CHƯƠNG I: TỔNG QUAN 1.1 Tổng quan chung về quản lý hệ thống cấp nước 1.1 Các mô hình quản lý hệ thống cấp nước trên thế giới: Từ ngày xưa con người đã biết sử dụng các nguồn nước phục vụ cho sinh hoạt, ăn, uống, nuôi trồng, sản xuất có sẳn trong tự nhiên như từ các sông, suối, ao, hồ, từ các giếng đào, hồ chứa nước. Xã hội ngày càng phát triển con người biết sử dụng đến các công trình xử lý nước nhằm nâng cao giá trị của chất lượng và cho sức khỏe của con người. Trên thế giới mô hình quản lý cấp nước chung cũng là các Công ty cấp nước do nhà nước quản lý, đến các trung tâm và các công ty tư nhân phục vụ quản lý và cung cấp nước cho người dân sử dụng. Đất nước Hà Lan là một quốc gia có mật độ dân số khá cao nhưng với gần 2/3 diện tích lãnh thổ nằm dưới mực nước biển, Hà Lan chịu ảnh hưởng nhiều nhất từ biến đổi khí hậu.
Nhưng những sự cố vỡ đê dường như chưa bao giờ làm nhục chí, mà trái lại còn làm người Hà Lan trở nên mạnh mẽ và khôn ngoan hơn trong việc trị thủy và ngày nay, người Hà Lan không coi biến đổi khí hậu là nguy cơ, thách thức đối với nền kinh tế…, mà còn nhìn nhận đó là cơ hội… Ở Hà Lan các ủy ban về nước (water board) - một thể chế bao gồm chính quyền địa phương, các cơ quan chuyên môn và các tổ chức đại diện cho người dân trên địa bàn cả về quyền lợi và nghĩa vụ… đã có từ 700 năm nay, và hiện nay, số lượng ủy ban chỉ còn lại 27, nhằm tăng cường về nguồn lực và sự phối hợp được nhanh chóng và tập trung hơn. Đảo quốc Malta có lẽ là quốc gia duy nhất trên thế giới không có sông, suối, hồ nước ngọt tự nhiên. Bên cạnh đó, lượng mưa ghi nhận tại Malta hàng năm chỉ là 550mm nên người dân buộc phải đào giếng tự phát. Dù vậy, đây hoàn toàn không phải là giải pháp lâu dài bởi theo quy định của Liên minh châu Âu (Malta là thành viên từ năm 2004), việc khai thác các giếng nước ngọt phải được kiểm soát theo quy hoạch và chịu thuế.
Hơn nữa, theo tính toán của Tổ chức Nông lương Thế giới (FAO), các nguồn 4 nước ngọt của Malta sẽ cạn kiệt trong vài thập kỷ tới. Để đối phó với thực trạng này, các cơ quan chức năng Malta đã nghĩ ngay đến nước biển - nguồn tài nguyên gần như vô tận đối với quốc đảo. Hiện tại, nguồn nước ngọt được lọc từ nước biển đã trở thành nguồn nước quan trọng đứng thứ hai của người dân Malta. Hầu hết, nước sinh hoạt hàng ngày tại các đô thị ở Malta là nước được xử lý, tẩy mặn từ nước biển thông qua các nhà máy lớn với công nghệ hiện đại.
Cũng nhờ công nghệ tẩy mặn nước biển, trong tương lai gần, người dân Malta hiện không quá phải lo lắng thiếu nước ngọt cho sinh hoạt và sản xuất. Tuy nhiên, nước biển có thể là nguyên liệu vô hạn nhưng để tẩy mặn nước biển lại cần sử dụng rất nhiều năng lượng truyền thống có thể gây hiệu ứng nhà kính tăng cao. Theo đại diện Cơ quan Quản lý tài nguyên Malta, giải pháp bền vững nhất để đảm bảo nguồn tài nguyên nước ngọt trong tương lai vẫn là ý thức tiết kiệm của người dân.2 Các mô hình quản lý hệ thống cấp nước ở Việt Nam: * Tại các đô thị và thị xã: NHà nước quả lý, Bộ xây dựng là đơn vị đầu mối. UBND cấp tỉnh là đơn vị quản lý trực tiếp tại địa phương quản lý chung các đơn vị cấp nước trong địa bàn tỉnh.
