Đặt vấn đề Đối với các loại ngô thực phẩm, đặc biệt là giống ngô nếp (Zea mays L. Ceratina Kulesh) tuy sản lượng chưa nhiều nhưng nhu cầu sử dụng các giống ngô này trong thời gian gần đây đang tăng nên rất nhanh. Ngô nếp ước tính chiếm khoảng 12% diện tích ngô của cả nước. Chủ yếu là các giống thụ phấn tự do, các giống ngô nếp lai được sản xuất chưa nhiều.
Việc trồng và tiêu thụ ngô nếp chất lượng cao làm lương thực, làm quà không chỉ phù hợp với tập quán của các dân tộc ít người miền núi, đồng bằng mà còn là ở các vùng kinh tế phát triển (thành thị). Muốn phát huy được hiệu quả phân bón cần thiết phải biết được trên đất có thành phần như thế nào, quan hệ giữa phân và nước, giữa phân và đất, phân và giống, giữa phân và chế độ canh tác, mật độ gieo trồng. Trên cơ sở đó, chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến năng suất và chất lượng của giống ngô nếp lai HN88 vụ Xuân 2014 tại Thành phố Thái Nguyên”. Mục tiêu của đề tài Xác định được ảnh hưởng của một số tổ hợp phân bón đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng giống ngô nếp lai HN88, nhằm chọn được công thức phân bón thích hợp.
Yêu cầu của đề tài - Theo dõi thời gian sinh trưởng qua các giai đoạn phát dục của giống ngô nếp lai HN88 qua các tổ hợp phân bón khác nhau. - Đánh giá đặc điểm hình thái và sinh lý của giống ngô nếp lai HN88 qua các tổ hợp phân bón khác nhau. n 2 - Xác định được khả năng chống chịu sâu, bệnh hại và chống đổ của giống ngô nếp lai HN88 qua các tổ hợp phân bón khác nhau. - Đánh giá được năng suất bắp tươi và thân lá tươi của giống ngô nếp lai HN88 qua các tổ hợp phân bón khác nhau.
- Đánh giá được chất lượng ngô nếp luộc chín qua thử nếm. - Đánh giá được năng suất và yếu tố cấu thành năng suất của giống ngô nếp lai HN88 các tổ hợp phân bón khác nhau. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học Đề tài đã xác định được ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến sinh trưởng, phát triển và chất lượng ngô nếp lai.
Ý nghĩa thực tiễn - Đề tài đã xác định được công thức phân bón thích hợp cho giống ngô nếp lai HN88 tại Thành phố Thái Nguyên. - Đề tài góp phần chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tăng vụ nhằm khai thác hết tiềm năng đất đai, góp phần xoá đói giảm nghèo, tăng thu nhập cho các hộ nông dân Thành phố Thái Nguyên. n 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài Trong điều kiện canh tác hiện nay, người nông dân vẫn còn lạm dụng nhiều vào phân bón nhằm tăng năng suất ngô.
Nhưng hiệu quả mà nó mang lại không cao, mặt khác còn gây hậu quả như tăng mức độ sâu bệnh, gây ô nhiễm môi trường, thoái hóa đất. Việc bón phân cho cây ngô theo kinh nghiệm, bón không cân đối, bón theo khả năng kinh tế của mỗi gia đình, bón không hiểu tác dụng của từng loại phân. Đã dẫn đến tình trạng không đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng của cây, trong khi ngô lại là những cây rất phàm ăn, lượng dinh dưỡng cây ngô hút rất lớn nhưng ở mỗi giai đoạn sinh trưởng lượng hút rất khác nhau. Trong giai đoạn cây con, cây sinh trưởng chậm, lượng dinh dưỡng cây hút ít.
