lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục thì luận văn đƣợc kết cấu theo ba chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về nâng cao chất lƣợng đội ngũ nhân viên trong doanh nghiệp Chƣơng 2: Thực trạng nâng cao chất lƣợng đội ngũ nhân viên tại công ty TNHH thƣơng mại và xuất nhập khẩu Hoàng Long Chƣơng 3: Định hƣớng và giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng đội ngũ nhân viên tại công ty TNHH thƣơng mại và xuất nhập khẩu Hoàng Long 1 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Nguồn nhân lực Con ngƣời là nguồn lực quan trọng nhất trong các nguồn lực của một tổ chức. Một tổ chức dù có tài lực, công nghệ khoa học kỹ thuật phát triển nhƣng thiếu đi con ngƣời để khai thác, phát huy tiềm lực các nguồn tài nguyên thì tổ chức cũng khó có thể đạt đƣợc mục tiêu phát triển nhƣ mong muốn.
Tiếp cận về nguồn nhân lực, hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau đã đƣợc đƣa ra: Theo giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực do Trần Xuân Cầu và. Mai Quốc Chánh làm chủ biên có đề cập tới nhƣ sau: “ Nguồn nhân lực là nguồn lực con ngƣời, có quan hệ chặt chẽ với dân số, là bộ phận quan trọng trong dân số, đóng vai trò tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội”. [4, tr 55] Tùy theo cách tiếp cận, khái niệm nguồn nhân lực có thể khác nhau, do đó, quy mô nguồn nhân lực cũng khác nhau. Với cách tiếp cận dựa vào khả năng lao động của con ngƣời nguồn nhân lực đƣợc hiểu là khả năng lao động của xã hội, của toàn bộ những ngƣời có cơ thể phát triển bình thƣờng, có khả năng lao động.
Với cách tiếp cận dựa vào trạng thái hoạt động kinh tế của con ngƣời: nguồn nhân lực đƣợc hiểu là toàn bộ những ngƣời đang hoạt động trong các ngành kinh tế, văn hóa, xã hội… Với cách tiếp cận dựa vào khả năng lao động của con ngƣời và giới hạn độ tuổi lao động: nguồn nhân lực đƣợc hiểu là toàn bộ những ngƣời trong độ 2 tuổi lao động, có khả năng lao động không kể đến trạng thái có việc làm hay không. Với khái niệm này, quy mô nguồn nhân lực chính là nguồn lao động. Theo giáo trình nguồn nhân lực của trƣờng Đại học Lao động - Xã hội do Nguyễn Tiệp chủ biên, in năm 2005 thì: “Nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cƣ có khả năng lao động”[13, tr. Khái niệm này chỉ nguồn nhân lực với tƣ cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội.
Với tƣ cách là khả năng đảm đƣơng lao động chính của xã hội thì: “Nguồn nhân lực đƣợc hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm nhóm dân cƣ trong độ tuổi lao động có khả năng lao động”. Nguồn nhân lực đƣợc xem xét và đánh giá theo hai góc độ là số lƣợng và chất lƣợng. Về số lƣợng: Số lƣợng nguồn nhân lực đƣợc tính bằng tổng số ngƣời đang có việc làm, số ngƣời thất nghiệp và số đội ngũ nhân viên dự phòng. Nhƣng đối với doanh nghiệp thì nguồn nhân lực không bao gồm những ngƣời trong độ tuổi lao động của toàn xã hội mà chỉ tính những ngƣời trong độ tuổi lao động đang làm việc tại doanh nghiệp.
Chất lƣợng nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực, đƣợc biểu hiện thông qua các tiêu thức: sức khỏe, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn/lành nghề… chất lƣợng nguồn nhân lực do trình độ phát triển kinh tế - xã hội và chính sách đầu tƣ phát triển nguồn nhân lực của chính phủ quốc gia quyết định. Tóm lại, có nhiều khái niệm khác nhau về nguồn nhân lực, theo khái quát của tác giả thì nguồn nhân lực là nguồn lực con ngƣời trong xã hội có thể thống kê đƣợc về số lƣợng và chất lƣợng nhằm phản ánh khả năng lao động của một xã hội. Nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Trong doanh nghiệp, nguồn nhân lực đƣợc hiểu là toàn bộ các khả năng về thể lực và trí lực của con ngƣời đƣợc vận dụng ra trong quá trình lao động sản xuất. Nó cũng đƣợc xem là sức lao động của con ngƣời - một nguồn lực quý giá nhất trong các yếu tố của sản xuất trong các doanh nghiệp.
Nhân lực của doanh nghiệp bao gồm tất cả những đội ngũ nhân viên làm việc trong doanh nghiệp. Nhân lực nghĩa là chứa yếu tố con ngƣời, do vậy nó rất nhạy cảm và phức tạp. Con ngƣời là yếu tố cấu thành nên tổ chức doanh nghiệp, vận hành doanh nghiệp và quyết định sự thành bại của doanh nghiệp. Với cách tiếp cận đã trình bày tại mục 1.1, nguồn nhân lực trong doanh nghiệp đƣợc tác giả hiểu nhƣ sau: nguồn nhân lực trong doanh nghiệp chỉ lực lƣợng đội ngũ nhân viên trong doanh nghiệp với khả năng đáp ứng công việc trong quá trình sản xuất phát triển doanh nghiệp.