ở các đô thị đa số các đơn vị cấp nước là các công ty cổ phẩn cấp nước là đơn vị quyết định và ban hánh các đơn giá tiền nước. Tùy theo mỗi địa phương mà đơn vị quản lý có cách gọi và đặt tên khác nhau. Có nơi là công ty cấp thoát nước, công ty cổ phần cấp nước, công ty TNHH MTV cấp nước… tuy có tên gọi khác nhau nhưng mục đính chính vẫn vag cung cấp nước cho người dân sử dụng được nguồn nước sạch. Hiện nay chính sách chung của đảng và nhà nước là cổ phần hóa các dơn vị cung cấp nước dơ nhà nước quản lý và kêu gọi đầu tư các công trình cấp nước mới với hình thức xã hội hóa với 100% là nguồn vốn sử dụng điều là của tư nhân.
Công tác quản lý vận hành và cung cấp nước để bán cho người dân đều qua đồng hồ đo nước tại các hộ gia đình quy ra giá trị trên một mét khối nước được nhà nước ban hành theo một giá trị cụ thể. Việc lắp đặt hệ thống đấu nối khách hàng kể cả thủy lượng kế do các đơn vị cấp nước đầu tư theo quy định tại Nghị định số 117/2007/NĐ – CP ngày 11 tháng 7 năm 2007 về sản xuất, cung cấp và tiêu thụ nước sạch.1: Sơ đồ tổ chức quản lý hệ thống cấp nước ở Việt Nam khu vực thành thị. Tại các khu vực nông thôn: Đảng và nhà nước ta luôn chú trọng đến cung cấp nước cho người dân trên địa bàn nông thôn để đảm bảo tình hình sức khỏe. Việt Nam phấn đấu đến năm 2020, 95% dân số được sử dụng nước hợp vệ sinh, 55% dân số sử dụng nước sạch.
Tuy nhiên, một số trở ngại trong việc cấp nước sạch nông thôn hiện nay là chúng ta chưa xây dựng được cơ chế, chính sách phù hợp vùng, miền, đối tượng. Việc cấp nước không bền vững, chất lượng nước còn dễ bị ô nhiễm vì cấp nước nhỏ lẻ là chủ yếu (chiếm gần 60%). Mặt khác, nguồn hỗ trợ quốc tế cho cấp nước sạch nông thôn giảm. Ngoài ra, tác động của biến đổi khí hậu đang đe dọa chất lượng nguồn nước, đặc biệt là trường hợp xảy ra thiên tai, nhiều nơi khó tiếp cận nguồn nước sạch.
Ô nhiễm môi trường nước có xu thế ngày càng tăng, trong khi ở một số khu vực (như Tây Nguyên), việc quản lý và vận hành công trình thiếu bền vững và chậm khắc phục. Hiện nay, chúng ta có tổng cộng 16.342 công trình cấp nước sạch tập trung, nhưng chỉ có 33,5% công trình hoạt động bền vững; 37,8% hoạt động trung bình và 28,7% hoạt 6 động kém hiệu quả và không hoạt động. Trong đó, số công trình cấp nước nhỏ lẻ hợp vệ sinh chiếm tới 56,5% dân số nông thôn. Để tạo điều kiện cho nhiều người dân được tiếp cận với nước sạch, góp phần hoàn thành tiêu chí nước sạch theo chương trình xây dựng nông thôn mới, các địa phương cần lồng ghép đầu tư xây dựng chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn với các chương trình xây dựng nông thôn mới, xóa đói, giảm nghèo.
