CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm và thuật ngữ 1. Khái niệm cơ bản Chất lượng Chất lượng là một khái niệm rất quen thuộc với loài người ngay từ những thời cổ đại, tuy nhiên chất lượng cũng là một khái niệm gây nhiều tranh cãi. Tùy theo đối tượng sử dụng, từ "chất lượng" có ý nghĩa khác nhau.
Người sản xuất coi chất lượng là điều họ phải làm để đáp ứng các qui định và yêu cầu do khách hàng đặt ra, để được khách hàng chấp nhận. Chất lượng được so sánh với chất lượng của đối thủ cạnh tranh và đi kèm theo các chi phí, giá cả. Do con người và nền văn hóa trên thế giới khác nhau, nên cách hiểu của họ về chất lượng và đảm bảo chất lượng cũng khác nhau. Theo lịch sử phát triển về chất lượng, có nhiều quan điểm nhìn nhận và cách tiếp cận khác nhau do đó cũng có nhiều khái niệm khác nhau về chất lượng.
Mỗi quan điểm về chất lượng sẽ đưa ra những khái niệm về chất lượng tương ứng. mỗi giai đoạn phát triển khác nhau, khái niệm về chất lượng cũng dần được hoàn thiện cho phù hợp. Trong ba quan điểm phổ biến về chất lượng (Quan điểm chất lượng dựa trên sản phẩm, quan điểm chất lượng định hướng theo sản xuất và quan điểm chất lượng định hướng khách hàng),, quan điểm chất lượng theo định hướng khách hàng là quan điểm được chấp nhận rộng rãi nhất do tính phù hợp của nó với các xu thế và chiến lược kinh doanh hiện đại. Vì vậy, trong phạm vi luận văn này, tác giả chỉ đề cập đến một số khái niệm minh họa cho quan điểm này.
Chẳng hạn: Philips Cosby, một trong những chuyền gia hàng đầu về chất lượng cho rằng: “Chất lượng là sự phù hợp với yêu cầu”. Tiến sĩ Juran, nhà thống kê học và là một chuyên gia hàng đầu về quản lý chất lượng người Mỹ thì cho rằng: “chất lượng là sự phù hợp của sản phẩm đối với nhu cầu của người tiêu dùng”. Ông cũng khẳng định rằng, đó là nhu cầu chính đáng, nhu cầu có khả năng thanh toán.[11] 7 Giáo sư Ishikawa – một chuyên gia quản lý chất lượng hàng đầu của Nhật Bản cũng khái niệm rằng: “Chất lượng là sự thỏa mãn nhu cầu thị trường với chi phí thấp nhất”. Dựa trên cách tiếp cận khoa học và sự đúc kết kinh nghiệm thực tiễn về quản trị chất lượng trên thế giới, tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hóa (ISO) đã đưa ra khái niệm chất lượng được thể hiện trong tiêu chuẩn ISO 9000:2015 là: “Chất lượng là mức độ của một tập hợp các đặc tính vốn có đáp ứng các yêu cầu” [1, tr21].
Khái niệm này có tính tổng hợp và hiện hành dùng để giải thích thuật ngữ “chất lượng” của bất lỳ một thực thể nào như chất lượng sản phẩm, dịch vụ, chất lượng quá trình, chất lượng hệ thống, chất lượng công việc hay chất lượng hoạt động…, miễn là nó phải đáp ứng các yêu cầu của các khách hàng và các bên quan tâm. Vì vậy, khái niệm chất lượng này cũng có thể được sử dụng để định nghĩa về chất lượng nguồn nhân lực. Từ các định nghĩa trên có thể hiểu chất lượng là sự thỏa mãn nhu cầu nhất định về các thuộc tính bản chất của sự vật so với yêu cầu đặt ra. Do vậy, chất lượng không phải là đại lượng bất biến.
Khi tiêu chí và yêu cầu đặt ra thay đổi thì dẫn đến mức độ phản ánh, đánh giá về chất lượng sẽ có sự thay đổi mặc dù mọi tính chất, thuộc tính của sự vật đó có thể không có gì biến đổi. Với cách hiểu này, thì chất lượng là phạm trù luôn biến động, phát triển với xu hướng ngày một cao hơn. Nguồn nhân lực Nguồn nhân lực là nguồn lực con người, một trong những nguồn lực quan trọng nhất của sự phát triển của xã hội. Nguồn nhân lực khác với các nguồn lực khác ở chỗ nó chịu sự tác động của nhiều yếu tố về tự nhiên, tâm lý xã hội và kinh tế.
Có thể nói nguồn nhân lực là một khái niệm khá phức tạp và được nghiên cứu trên nhiều khía cạnh, nhiều góc độ khác nhau. Hiểu một cách chi tiết hơn, nguồn nhân lực là yếu tố tham gia trực tiếp vào quá trình phát triển kinh tế xã hội, là tổng thể những con người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động. 8 Nguồn nhân lực còn được hiểu với tư cách là tổng hợp cá nhân những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể chất và tinh thần được huy động vào trong quá trình lao động. Với cách hiểu này nguồn nhân lực bao gồm những người bắt đầu bước vào độ tuổi lao động trở lên có tham gia vào nền sản xuất xã hội.
