Tổng quan nghiên cứu

Lưu vực sông Cả là một trong những hệ thống thủy văn liên quốc gia trọng yếu tại khu vực Bắc Trung Bộ với tổng lượng dòng chảy trung bình nhiều năm đạt 24,6 tỷ m3, trong đó phần dòng chảy sản sinh trên lãnh thổ Việt Nam chiếm khoảng 78% (tương đương 18,4 tỷ m3 đến 19,3 tỷ m3). Mặc dù tổng lượng tài nguyên nước dồi dào, sự phân bổ nguồn nước lại biến động khốc liệt theo không gian và thời gian khi mùa lũ chiếm tới 70% đến 75% lượng nước cả năm, trong khi mùa kiệt chỉ cung cấp 25% đến 30%. Sức ép gia tăng dân số với dự báo đạt 4,5 triệu người vào năm 2020 cùng quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã khiến lưu vực đối mặt với nguy cơ hạn hán cục bộ, suy thoái môi trường và xâm nhập mặn sâu.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là xây dựng và đề xuất hệ thống các quy hoạch thành phần đồng bộ phục vụ Quy hoạch tổng hợp tài nguyên nước lưu vực sông Cả giai đoạn 2011–2020 và tầm nhìn 2030, hướng đến việc phân bổ công bằng, khai thác hiệu quả và bảo vệ bền vững. Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ 17.900 km2 diện tích lưu vực sông Cả thuộc địa phận Việt Nam, trải dài trên 3 tỉnh Nghệ An (14.157,76 km2, chiếm 79,1%), Hà Tĩnh (3.264,67 km2, chiếm 18,2%) và Thanh Hóa (478,27 km2, chiếm 2,7%). Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình thể hiện ở việc lượng hóa cán cân cung - cầu nước cho 14 tiểu vùng, tối ưu hóa năng lực cấp nước của hơn 1.186 công trình thủy lợi hiện có nhằm nâng cao hiệu suất khai thác thực tế vốn chỉ đạt 58% so với thiết kế, đồng thời giảm thiểu tổn thất kinh tế do thiên tai lũ lụt vượt mức 500 tỷ đồng mỗi năm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nguyên lý Quản lý tổng hợp tài nguyên nước (IWRM) theo tiếp cận lưu vực sông và Lý thuyết cân bằng nước hệ thống động lực học lưu vực. Về mặt pháp lý và quy chuẩn kỹ thuật, đề tài bám sát Nghị định số 120/2008/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý tổng hợp tài nguyên nước lưu vực sông, Thông tư số 15/2009/TT-BTNMT quy định định mức kinh tế - kỹ thuật lập quy hoạch tài nguyên nước, cùng Chỉ thị khung về Nước số 2000/60/EC của Liên minh Châu Âu.

Các khái niệm nền tảng được định hình rõ ràng bao gồm: (1) Quản lý lưu vực sông liên ngành; (2) Dòng chảy tối thiểu và nhu cầu môi trường; (3) Cân bằng nước tiểu lưu vực; (4) Quy hoạch phân bổ nguồn nước mặt; và (5) Phân vùng phòng chống tác hại do nước gây ra. Mô hình toán MIKE BASIN được lựa chọn làm công cụ tính toán cốt lõi kết hợp thuật toán tối ưu hóa phân bổ nguồn nước nhằm mô phỏng mạng lưới thủy văn gồm 7 tiểu lưu vực chính và 14 vùng hưởng lợi tưới tiêu trên toàn bộ hệ thống sông Cả với diện tích 27.200 km2.

Phương pháp nghiên cứu

Tác giả thiết lập hệ thống phương pháp nghiên cứu liên ngành toàn diện với chuỗi dữ liệu thủy văn khí tượng kéo dài liên tục gần 50 năm (giai đoạn từ năm 1959 đến năm 2008) tại 22 trạm quan trắc thủy văn và 11 trạm khí tượng lớn trên toàn lưu vực như Cửa Rào, Đô Lương, Dừa, Nghĩa Khánh và Linh Cảm. Phương pháp chọn mẫu dữ liệu được thực hiện theo tiêu chuẩn quan trắc khí tượng thủy văn quốc gia với 100% dữ liệu chuỗi thời gian được kiểm tra tính đồng nhất, phục hồi số liệu khuyết tật và tính toán tần suất dòng chảy theo phân bố Pearson loại III ở các cấp tần suất thiết kế gồm 5%, 10%, 50%, 75% và 85%.

