phần mở đầu, mục lục, danh mục các bảng, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả hoạt động và các nhân tố ảnh hƣởng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Chƣơng 2: Thiết kế nghiên cứu. Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu. Chƣơng 4: Hàm ý chính sách và kiến nghị.
Luan van 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP 1. HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP 1. K á n ệm ệu quả oạt độn ủ o n n ệp Theo từ điển kinh tế Anh Việt: Hiệu quả là mối tƣơng quan giữa đầu vào của các yếu tố khan hiếm với đầu ra là những hàng hóa, dịch vụ. Tùy theo hình thái đo lƣờng khác nhau mà hiệu quả đƣợc gọi là hiệu quả kỹ thuật (đo lƣờng bằng hiện vật) hoặc hiệu quả kinh tế (đo lƣờng bằng chi phí).
Trong thực tiễn đời sống xã hội tồn tại rất nhiều mặt hoạt động khác nhau nhƣ kinh tế, chính trị, xã hội,…Do vậy, khi nói đến hiệu quả của một lĩnh vực nào đó ngƣời ta gắn tên của lĩnh vực đó liền ngay sau hiệu quả nhƣ hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả chính trị…Hiệu quả kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt đƣợc mục tiêu kinh tế trong một thời kỳ hay một giai đoạn nhất định. Trong phạm vi từng doanh nghiệp riêng lẻ thì hiệu quả kinh tế chính là hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Theo Giáo trình Quản trị kinh doanh tổng hợp trong các doanh nghiệp của GS. Ngô Đình Giao.
NXB Khoa học kỹ thuật, Hà Nội - 1997, trang 408 cho rằng: “Hiệu quả kinh tế của một hiện tƣợng (hoặc quá trình) kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực, tiền vốn) để đạt đƣợc mục tiêu xác định, nó biểu hiện mối quan hệ tƣơng quan giữa kết quả thu đƣợc và toàn bộ chi phí bỏ ra để có kết quả đó, phản ánh đƣợc chất lƣợng của hoạt động kinh tế đó” Từ định nghĩa về hiệu quả kinh tế của một hiện tƣợng nhƣ trên ta có thể hiểu hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt đƣợc mục tiêu đã đặt ra, nó biểu hiện Luan van 9 mối tƣơng quan giữa kết quả thu đƣợc và những chi phí bỏ ra để có đƣợc kết quả đó, độ chênh lệch giữa hai đại lƣợng này càng lớn thì hiệu quả càng cao. Trên góc độ này thì hiệu quả đồng nhất với lợi nhuận của doanh nghiệp và khả năng đáp ứng về mặt chất lƣợng của sản phẩm đối với nhu cầu của thị trƣờng. Theo giáo trình Phân tích hoạt động kinh doanh phần II của PGS.Trƣơng Bá Thanh và TS.Trần Đình Khôi Nguyên - trƣờng Đại học Kinh tế Đà Nẵng thì hiệu quả đƣợc xem xét giữa mối quan hệ đầu ra là kết quả của doanh nghiệp (doanh thu, lợi nhuận, giá trị sản xuất, giá trị tăng thêm…) với đầu vào là các nguồn lực sử dụng (tài sản, vốn chủ sở hữu, nguồn nhân lực…). Nhƣ vậy, chỉ tiêu phân tích chung về hiệu quả cơ bản đƣợc tính nhƣ sau: Đầu ra Hiệu quả hoạt động = Đầu vào Hiệu quả hoạt động doanh nghiệp thƣờng đƣợc xem xét trên hai góc độ là hiệu quả hoạt động kinh doanh và hiệu quả hoạt động tài chính.
Hệ t ốn ỉ t êu đán á ệu quả oạt độn n o n Có nhiều chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Tuy nhiên, chỉ tiêu đƣợc nhiều nghiên cứu quan tâm là: Tỷ lệ lợi nhuận trên vốn (ROI), tỷ lệ lợi nhuận trên tài sản (ROA), tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE), tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu (ROS) và tỷ lệ lãi cơ bản trên cổ phiếu phổ thông (EPS) để nghiên cứu về hiệu quả hoạt động trong doanh nghiệp. Các chỉ tiêu này đƣợc quan tâm nhiều vì nó liên quan đến lợi ích của nhà quản lý, chủ đầu tƣ, khách hàng, đối tác. và xét cho cùng đó là chỉ tiêu lợi nhuận đối với các bên có liên quan đến doanh nghiệp.
