đặt vấn đề xem xét lại vai trò của nguồn lực con người trong phát triển kinh tế xã hội. Kinh nghiệm của Nhật Bản, một nước sớm nhận thức tầm quan trọng của nguồn nhân lực đã có chiến lược về phát triển con người từ thế kỷ XVII- XVIII, và sau đó vào những năm cuối của thế kỷ XX, với sự xuất hiện của các nước công nghiệp mới ở châu Á (NICs) đã chứng minh một lần nữa vị trí quan trọng của nguồn nhân lực trong sản xuất kinh doanh, vì thế, có những bước phát triển mới. Cũng từ đó, khái niệm nguồn nhân lực (Human Resources) được sử dụng rộng rãi, với ý nghĩa là nguồn lực con người, thể hiện một sự nhìn nhận lại vai trò yếu tố con người trong quá trình phát triển. Các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước gần đây đề cập đến khái niệm nguồn nhân lực với các góc độ khác nhau.
Theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc:" Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng" [45; 3]. Việc quản lý và sử dụng nguồn lực con người khó khăn phức tạp hơn nhiều so với các nguồn lực khác bởi con người là một thực thể sinh vật - xã 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hội, rất nhạy cảm với những tác động qua lại của mọi mối quan hệ tự nhiên, kinh tế, xã hội diễn ra trong môi trường sống của họ. Theo David Begg: “Nguồn nhân lực là toàn bộ quá trình chuyên môn mà con người tích luỹ được, nó được đánh giá cao vì tiềm năng đem lại thu nhập trong tương lai. Cũng giống như nguồn lực vật chất, nguồn nhân lực là kết quả đầu tư trong quá khứ với mục đích đem lại thu nhập trong tương lai” [42; 282].
Ở nước ta, khái niệm nguồn nhân lực được sử dụng rộng rãi từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới. Điều này được thể hiện rõ trong các công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực. Phạm Minh Hạc, nguồn lực con người đươc thể hiện thông qua số lượng dân cư, chất lượng con người (bao gồm thể lực, trí lực và năng lực phẩm chất). Như vậy, nguồn nhân lực không chỉ bao hàm chất lượng nguồn nhân lực hiện tại mà còn bao hàm cả nguồn cung cấp nhân lực trong tương lai.
Nguyễn Hữu Dũng: “Nguồn nhân lực được xem xét dưới hai góc độ năng lực xã hội và tính năng động xã hội. Ở góc độ thứ nhất, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, là bộ phận quan trọng nhất của dân số, có khả năng tạo ra giá trị vật chất và tinh thần cho xã hội. Xem xét nguồn nhân lực dưới dạng tiềm năng giúp định hướng phát triển nguồn nhân lực để đảm bảo không ngừng nâng cao năng lực xã hội của nguồn nhân lực thông qua giáo dục đào tạo, chăm sóc sức khoẻ. Tuy nhiên nếu chỉ dừng lại ở dạng tiềm năng thì chưa đủ.
Muốn phát huy tiềm năng đó phải chuyển nguồn nhân lực sang trạng thái động thành vốn nhân lực, tức là nâng cao tính năng động xã hội của con người thông qua các chính sách, thể chế và giải phóng triệt để tiềm năng con người. Con người với tiềm năng vô tận nếu được tự do phát triển, tự do sáng tạo và cống hiến, được trả đúng giá trị lao động thì tiềm năng vô tận đó được khai thác phát huy trở thành nguồn vốn vô cùng to lớn” [18; 5]. 1 Theo Trần Xuân Cầu (Chủ biên), Mai Quốc Chánh, Giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực, NXB Đại học Kinh tế quốc dân, tr.13 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một tổ chức, một địa phương, một quốc gia trong thể thống nhất hữu cơ năng lực xã hội (Thể lực, trí lực, nhân cách) và tính năng động xã hội của con người thuộc các nhóm đó, nhờ tính thống nhất mà nguồn lực con người biến thành nguồn vốn con người đáp ứng yêu cầu phát triển. Nguồn nhân lực, theo cách tiếp cận mới, có nội hàm rộng rãi bao gồm các yếu tố cấu thành về số lượng, tri thức, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức, tính năng động xã hội, sức sáng tạo, truyền thống lịch sử và văn hoá.