Lý do lựa chọn phương pháp mô hình hóa cân bằng nước thông qua phần mềm chuyên dụng MIKE BASIN là do khả năng xử lý bài toán thủy văn mạng lưới không gian phức tạp, tích hợp đồng thời 633 hồ chứa, 415 trạm bơm và hệ thống cống đập ngăn mặn với bước thời gian tính toán theo từng tháng. Bên cạnh đó, nghiên cứu kết hợp phương pháp điều tra thống kê xã hội học trên địa bàn 23 huyện thị thuộc 3 tỉnh, phương pháp phân tích chỉ số khan hiếm nước và đối chiếu tiêu chuẩn TCXDVN 33:2006 để dự báo chính xác nhu cầu sử dụng nước đa mục tiêu đến năm 2020.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nghiên cứu phát hiện sự mất cân đối nghiêm trọng giữa năng lực thiết kế và công suất vận hành thực tế của hệ thống công trình thủy lợi: Trên toàn lưu vực có 1.186 công trình tưới phục vụ 177.131 ha theo thiết kế, nhưng thực tế chỉ đáp ứng được khoảng 58% diện tích; cụ thể 633 hồ chứa chỉ đạt 49% công suất thiết kế (tưới 42.431 ha trên tổng số 83.518 ha thiết kế) và 415 trạm bơm chỉ phục vụ 54.605 ha (đạt 58% thiết kế).

Thứ hai, kết quả cân bằng nước chỉ ra tình trạng thiếu nước cục bộ gay gắt vào mùa khô (tháng 3 đến tháng 6): Dòng chảy kiệt tại hạ lưu sông Cả chỉ đạt mô-đun 17,8 l/s.km2 đến 20,0 l/s.km2, dẫn đến 297 hồ chứa bị cạn trơ đáy và gần 50% số hồ do địa phương quản lý chỉ còn 15% đến 30% dung tích hữu ích, khiến tỷ lệ diện tích đất canh tác bị hạn hán tăng từ 4,0% năm 2006 lên mức 14,0% vào năm 2010.

Thứ ba, sự gia tăng áp lực ô nhiễm môi trường nước và xâm nhập mặn sâu: Lưu lượng nước thải sinh hoạt và công nghiệp xả thẳng ra lưu vực đạt khoảng 220.000 m3/ngày-đêm (trong đó sinh hoạt chiếm 84,6%, công nghiệp chiếm 15,6%) nhưng tỷ lệ được xử lý đạt chuẩn chỉ khoảng 10%. Hiện tượng suy giảm dòng chảy mùa kiệt kết hợp khai thác nước dưới đất quá mức đã đẩy độ mặn tại cống Ba Ra - Nghi Quang lên 8‰ ở mặt và 30‰ ở đáy, cống Trung Lương đạt 7,8‰, vượt ngưỡng an toàn tưới tiêu nông nghiệp quy chuẩn là dưới 1‰.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của các tồn tại nêu trên bắt nguồn từ sự kết hợp giữa biến đổi khí hậu cực đoan và việc thiếu vắng quy trình vận hành liên hồ chứa đa mục tiêu tại thượng nguồn. Dòng chính sông Cả tiếp nhận tới 76,5% dòng chảy tại trạm Dừa (lưu lượng trung bình 416 m3/s), song 135 đập dâng miền núi lấy nước trực tiếp đã triệt tiêu dòng chảy cơ bản hạ du. Khi đối chiếu với Quy hoạch tổng hợp sử dụng nguồn nước lưu vực sông Cả năm 2006 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, nghiên cứu này đã khắc phục hoàn toàn nhược điểm quản lý đơn ngành bằng cách tích hợp đồng bộ giữa giải pháp công trình và phi công trình.

Về mặt trực quan hóa học thuật, các chuỗi số liệu tính toán cân bằng nước nên được biểu diễn thông qua biểu đồ đường phân phối lưu lượng dòng chảy theo 12 tháng tại các trạm quan trắc chính nhằm làm nổi bật độ dốc kiệt vào tháng 3 và tháng 4. Đồng thời, bảng ma trận phân bổ nước cho 14 tiểu vùng và bản đồ GIS không gian thể hiện ranh giới xâm nhập mặn với các đường đẳng trị độ mặn (1‰, 4‰, 8‰) sẽ cung cấp công cụ trực quan hóa hữu hiệu, hỗ trợ cơ quan quản lý ban hành quyết định điều tiết xả nước tức thời từ các hồ thủy điện Bản Vẽ, Khe Bố cho vùng hạ du.