Lợi nhuận là chỉ tiêu cuối cùng phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh trong doanh nghiệp. Chỉ tiêu lợi nhuận là chỉ tiêu số tuyệt đối không có ý nghĩa nhiều trong công Luan van 10 tác phân tích, so sánh, thống kê. Do vậy, lựa chọn các chỉ tiêu tỷ suất liên quan đến lợi nhuận nhƣ: ROI, ROS, ROA, ROE, EPS sẽ có ý nghĩa so sánh hiệu quả hoạt động giữa các chủ thể khác nhau về thời gian, không gian. + Tỷ lệ lợi nhuận trên vốn (ROI): trong quá trình kinh doanh, doanh nghiệp muốn lấy thu bù chi và có lãi, bằng cách so sánh lợi nhuận với vốn đầu tƣ sẽ thấy đƣợc khả năng tạo ra lợi nhuận của doanh nghiệp từ vốn, có thể tính bằng công thức: Tỷ lệ lợi nhuận trên vốn Tổng lợi nhuận trƣớc thuế và lãi vay = (ROI) Tổng vốn bình quân Tổng vốn bình quân đƣợc hiểu là tổng tài sản bình quân: Tổng tài sản bình quân = Tổng tài sản của năm/ 4 + Tỷ lệ lợi nhuận trên tài sản (ROA): trong quá trình tiến hành hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp đều mong muốn có lãi, bằng cách so sánh lợi nhuận với tài sản đầu tƣ sẽ thấy đƣợc khả năng tạo ra lợi nhuận từ tài sản, có thể xác định bằng công thức: Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản Lợi nhuận trƣớc thuế = (ROA) Tổng tài sản bình quân Chỉ tiêu này cho biết doanh nghiệp bỏ ra 1 đồng tài sản đầu tƣ thì thu đƣợc bao nhiêu đồng lợi nhuận trƣớc thuế, chỉ tiêu này càng cao, chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản tốt, đó là nhân tố góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Tỷ suất sinh lời tài sản có thể đƣợc viết lại theo phƣơng trình Dupont nhƣ sau: Lợi nhuận trƣớc thuế Doanh thu ROA = x x 100% Doanh thu Tổng tài sản BQ Luan van 11 Hay ROA = Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu x Hiệu suất sử dụng tài sản Từ phƣơng trình trên cho thấy tỷ suất sinh lời tài sản có mối quan hệ với tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu và hiệu suất sử dụng tài sản. Tuy nhiên chỉ tiêu ROA chƣa phản ánh đầy đủ hiệu quả kinh doanh vì lợi nhuận còn chịu tác động bởi chính sách tài trợ. + Tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE): là chỉ tiêu phán ánh một đơn vị vốn đầu tƣ của chủ sở hữu đem lại bao nhiêu đơn vị lợi nhuận sau thuế. Trị số của chỉ tiêu này càng lớn, chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp càng tốt, góp phần nâng cao khả năng đầu tƣ của chủ doanh nghiệp và đƣợc xác định theo công thức: Tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở Lợi nhuận sau thuế = hữu (ROE) Vốn chủ sở hữu bình quân Trong đó, số vốn chủ sở hữu bình quân đƣợc xác định bằng trung bình giữa vốn chủ sở hữu cuối kỳ và đầu kỳ: Vốn chủ sở hữu bình quân = (Số vốn chủ sở hữu hiện có đầu kỳ + Số vốn chủ sở hữu hiện có cuối kỳ)/ 2 Tiếp cận theo quan điểm của Bied – Charreton (1920) dƣới dạng khai triển phƣơng trình Du-pont về các nhân tố ảnh hƣởng đến tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu nhƣ sau: Lợi nhuận Doanh thu Tổng tài sản BQ trƣớc thuế ROE = x x x 100% Tổng tài sản Doanh thu VCSH BQ BQ Từ phƣơng trình Dupont cho thấy mối liên hệ giữa tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu (ROE) với tỷ suất sinh lời doanh thu và hiệu suất quản lý tài sản.
Hay ROE và hiệu quả hoạt động kinh doanh có mối quan hệ với nhau. Ngoài Luan van 12 ra, phƣơng trình trên còn cho thấy mối quan hệ giữa hiệu quả tài chính với chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp và cấu trúc tài chính của doanh nghiệp. + Tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu (ROS): chỉ tiêu này cho biết một đơn vị doanh thu thuần đem lại bao nhiêu đơn vị lợi nhuận sau thuế, trị số của chỉ tiêu này càng lớn, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp càng tốt và ngƣợc lại. Trong phân tích kinh doanh, chỉ tiêu này đƣợc sử dụng nhƣ một chỉ tiêu bổ sung để đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp và đƣợc xác định theo công thức: Lợi nhuận sau thuế Tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu = Doanh thu thuần + Lãi cơ bản trên cổ phiếu (EPS): là chỉ tiêu phản ánh mức lợi nhuận mà một cổ phiếu thƣờng có đƣợc trong kỳ.
Chỉ tiêu này đƣợc sử dụng rộng rãi trong CTCP và đƣợc xác định nhƣ sau: Lợi nhuận sau thuế - Cổ tức chi trả cho Lãi cơ bản trên cổ phiếu ƣu đãi = cổ phiếu Số lƣợng cổ phiếu thƣờng bình quân đang lƣu hành Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích, các cổ đông đầu tƣ 1 đồng cổ phiếu phổ thông theo mệnh giá thì thu đƣợc bao nhiêu đồng lợi nhuận, chỉ tiêu này càng cao càng hấp dẫn các nhà đầu tƣ. Việc đo lƣờng hiệu quả hoạt động kinh doanh có thể bị tác động bởi mục tiêu của doanh nghiệp mà mục tiêu này có thể ảnh hƣởng đến việc lựa chọn cách đo lƣờng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Hai chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kế toán đại diện đo lƣờng hiệu quả hoạt động kinh doanh là ROA và ROE đã đƣợc nhiều nhà nghiên cứu sử dụng và trong thực tiễn, các Luan van 13 nhà quản lý doanh nghiệp thƣờng sử dụng những chỉ tiêu tài chính để đo lƣờng, báo cáo và cải thiện hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Tóm lại, hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh rất đa dạng và phong phú, có thể đáp ứng đƣợc nhiều nhu cầu khác nhau nên khi đánh giá hiệu quả doanh nghiệp tùy từng điều kiện cụ thể, cho phép sử dụng những chỉ tiêu chủ yếu nhất để thỏa mãn mục đích nghiên cứu phù hợp nhất.