Sau đó lượng hút tăng lên rất nhanh do cây sinh trưởng mạnh, kéo theo tích lũy chất khô tăng lên. Xuất phát những cơ sở khoa học trên, chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài này. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới và ở Việt Nam 2. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới Ngô là cây lương thực quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu, mặc dù chỉ đứng thứ về diện tích sau lúa nước và lúa mì, nhưng ngô lại dẫn đầu về năng suất và sản lượng, là cây trồng có tốc độ tăng trưởng về năng suất cao nhất trong các cây lương thực chủ yếu.
Ngô còn là cây điển hình được ứng dụng nhiều thành tựu khoa học về các lĩnh vực di truyền học, chọn giống, công nghệ sinh học, cơ giới hoá, điện khí hoá và tin học. vào công tác nghiên cứu và suất. Do vậy diện tích, năng suất ngô liên tục tăng trong những năm gần đây.1 cho chúng ta thấy, về diện tích năm 2003, diện tích ngô trên toàn thế giới 114,67 triệu ha, thì sau 7 năm con số này đã tăng hơn 23 triệu ha, lên 161,01 triệu ha. Năm 2009 thì lại giảm xuống hơn 4 triệu ha, còn 156,93 triệu ha.
Đến năm 2012 so với năm 2003 thì diện tích trồng ngô trên thế giới tăng hơn 35 triệu ha lên 177,39 triệu ha. Năng suất nhìn chung là tăng năm 2003 là 44, 6 tạ/ha đến năm 2012 là 49,16 tạ/ha tăng lên hơn 5 tạ/ ha. So sánh giữa sản lượng và diện tích thì ta thấy, từ năm 2003 tới năm 2012 thì diện tích tăng hơn 63 triệu ha, thì sản lượng tăng hơn 226 triệu tấn. Năm 2012 diện tích trồng ngô cao nhất là châu Mỹ sau đó là châu Á và châu Phi.
Tình hình sản xuất ngô trên thế giới giai đoạn 2003- 2012 Chỉ tiêu Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (triệu ha) (tạ/ ha) (triệu tấn) 2003 114,67 44,60 645,23 2004 147,47 49,45 729,21 2005 147,44 48,42 713,91 2006 148,61 47,53 706,31 2007 158,60 49,63 788,11 2008 161,01 51,09 822,71 2009 156,93 50,04 790,18 2010 162,32 51,55 820,62 2011 170,39 51,84 883,46 2012 177,39 49,16 872,06 (Nguồn FAOSTAT, 2014) [28] Có được kết quả trên, trước hết là nhờ ứng dụng rộng rãi lý thuyết ưu thế lai trong chọn tạo giống, đồng thời không ngừng cải thiện các biện pháp kỹ thuật canh tác. Đặc biệt, từ năm 1996 đến nay, cùng với những thành tựu mới trong chọn tạo giống ngô lai nhờ kết hợp phương pháp truyền thống với công nghệ sinh học thì việc ứng dụng công nghệ cao trong canh tác cây ngô đã góp phần đưa sản lượng ngô thế giới vượt lên trên lúa mì và lúa nước. Sản xuất ngô ở một số châu lục trên thế giới năm 2012 Diện tích Năng suất Sản lượng Khu vực (triệu ha) (tạ/ ha) (triệu tấn) Châu Á 57,6 50,2 288,8 Châu Mỹ 67,7 61,8 418,2 Châu Âu 18,32 51,7 94,7 Châu Phi 33,7 20,7 51,7 (Nguồn FAOSTAT, 2014)[28] Qua bảng 2.2 ta thấy Châu Mỹ là khu vực có diện tích trồng ngô lớn nhất thế giới với 64,50 triệu ha, đồng thời đây cũng là châu lục có năng suất và sản lượng ngô cao nhất. Năm 2012 năng suất ngô đạt 67,96 tạ/ha, năng suất bình quân của thế giới chỉ bằng 76,28% năng suất của châu lục này.