Đề xuất và khuyến nghị

Trên cơ sở kết quả mô phỏng bài toán cân bằng nước và phân tích thách thức lưu vực, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược trọng tâm:

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế và nâng cấp mô hình quản lý tổng hợp lưu vực sông: Ủy ban nhân dân 3 tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường thành lập Ủy ban Lưu vực sông Cả có thẩm quyền điều phối liên tỉnh giai đoạn 2013–2015; phấn đấu đến năm 2020 ban hành đầy đủ khung quy chế điều hòa 100% nguồn nước mặt liên vùng theo đúng Luật Tài nguyên nước năm 2012.

Thứ hai, thiết lập và ban hành quy trình vận hành liên hồ chứa đa mục tiêu: Tập đoàn Điện lực Việt Nam và Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hoàn thiện quy chế phối hợp xả nước mùa cạn từ các hồ Bản Vẽ, Khe Bố, Bản Mồng trong giai đoạn 2014–2016; bảo đảm duy trì lưu lượng dòng chảy tối thiểu sau đập Đô Lương không thấp hơn 37,7 m3/s, giúp hạ độ mặn tại cống lấy nước Nam Đàn xuống dưới 1‰.

Thứ ba, hiện đại hóa hạ tầng thủy nông và kiểm soát ô nhiễm nguồn nước: Công ty TNHH MTV Thủy lợi Bắc và Nam Nghệ An tiến hành kiên cố hóa kênh mương, nâng hiệu suất tưới tiêu từ 58% lên 85% vào năm 2020 cho 177.131 ha đất canh tác; đồng thời Sở Tài nguyên và Môi trường các địa phương kiểm soát nghiêm ngặt các điểm xả thải, nâng tỷ lệ xử lý nước thải sinh hoạt và công nghiệp đạt chuẩn từ 10% hiện nay lên trên 60% vào năm 2020 đối với lượng nước thải 220.000 m3/ngày.

Thứ tư, đẩy mạnh các giải pháp phi công trình và quản trị nước dựa vào cộng đồng: Ban Quản lý rừng phòng hộ phối hợp với cộng đồng dân cư địa phương triển khai trồng mới và phục hồi 15.000 ha rừng đầu nguồn giai đoạn 2015–2020; xây dựng mạng lưới quan trắc tự động gồm 22 trạm thủy văn truyền tin thời gian thực nhằm giảm thiểu trên 30% tổn thất kinh tế do lũ lụt gây ra.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo học thuật và thực tiễn có giá trị cao cho 4 nhóm đối tượng trọng điểm:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường: Các Sở Tài nguyên và Môi trường tại Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa sử dụng bộ cơ sở dữ liệu về 14 tiểu vùng và quy chuẩn phân bổ 24,6 tỷ m3 nước mặt làm căn cứ pháp lý phê duyệt quy hoạch tài nguyên nước và cấp phép khai thác nguồn nước.
  2. Đơn vị quy hoạch nông nghiệp và phát triển nông thôn: Các Viện Quy hoạch Thủy lợi, Chi cục Thủy lợi ứng dụng kết quả tính toán cân bằng nước để tái cơ cấu 1.186 công trình thủy nông, tối ưu hóa cấp nước cho 253.177 ha đất sản xuất nông nghiệp và 21.656 ha nuôi trồng thủy sản.
  3. Đơn vị quản lý và vận hành hồ chứa thủy điện, thủy lợi: Ban quản lý các hồ Bản Vẽ, Khe Bố, Bản Mồng tham khảo các thông số lưu lượng dòng kiệt và mô hình MIKE BASIN để xây dựng kịch bản xả nước điều tiết chống hạn mùa khô và cắt lũ mùa mưa.
  4. Giảng viên, học viên sau đại học và nhà nghiên cứu: Các nhà nghiên cứu chuyên ngành Kỹ thuật tài nguyên nước, Thủy văn học sử dụng phương pháp luận mô phỏng chuỗi thủy văn 50 năm (1959–2008) làm tài liệu nghiên cứu và phát triển các đề tài mở rộng về biến đổi khí hậu.

Câu hỏi thường gặp

Tổng lượng tài nguyên nước lưu vực sông Cả phân bố giữa Việt Nam và Lào như thế nào? Tổng lượng dòng chảy trung bình nhiều năm trên toàn lưu vực đạt khoảng 24,6 tỷ m3 với diện tích 27.200 km2. Trong đó, lượng dòng chảy sản sinh trên phần lãnh thổ Việt Nam (diện tích 17.900 km2) chiếm khoảng 78%, tương đương 18,4 đến 19,3 tỷ m3, phần còn lại bắt nguồn từ lãnh thổ nước bạn Lào đóng góp khoảng 22% tổng lượng dòng chảy toàn hệ thống.

