Chương 1: Cơ sở lý luận về năng lực quản lý của giám đốc DN nhỏ và vừa Chương 2: Phân tích thực trạng năng lực quản lý của giám đốc DN nhỏ và vừa trên địa bàn Thành phố Hà Nội 10 Chương 3: Một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao năng lực quản lý của giám đốc DN nhỏ và vừa trên địa bàn Thành phố Hà Nội 11 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC QUẢN LÝ CỦA GIÁM ĐỐC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Một số khái niệm có liên quan tới vấn đề nghiên cứu 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm Doanh nghiệp Tùy theo những góc độ tiếp cận khác nhau mà người ta đưa ra những quan niệm khác nhau về Doanh nghiệp.
Theo tài liệu “Sách trắng doanh nghiệp Việt Nam năm 2020” của Bộ Kế hoạch và đầu tư thì Doanh nghiệp được hiểu là tổ chức kinh tế có tên riêng, có trụ sở giao dịch, có tài sản, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh, bao gồm: Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần, Công ty hợp danh, Doanh nghiệp tư nhân. Theo quy định tại Khoản 10 Điều 4 Luật DN năm 2020 quy định: “DN là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”. Theo đó, DN có đặc điểm sau: - Được thành lập và đăng ký kinh doanh theo thủ tục pháp lý nhất định. Hiện tại, tuỳ thuộc tính chất của mỗi loại chủ thể kinh doanh mà pháp luật quy định thủ tục thành lập và đăng kí kinh doanh riêng.
- Được thừa nhận là thực thể pháp lý; có thể nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật. DN được tham gia vào tất cả các quan hệ trong giao lưu dân sự cũng như các quan hệ tố tụng. - Chức năng, nhiệm vụ chính của DN là kinh doanh. DN được thực hiện các hoạt động kinh doanh như sản xuất, mua bán, cung ứng hàng hoá, dịch vụ… nhằm mục tiêu thu lợi nhuận hoặc thực hiện chính sách kinh tế - xã hội.
12 - Nơi có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh đối với DN là Phòng Đăng ký Kinh doanh thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư cấp tỉnh. Trong khuôn khổ luận văn này, tác giả sử dụng khái niệm Doanh nghiệp được quy định tại Khoản 10 Điều 4 Luật DN năm 2020 trên đây làm kim chỉ nam trong suốt quá trình nghiên cứu của mình. Khái niệm DNNVV DN nhỏ và vừa là những DN có quy mô nhỏ bé về mặt vốn, lao động hay doanh thu. Theo tiêu chí của Nhóm Ngân hàng Thế giới, DN nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến dưới 200 người và nguồn vốn 20 tỷ trở xuống, còn DN vừa có từ 200 đến 300 lao động nguồn vốn 20 đến 100 tỷ.
Ở mỗi nước, người ta có tiêu chí riêng để xác định DN nhỏ và vừa ở nước mình. Ở Việt Nam, theo Điều 6, Nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày 11/03/2018 của Chính phủ, quy định: - DN nhỏ + DN nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 50 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 20 tỷ đồng. + DN nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 50 người và tổng doanh thu của năm không quá 100 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 50 tỷ đồng. - DN vừa + DN vừa trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và tổng doanh thu của năm không quá 200 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng.
13 + DN vừa trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 300 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng. Khái niệm Giám đốc Cho tới nay, có nhiều góc độ tiếp cận khác nhau về giám đốc DN, song các khái niệm đều có điểm chung, đó là nhấn mạnh Giám đốc DN là nhà quản trị cấp cao trong DN, có nhiệm vụ tổng quát là đưa ra các quyết định chiến lược và tổ chức thực hiện quyết định đó để duy trì và phát triển DN, chịu trách nhiệm về những thành quả cuối cùng của DN. Ở nước ta hiện nay, trong một số DN có nhiều vị trí giám đốc như: giám đốc nhân sự, giám đốc tài chính, giám đốc marketing…Thực chất các vị trí giám đốc này chỉ tương đương với vị trí trưởng phòng, trưởng ban trong DN. Trong khuôn khổ nghiên cứu này, tác giả chỉ tập trung giới hạn chức danh giám đốc được hiểu là người đứng đầu DN, là người điều hành và chịu trách nhiệm đối với toàn bộ hoạt động của DN.
Khái niệm năng lực - Về mặt ngữ nghĩa, khái niệm “năng lực” được hiểu theo một số khía cạnh như sau: + Theo từ điển tâm lý học, năng lực là tập hợp các tính chất tâm lý cá nhân, đóng vai trò điều kiện bên trong tạo thuận lợi cho việc thực hiện tốt một hoạt động nhất định. + Cách tiếp cận hành vi: cách tiếp cận hành vi nhấn mạnh tới tầm quan trọng của việc quan sát những người thực thi công việc hiệu quả và thành công nhằm xác định những điểm khác nhau giữa họ với những đồng sự ít thành công hơn. Năng lực theo khía cạnh này có được thông qua đào tạo, phát triển (Mc Clelland, 1998) và năng lực dựa vào việc mô tả những hành vi có 14 thể quan sát được hoặc thực hiện tại chỗ. Theo đó, cách tiếp cận này cho rằng, năng lực là những đặc điểm của một người có liên quan đến hiệu quả cao trong công việc và có thể là những tình huống mang tính phổ biến (Delamare & Winterton, 2005; Spencer &spencer, 1993; Gonczi, 1994).