Chất lượng nguồn nhân lực Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về chất lƣợng nguồn nhân lực. Có quan điểm cho rằng, chất lƣợng nhân lực là giá trị con ngƣời, cả giá trị vật chất và tinh thần, cả trí tuệ lẫn tâm hồn cũng nhƣ kỹ năng nghề nghiệp, làm cho con ngƣời trở thành đội ngũ nhân viên có những năng lực và phẩm chất đạo đức, đáp ứng đƣợc những yêu cầu to lớn và ngày càng tăng của sự phát triển kinh tế - xã hội [14, tr 24] Theo Mai Quốc Chánh, Trần Xuân Cầu, chất lƣợng nguồn nhân lực có thể đƣợc hiểu nhƣ sau: “Chất lƣợng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành bên trong của nguồn nhân lực” [4, tr 18] Tóm lại, theo hƣớng tiếp cận của bài luận văn, chất lƣợng nguồn nhân lực dƣới quan điểm của tác giả nhƣ sau: chất lƣợng nguồn nhân lực là toàn bộ năng lực của lực lƣợng lao động đƣợc biểu hiện thông qua ba mặt: thể 4 lực, trí lực, tâm lực. Ba mặt này có quan hệ chặt chẽ với nhau cấu thành chất lƣợng nguồn nhân lực. Thể lực là nền tảng, là phƣơng tiện để truyền tải tri thức, trí tuệ là yếu tố quyết định chất lƣợng nguồn nhân lực, tâm lực là yếu tố chi phối hoạt động chuyển hóa của thể lực trí tuệ thành kết quả hoạt động thực tiễn.
Chất lượng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Chất lƣợng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp đƣợc biểu hiện ở hiệu quả của quá trình lao động do lực lƣợng lao động đó thực hiện. Trong quá trình này, con ngƣời thƣờng thực hiện hai chức năng chủ yếu: một mặt, thực hiện những hoạt động theo quy trình có sẵn nhờ những kỹ năng, kỹ xảo đã tích luỹ đƣợc hoặc đã học tập đƣợc qua đào tạo để sản xuất ra sản phẩm theo khuôn mẫu có sẵn đƣợc thiết kế từ trƣớc; mặt khác con ngƣời đồng thời thực hiện những chức năng sáng tạo ra các sản phẩm mới, công nghệ mới không dập theo khuôn mẫu định trƣớc. Sự hao phí năng lực thể chất và năng lực tinh thần, tức sự vận dụng trí năng của đội ngũ nhân viên phải đạt đến trình độ cao: trình độ tìm kiếm, phát hiện thông tin mới và vật chất hoá nó thành sản phẩm và công nghệ mới. Từ những trình bày ở trên, theo tác giả chất lƣợng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp biểu hiện thông qua sự đáp ứng về khả năng làm việc của đội ngũ nhân viên so với yêu cầu của công việc cụ thể mà đội ngũ nhân viên đảm nhiệm trong quá trình lao động sản xuất tại doanh nghiệp.
Trong đó, khả năng làm việc hay năng lực làm việc của đội ngũ nhân viên thể hiện qua ba mặt: thể lực, trí lực, tâm lực. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Kết quả của các hoạt động nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp chính là sự tăng cƣờng về sức mạnh của năng lực thể chất và nâng cao năng lực tinh thần, kỹ thuật chuyên môn nghiệp vụ của lực lƣợng 5 lao động đến một mức độ nhất định để lực lƣợng lao động này có thể đáp ứng đƣợc nhiệm vụ phát triển của doanh nghiệp trong kỳ kế hoạch mà doanh nghiệp đã lập kế hoạch từ những kỳ trƣớc đó. Theo tác giả, nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp chính là nâng cao mức độ đáp ứng về yêu cầu công việc thể hiện qua các phƣơng diện: thể lực, trí lực, tâm lực của mỗi đội ngũ nhân viên bằng các hoạt động, chính sách trực tiếp tác động trực tiếp đến chất lƣợng nguồn nhân lực nhƣ. Các hoạt động chính sách đó có thể kể tới nhƣ: tuyển dụng, đào tạo, đãi ngộ… nhằm đạt đƣợc các mục tiêu chung mà doanh nghiệp đã đề ra.
Để nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực, doanh nghiệp có thể hoàn thiện, xây dựng, đổi mới các hoạt động, chính sách ảnh hƣởng trực tiếp đến chất lƣợng nguồn nhân lực nhƣ: hoạch định nguồn nhân lực; tuyển dụng, sử dụng đội ngũ nhân viên; chính sách đãi ngộ với đội ngũ nhân viên; đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Các hoạt động này đƣơc hoàn thiện và phát triển hàng năm sẽ góp phần biến đổi về chất lƣợng nguồn nhân lực tại một mốc thời điểm nhất định trong kỳ kế hoạch thông qua các chỉ tiêu đánh giá chất lƣợng nguồn nhân lực (thể lực, trí lực, tâm lực) của tập thể đội ngũ nhân viên. Các tiêu chí đánh giá về chất lƣợng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp 1. Thể lực Thể lực nguồn nhân lực là tình trạng sức khỏe của con ngƣời biểu hiện ở sự phát triển bình thƣờng, có khả năng lao động.
Đây là cơ sở quan trọng cho hoạt động của thực tiễn con ngƣời có thể đáp ứng đƣợc đòi hỏi về hao phí sức lao động trong quá trình sản xuất với những công việc cụ thể khác nhau và đảm bảo cho con ngƣời có khả năng học tập và lao động lâu dài. Thể lực tốt thể hiện ở sự nhanh nhẹn, tháo vát, bền bỉ, dẻo dai của sức khỏe cơ bắp trong công việc; thể lực là điều kiện quan trọng để phát triển trí 6 lực; bởi nếu không chịu đƣợc sức ép của công việc cũng nhƣ không thể tìm tòi, sáng tạo ra những nghiên cứu, phát minh mới. Thể lực của nguồn nhân lực đƣợc hình thành, duy trì và phát triển bởi chế độ dinh dƣỡng, chế độ chăm sóc sức khỏe. Sức khỏe của con ngƣời biểu hiện ở hai mặt: sức khỏe cơ thể và sức khỏe tinh thần.