Và theo giáo trình kinh tế nguồn nhân lực của Trường đại học Kinh Tế Quốc Dân do PGS.TS Trần Xuân Cầu, PGS.TS Mai Quốc Chánh chủ biên (2008): “Nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định”[2, tr27]. Đề tài tiếp cận khái niệm nhân lực theo TS.Mai Thanh Lan, Giáo trình Quản trị nhân lực căn bản (2014), Đại học Thương Mại: “Nhân lực của tổ chức/doanh nghiệp được hiểu là tổng hòa thể lực và trí lực tồn tại ở những người lao động trong tổ chức/doanh nghiệp, trong đó bao gồm toàn bộ năng lực cốt lõi để thực thi có hiệu quả mục tiêu và chiến lược kinh doanh đã xác định” [9, tr4]. Trong phạm vi khuôn khổ luận văn, tác giả xin được sử dụng khái niệm nguồn nhân lực như sau: “Nguồn nhân lực là toàn bộ các khả năng về thể lực và trí lực, phẩm chất của con người được vận dụng ra trong quá trình lao động sản xuất, đang và sẽ sẵn sàng tham gia vào sự phát triển kinh tế - xã hội”. Khái niệm chất lượng nguồn nhân lực Khi nói đến chất lượng nguồn nhân lực người ta thường quan tâm đến chất lượng nguồn nhân lực cá nhân và chất lượng nguồn nhân lực tổng thể: Chất lượng nguồn nhân lực tổng thể: bao gồm chất lượng nguồn nhân lực cá nhân và cấu trúc (cơ cấu) của nó.
Thể hiện trên 3 phương diện: qui mô, chất lượng và cơ cấu đáp ứng yêu cầu đặt ra. Chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành lên bản chất bên trong của nguồn nhân lực. Trong mỗi doanh nghiệp, chất lượng nguồn nhân lực không chỉ phản ánh trình độ phát triển về mặt kinh tế mà nó còn là chỉ tiêu phản ánh trình độ phát triển về đời 9 sống của mỗi thành viên trong doanh nghiệp đó, bởi lẽ chất lượng nguồn nhân lực cao sẽ tạo ra động lực mạnh mẽ hơn với tư cách không chỉ là một nguồn lực quan trọng của sự phát triển mà còn thể hiện mức độ lành mạnh của bầu không khí văn hoá trong mỗi doanh nghiệp nhất định. Trong mỗi doanh nghiệp, chất lượng nguồn nhân lực không chỉ phản ánh trình độ phát triển về mặt kinh tế mà nó còn là chỉ tiêu phản ánh trình độ phát triển về đời sống của mỗi thành viên trong doanh nghiệp đó, bởi lẽ chất lượng nguồn nhân lực cao sẽ tạo ra động lực mạnh mẽ hơn với tư cách không chỉ là một nguồn lực quan trọng của sự phát triển mà còn thể hiện mức độ lành mạnh của bầu không khí văn hoá trong mỗi doanh nghiệp nhất định.
Chất lượng nguồn nhân lực được biểu hiện ở hiệu quả của quá trình lao động do lực lượng lao động đó thực hiện. Trong quá trình lao động, con người thực hiện hai chức năng chủ yếu: Một là, thực hiện những hoạt động bản năng nhờ những kỹ năng, kỹ xảo đã tích lũy được hoặc đã học tập được qua đào tạo để sản xuất ra những sản phẩm theo khuôn mẫu định trước. Hai là, con người đồng thời thực hiện chức năng sáng tạo ra các sản phẩm mới, công nghệ mới không theo khuôn mẫu định trước. Chất lượng nguồn nhân lực với tư cách là một cá thể bao hàm nhiều yếu tố và được đánh giá trên các tiêu chí: thể lực, trí lực, phẩm chất đạo đức, nhân cách, tác phong làm việc, ý thức tổ chức kỷ luật.
của người lao động. Những thuật ngữ liên quan Chất lượng nguồn nhân lực được đánh giá trên các tiêu chí về trí lực (gồm trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật, trình độ tin học và ngoại ngữ), tâm lực (gồm phẩm chất đạo đức, văn hóa, truyền thống dân tộc…), thể lực (thể chất, sức khoẻ, tâm lý theo độ tuổi, thâm niên công tác) và năng lực (gồm năng lực giao tiếp-ứng xử, năng lực thích ứng, năng lực tổ chức và quản lý, năng lực hoạt động chính trị xã hội, năng lực nghiên cứu, phương pháp làm việc.1 Các tiêu chí đánh giá Nguồn nhân lực Trí lực Trí lực hay năng lực tinh thần của nguồn nhân lực là tiêu chí quan trọng nhất trong các tiêu chí đánh giá về chất lượng nguồn nhân lực. Trí lực của nguồn nhân lực biểu hiện ở trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật, kỹ năng nghề nghiệp của lực lượng lao động xã hội. Trình độ của nguồn nhân lực được coi là quan trọng nhất hiện nay, đó là năng lực sáng tạo, khả năng áp dụng thành tựu khoa học để sáng chế ra những kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, hiện đại, có khả năng tiếp thu và xử lý thông tin kịp thời.
Trí lực của nguồn nhân lực còn thể hiện ở kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, tức là có khả năng biến tri thức thành công nghệ và kỹ năng lao động nghề nghiệp, biết nghiên cứu, thiết kế, sáng tạo, ứng dụng và phát triển, đào tạo, bồi dưỡng và lựa chọn các giải pháp hợp lý để phát triển sản xuất, phát triển kinh tế xã hội. Trí lực của nguồn nhân lực được đánh giá thông qua hai chỉ tiêu cơ bản: - Trình độ học vấn: là chỉ tiêu đầu tiên đánh giá trí lực của nguồn nhân lực, bởi lẽ nó thể hiện sự hiểu biết của người lao động về những kiến thức tự nhiên, xã hội. Trình độ học vấn được cung cấp thông qua hệ thống giáo dục đào tạo ở nhiều hình thức khác nhau, qua quá trình tự học suốt đời của người lao động. Nói đến trình độ học vấn của dân cư là nói đến trình độ dân trí của một quốc gia.