Đồng thời, tiếp tục đẩy mạnh xã hội hóa đầu tư cấp nước, cũng như thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp để giảm tỷ lệ thất thoát, thất thu nước sạch. Các bộ, ngành, địa phương, cơ quan đoàn thể đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về quản lý, sử dụng, khai thác công trình cấp nước sạch nông thôn theo phạm vi trách nhiệm của mình, phối hợp với các cơ quan thông tin đại chúng và trường học tổ chức phổ biến, giáo dục, hướng dẫn nhân dân, học sinh tham gia bảo vệ công trình cấp nước, sử dụng nước tiết kiệm và chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật về cấp nước. Ở nước ta hiện nay các công trình cấp nước đa số là các công trình nhỏ lẽ có công suất từ 7m3/h đến 40m3/h hoạt động thường xuyên, được quản lý bởi các Trung tâm nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn các tỉnh. Quy mô công trình trung bình (công suất từ 300 – 500 m3/ngày đêm) và quy mô lớn (công suất >500 m3/ngày đêm).
Phạm vi cấp nước cho liên thôn (đồng bằng), liên bản (miền núi), xã liên xã. Trình độ, năng lực quản lý, vận hành công trình thuộc loại trung bình hoặc cao. Mô hình tổ chức gồm: Giám đốc, các phó giám đốc và các phòng nghiệp vụ (phòng quản lý cấp nước, phòng tổ chức – hành chính, phòng kỹ thuật, phòng kế hoạch – tài chính…) và trạm cấp nước. Giám đốc chịu trách nhiệm chung, trực tiếp quản lý phòng tổ chức – hành chính, kế hoạch – tài chính.
Các phó giám đốc phụ trách các phòng chuyên môn và các tổ chức quản lý vận hành. Các phòng ban giúp việc cho giám đốc theo chuyên môn, nhiệm vụ được giao. Mỗi trạm cấp nước thành lập một tổ quản lý vận hành trực thuộc phòng quản lý cấp 7 nước và chịu trách nhiệm sự quản lý của các phòng chức năng thuộc Trung tâm, trực tiếp quản lý, vận hành công trình. Thực hiện bảo trì, bảo dưỡng thường xuyên, sửa chữa những hư hỏng, đọc đồng hồ và ghi chép số lượng nước sử dụng của các hộ dùng nước, thu tiền nước của người sử dụng và nộp lên bộ phận kế toán.
Mỗi tổ quản lý từ 3 – 5 người (1 tổ trưởng 3 – 4 cán bộ vận hành bảo dưỡng) Tại tỉnh Sóc Trăng Khu vực nông thôn phần là Trung tâm nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Sóc Trăng quản lý. Mô hình này đảm bảo cung cấp nước có chất lượng mà giá thành phù hợp với người dân. Mô hình cũng nhận được nhiều nguồn tài trợ từ các tổ chức trong nước và ngoài nước ( tổ chức Care, nguồn vốn ODA, dự án WB, quỷ phòng chống thiên tai miền trung…), do đó cải thiện được kỹ thuật, áp dụng công nghệ kỹ thuật tiên tiến trong quá trình xử lý nước đồng thời quan tâm tới vấn đề bảo vệ môi trường và an ninh – xã hội.2: Sơ đồ tổ chức quản lý hệ thống cấp nước ở Việt Nam khu vực nông thôn 8 Hình 1.3: Sơ đồ tổ chức quản lý hệ thống cấp nước ở Việt Nam tư nhân quản lý Cơ cấu tổ chức của mô hình gồm: Giám đốc và các phòng ban giúp việc, Ban kiểm soát, Trạm cấp nước, cán bộ, công nhân vận hành duy tu bảo dưỡng công trình được tuyển dụng theo đúng nghiệp vụ, chuyên môn về quản lý, công nghệ kỹ thuật cấp nước, được đào tạo, có bằng cấp chuyên môn. Nhiệm vụ: Sản xuất kinh doanh ngành nghề dịch vụ cung cấp nước sạch cho người sử dụng theo hợp đồng thỏa thuận, thực hiện chế độ tài chính quy định của Nhà nước.