Tại sao lưu vực sông Cả giàu tài nguyên nước nhưng vẫn chịu hạn hán nặng nề trong mùa khô? Dòng chảy sông Cả phân bố cực kỳ mất cân đối khi mùa lũ chiếm tới 70% đến 75% tổng lượng nước cả năm, trong khi mùa khô (tháng 3 đến tháng 6) chỉ chiếm 25% đến 30%. Điển hình trong giai đoạn 2006–2010, tỷ lệ diện tích đất canh tác bị hạn tăng từ 4,0% lên 14,0%, khiến 297 hồ chứa bị cạn kiệt do thiếu hồ tạo nguồn ở thượng lưu.

Hiệu quả vận hành thực tế của các công trình thủy lợi trên lưu vực sông Cả hiện nay ra sao? Hệ thống thủy nông trên lưu vực sông Cả gồm 1.186 công trình phục vụ tưới nhưng hiệu suất thực tế mới chỉ đạt 58% so với năng lực thiết kế 177.131 ha. Cụ thể, 633 hồ chứa có tổng dung tích hữu ích gần 600 triệu m3 chỉ tưới được 42.431 ha (đạt 49% thiết kế), và 415 trạm bơm chỉ đáp ứng được 54.605 ha diện tích canh tác.

Tình trạng ô nhiễm nguồn nước và xâm nhập mặn trên lưu vực sông Cả đang diễn biến ở mức độ nào? Mỗi ngày lưu vực tiếp nhận khoảng 220.000 m3 nước thải (sinh hoạt chiếm 84,6%, công nghiệp chiếm 15,6%) nhưng chỉ 10% được xử lý đạt chuẩn. Mùa kiệt, độ mặn tại cống Ba Ra - Nghi Quang lên tới 8‰ tầng mặt và 30‰ tầng đáy, còn cống Trung Lương ghi nhận 7,8‰, vượt xa ngưỡng cho phép tưới nông nghiệp là dưới 1‰.

Mô hình toán MIKE BASIN đóng vai trò gì trong việc giải bài toán cân bằng nước của luận văn? Mô hình MIKE BASIN được ứng dụng để mô phỏng mạng lưới phân phối dòng chảy tích hợp chuỗi số liệu 50 năm (1959–2008) cho 7 tiểu lưu vực và 14 vùng tiêu thụ nước. Công cụ này tính toán chi tiết nhu cầu nước 1.636 triệu m3 cho nông nghiệp và 29,1 triệu m3 cấp nước đô thị, xác định chính xác các nút thiếu hụt tài nguyên nước.

Kết luận

Luận văn thạc sĩ đã hoàn thành xuất sắc các mục tiêu nghiên cứu với 5 đóng góp khoa học và thực tiễn mang tính then chốt:

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở dữ liệu thủy văn khí tượng 50 năm (1959–2008) và đánh giá hiện trạng khai thác nguồn nước mặt 24,6 tỷ m3 trên 17.900 km2 lãnh thổ lưu vực sông Cả.
  • Ứng dụng thành công mô hình MIKE BASIN lượng hóa chi tiết cân bằng nước cho 14 tiểu vùng, chỉ rõ mức độ thiếu hụt nguồn nước trong mùa khô của 1.186 công trình thủy nông.
  • Nhận diện chính xác 4 thách thức cốt lõi gồm: biến động dòng chảy theo mùa (lũ chiếm 75%, cạn chiếm 25%), hiệu suất công trình thấp (58%), ô nhiễm nước thải (220.000 m3/ngày) và xâm nhập mặn sâu (đạt 30‰).
  • Đề xuất khung quy hoạch phân bổ tài nguyên nước mặt và định hình thứ tự ưu tiên cho các quy hoạch thành phần phù hợp với Nghị định 120/2008/NĐ-CP và Luật Tài nguyên nước 2012.
  • Xác lập 4 nhóm giải pháp kỹ thuật, công nghệ và thể chế đồng bộ với lộ trình thực hiện cụ thể đến năm 2020 và tầm nhìn 2030.

Lộ trình tiếp theo yêu cầu các địa phương hoàn thiện quy trình liên hồ chứa trong giai đoạn 2014–2016 và nâng cấp hạ tầng quan trắc tự động trước năm 2020. Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và cơ quan hữu quan hãy ứng dụng ngay kết quả nghiên cứu của luận văn để tối ưu hóa quản lý tài nguyên nước và phát triển kinh tế bền vững cho toàn lưu vực sông Cả.