Sản lượng đạt 418,2 triệu tấn- chiếm hơn 54% sản lượng ngô trên toàn thế giới. Sau châu Mỹ là châu Á có diện tích trồng ngô lớn thứ 2 với 57,6 triệu ha, nhưng năng suất của khu vực này chỉ đạt 50,2 tạ/ha, thấp hơn so với năng suất trung bình của thế giới, sản lượng của châu Á cũng đứng thứ 2 sau châu Mỹ. Châu Âu đứng thứ 2 trên thế giới về năng suất đạt 51,7 tạ/ha nhưng lại là khu vực có diện tích trồng ngô thấp nhất (chỉ 18, 32 triệu ha), châu Phi có diện tích đứng thứ 3 trên thế giới nhưng có năng suất ngô rất thấp, chỉ đạt 20,7 tạ/ ha thấp hơn gần 3 lần so với năng suất bình quân của thế giới, do đó sản lượng ngô của khu vực này cũng thấp nhất. Nguyên nhân của sự phát triển không đồng đều giữa các châu lục trên thế giới là do sự khác nhau rất lớn về trình độ khoa học kỹ thuật, điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế chính trị … Ở châu Mỹ có trình độ khoa học phát triển cao trong khi Châu Phi nền kinh tế kém phát triển cộng thêm tinh hình chính trị an ninh không đảm bảo đã làm cho sản xuất nông nghiệp ở khu vực này tụt hậu so với nhiều khu vực trên thế giới (Nguồn FAOSTAT, 2014) [28].
Sự phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ đã đem lại những kết quả trên, phải kể đến sự đóng góp của việc sử dụng rộng rãi ưu thế lai hay công nghệ chuyển gen - sự kết hợp phương pháp truyền thống với công nghệ sinh học hiện đại tạo ra những giống năng suất cao. Tuy nhiên những thành n 6 tựu trên cũng đi kèm với những nghiên cứu về tác động của môi trường, điều kiện sinh thái lên sự sinh trưởng và phát triển của các giống ngô. Dự báo đến năm 2020, nhu cầu ngô thế giới tăng 45% so với nhu cầu năm 1997, chủ yếu tăng cao ở các nước đang phát triển (72%), trong đó các nước khu vực Đông Á được dự báo có nhu cầu tăng mạnh nhất vào năm 2020 (85%). Sở dĩ nhu cầu ngô tăng mạnh ở các nước này là do dân số tăng, thu nhập bình quân đầu người tăng, dẫn đến nhu cầu về lương thực, thực phẩm tăng mạnh, từ đó đòi hỏi khối lượng ngô rất lớn để phát triển chăn nuôi.
Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam Ở Việt Nam, sản xuất lương thực luôn là một nhiệm vụ quan trọng trước mắt và lâu dài, được ưu tiên hàng đầu trong chiến lược sản xuất nông nghiệp. Với điều kiện tự nhiên phong phú, cây ngô sinh trưởng phát triển và phổ biến khắp các vùng trên cả nước. Lịch sử trồng ngô của nước ta qua các thời kỳ là một quá trình phát triển không đồng đều và bền vững thậm chí có giai đoạn rất trì trệ và không tương xứng với tiềm năng sẵn có của cây ngô và điền kiện tự nhiên của nước ta. Thế nhưng, trong những năm gần đây do giá trị kinh tế và nhu cầu về ngô trong nước cũng như trên thế giới có xu hướng tăng lên, sản xuất ngô đã nhận được rất nhiều sự quan tâm của Đảng và Nhà nước nên diện tích, năng suất và sản lượng ngô có những bước tiến đáng kể.
Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam trong giai đoạn 2003-2012 Chỉ tiêu Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (nghìn ha) (tạ/ ha) (nghìn tần) 2003 912,7 34,4 3. n 7 Số liệu bảng 2.4 cho thấy sản xuất ngô của nước ta tăng nhanh về diện tích, năng suất và sản lượng trong giai đoạn 2003- 2008. Năm 2012 diện tích có tăng so với năm 2011 đạt 1. Năm 2003 cả nước trồng được 912,7 nghìn ha, năm 2011 là 1.081,0 nghìn ha, tăng hơn 168,3 nghìn ha so với năm 2003, so với năm 2012 là 1.181,2 nghìn ha tăng 205,5 nghìn ha.