửa sông, ven biển và các tầng nước dưới đất.
Công cụ để quản lý và giám sát sự thực hiện quy hoạch là thông tin và các công cụ phân tích và trợ giúp. Nhiệm vụ thông tin và vận hành cơ sở dữ liệu tài nguyên nước là nhiệm vụ thường xuyên trong quản lý tổng hợp lưu vực sông, nhằm tổng hợp tư liệu các nguồn (hiện nay rời) và cập nhật được diễn biến tự nhiện và hiện trạng sử dụng nước trên lưu vực sông. Cụ thể bao gồm: giám sát biến động số và chất lượng tài nguyên nước mặt và dưới đất, hình thái dòng sông và lưu vực, Luận văn thạc sĩ kỹ thuật 7 tầng phủ v.v…; theo dõi cập nhật tình hình sử dụng và xả nước thải; thông tin tức thời và dự báo thủy văn lũ và kiệt. Đề tài cũng đã đưa ra những kết luận, kiến nghị xác đáng về tăng cường quản lý tổng hợp lưu vực sông ở nước ta, đẩy nhanh tiến độ việc lập và phê duyệt các quy hoạch tổng hợp tài nguyên nước lưu vực sông.
Ngày 28 tháng 10 năm 1995, Bộ trưởng Bộ Thủy lợi (trước đây) ra quyết định số 167 QĐ/KHTL về việc ban hành tiêu chuẩn ngành “Quy hoạch sử dụng tổng hợp và bảo vệ nguồn nước – các quy định chủ yếu”. Tiêu chuẩn ngành này của Bộ Thủy lợi có mã số 14 TCN 87 – 1995; được áp dụng cho việc lập mới hoặc bổ sung quy hoạch sử dụng tổng hợp và bảo vệ nguồn nước ở một lưu vực sông, một vùng kinh tế, liên lưu vực hoặc toàn quốc. Quy hoạch sử dụng tổng hợp và bảo vệ nguồn nước quy định trong tiêu chuẩn này được gọi tắt là quy hoạch thủy lợi, tùy theo mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, mục tiêu vì nhiệm vụ của quy hoạch thủy lợi, điều kiện tự nhiên, quy hoạch thủy lợi cụ thể gồm toàn bộ hoặc một số quy hoạch chuyên ngành sau: + Quy hoạch thủy nông (tưới tiêu, cải tạo đất bằng biện pháp thủy lợi). + Quy hoạch cấp thoát nước cho sinh hoạt, công nghiệp: + Quy hoạch thủy điện.
+ Quy hoạch giao thông thủy. + Quy hoạch nuôi trồng thủy sản. + Quy hoạch phục vụ an dưỡng – du lịch – giải trí. + Quy hoạch phòng chống lũ.
+ Quy hoạch bảo vệ phòng chống ô nhiễm nguồn nước. + Quy hoạch bảo vệ phòng chống cạn kiệt nguồn nước. Ngoài những quy định chung, tiêu chuẩn còn quy định về thành phần, nội dung và bước lập quy hoạch thủy lợi; quy định về các tài liệu cơ bản; quy định về quản lý quy hoạch. Tiêu chuẩn ngành 14 TCN 87 – 1995 là một văn bản pháp quy kỹ thuật đã được sử dụng có hiệu quả trong các hoạt động quy hoạch phát triển thủy lợi trong thời gian qua.
Tuy nhiên, tiêu chuẩn 14 TCN 87 – 1995 cũng có một số bất Luận văn thạc sĩ kỹ thuật 8 cập: + Tiêu chuẩn được ban hành khi Luật Tài nguyên nước chưa ra đời, hành lang pháp lý cho công tác quản lý tài nguyên nước chưa được hình thành; các hoạt động bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, phòng, chống, giảm thiểu tác tác hại do nước gây ra cũng chưa được xác định rõ. Nhìn chung, phương châm chủ yếu của quy hoạch thủy lợi theo tiêu chuẩn ngành 14 TCN 87 – 1995 là tạo nguồn và phòng chống lũ lụt bằng các biện pháp công trình (cụ thể: quy định tại khoản 1.9 của tiêu chuẩn). Khi tiến hành xây dựng tiêu chuẩn ngành về quy hoạch thủy lợi, quan điểm “phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường” chưa được xác định một cách rõ nét. + Mối liên hệ giữa các quy hoạch chuyên ngành trong quy hoạch thủy lợi (quy định tại khoản 1.3 của tiêu chuẩn) còn mờ nhạt và dẫn đến việc quy định tiến hành một loạt các quy hoạch chuyên ngành trong quy hoạch thủy lợi ít mang tính khả thi.