Như vậy, mặc dù được diễn giải theo nhiều góc độ khác nhau song các quan điểm trên không phủ định mà bổ sung cho nhau tạo nên sự thống nhất, hoàn chỉnh của nội hàm khái niệm năng lực, đó là: năng lực không chỉ bao gồm kiến thức, kỹ năng mà còn có những phẩm chất cần thiết cho một công việc cụ thể đạt hiệu quả; năng lực là những tố chất bên trong con người giúp họ thực hiện công việc đạt hiệu quả xong năng lực có thể thay đổi thông qua hoạt động, do vậy người ta có thể chủ động tạo ra năng lực. Khái niệm quản lý Trong những thập niên gần đây, khái niệm quản lý đã được xuất hiện khá phổ biến trong các sách báo, tạp chí trong nước cũng như nước ngoài. Mỗi khái niệm lại có một cách lý giải khác nhau xuất phát từ góc độ nghiên cứu riêng. Tuy vậy, các khái niệm về quản lý đều có một điểm chung đó là khẳng định hoạt động quản lý là một dạng hoạt động đặc biệt của con người, nhằm tổ chức hoạt động lao động của các cá nhân, các bộ phận trong tổ chức nhằm đạt mục tiêu cao nhất.
Người quản lý phải vận dụng các phương pháp quản lý vào triển khai công việc và thực hiện các hoạt động đã đề ra. Vì lẽ đó mà quản lý vừa là một khoa học lại vừa là một nghệ thuật. Khái niệm năng lực quản lý Từ cách hiểu và năng lực và quản lý trên đây, chúng ta có thể hiểu năng lực quản lý là khả năng tổ chức, điều hành mọi hoạt động lao động của các cá nhân, các bộ phận trong DN nhằm giúp cho DN đạt được hiệu quả trong môi trường đầy biến động. 15 NLQL của giám đốc DNNVV là tổng hợp các kiến thức quản lý, kỹ năng quản lý, thái độ /phẩm chất cá nhân của giám đốc DN trong hoạt động quản lý để đạt tới mục tiêu đã định của DN trong từng thời kỳ nhất định.
Như vậy, năng lực quản lý của giám đốc DNNVV có thể được hình thành thông qua đào tạo chính thức, thông qua tự rèn luyện, trau dồi kỹ năng, kinh nghiệm của bản thân. NLQL không được đánh giá thông qua bằng cấp mà đánh giá chủ yếu thông qua kết quả thực hiện nhiệm vụ của người đó. Như vậy, khi muốn biết một giám đốc DN nào đó có NLQL hay không, ta cần dựa vào từng nhiệm vụ, mục tiêu phát triển của DN trong từng thời kỳ nhất định và kết quả thực hiện nhiệm vụ của giám đốc DN. Hoạt động quản lý DN của giám đốc DN xét theo quy trình quản lý gồm 4 chức năng quản lý là lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm soát; xét theo lĩnh vực hoạt động cơ bản gồm quản lý sản xuất, quản lý tài chính, quản lý marketing, quản lý nguồn nhân lực, quản lý công nghệ, quản lý chất lượng… - Lập kế hoạch: Lập kế hoạch là hoạt động có ý thức của các nhà quản lý nhằm xác định mục tiêu, phương hướng và các bước đi cụ thể để thực hiện mục tiêu đó.
Lập kế hoạch sẽ bao gồm toàn bộ các hoạt động dự đoán, dự báo, so sánh cần thiết để xây dựng các nội dung về mục tiêu, phương án tối ưu, các biện pháp và nguồn lực cần huy động. - Tổ chức: Tổ chức là một thuật ngữ được sử dụng hết sức linh hoạt với nhiều hàm nghĩa khác nhau. Với tư cách là một đơn vị xã hội, tổ chức được hiểu là tập hợp của từ 2 thành viên trở lên, cùng phối hợp với nhau để đạt được mục tiêu chung như 1 DN, trường học, hay bệnh viện. Hay với tất cả những người quản lý, thuật ngữ tổ chức “ám chỉ một cơ cấu chủ định về vai trò, nhiệm vụ hay chức vụ được hợp thức hóa”.
16 - Lãnh đạo: Chức năng lãnh đạo là một chức năng quan trọng của nhà quản lý. Thực hiện chức năng lãnh đạo là thực hành quản lý và là biểu hiện tập trung nhất của lao động quản lý. Do chức năng lãnh đạo có liên quan đến nhiều hoạt động của con người nên việc chỉ ra một định nghĩa duy nhất về nó là một việc hết sức khó khăn. Có thể kể ra một số quan niệm phong phú khác về lãnh đạo như sau.
Theo quan điểm của H.