Như vậy, các khái niệm trên cho thấy nguồn lực con người không chỉ đơn thuần là lực lượng lao động đã có và sẽ có, mà còn bao gồm sức mạnh của thể chất, trí tuệ, tinh thần của các cá nhân trong một cộng đồng, một quốc gia được đem ra hoặc có khả năng đem ra sử dụng vào quá trình phát triển xã hội. Từ những sự phân tích trên, ở dạng khái quát nhất, có thể hiểu nguồn nhân lực là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cư, khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng như trong tương lai. Sức mạnh và khả năng đó được thể hiện thông qua số lượng, chất lượng và cơ cấu dân số, nhất là số lượng và chất lượng con người có đủ điều kiện tham gia vào nền sản xuất xã hội. Có thể nhận thấy chất lượng nguồn nhân lực là một trong những yếu tố vô cùng quan trọng khi đề cập đến vấn đề nguồn nhân lực.
Chất lượng nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực, được biểu hiện thông qua các tiêu chí: sức khoẻ, trình độ chuyên môn, trình độ học vấn và phẩm chất tâm lý xã hội. Chất lượng nguồn nhân lực là khái niệm tổng hợp bao gồm những nét đặc trưng về trạng thái trí lực, thể lực, phong cách đạo đức, lối sống và tinh thần của nguồn nhân lực. Chất lượng nguồn nhân lực do trình độ phát triển kinh tế xã hội và chính sách đầu tư phát triển nguồn nhân lực của chính phủ quyết định.2 2 Theo Lê Thị Thúy (2012) , Luận án Tiến sĩ “Phát triển nguồn nhân lực nữ nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội ở miền núi phía Bắc Việt Nam”, Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung Ương 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Giáo viên và chất lượng giáo viên GV là lực lượng cơ bản nhất của nguồn nhân lực ngành giáo dục- một bộ phận quan trọng trong nguồn nhân lực quốc gia.
Khoản 1, Điều 70 Luật Giáo dục năm 2005 qui định: “Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, cơ sở giáo dục khác”. Cũng thuộc điều 70 Luật này, khoản 3 chỉ rõ: “Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp gọi là giáo viên”. Nghề GV có những đặc trưng, đó là: Nghề mà đối tượng quan hệ trực tiếp là con người; Nghề mà công cụ chủ yếu là nhân cách của chính mình; Là nghề tái sản xuất mở rộng sức lao động xã hội; Nghề đòi hỏi tính khoa học, tính nghệ thuật và tính sáng tạo; Là nghề lao động trí óc chuyên nghiệp. Do những đặc điểm mang tính chất đặc thù của nghề GV mà khi đề cập đến chất lượng GV, chúng ta cần chú ý trước hết đến vấn đề chất lượng giáo dục, dạy học: Chất lượng giáo dục, dạy học của GV được đánh giá qua kết quả giảng dạy, giáo dục, sự tiếp thu kiến thức của học sinh mà sản phẩm cuối cùng là năng lực, nhân cách của người học.
Chất lượng giáo dục phải hướng vào “phát triển học sinh”, “phát triển nguồn nhân lực”. Để có chất lượng giáo dục tốt, đòi hỏi GV phải thật sự có năng lực chuyên môn, phẩm chất đạo đức, phương pháp giáo dục phải phù hợp với từng đối tượng học sinh, phải thật sự yêu nghề, mến trẻ. Trong nhà trường, hoạt động dạy học là hoạt động chủ đạo, là nhiệm vụ chính trị. Do đó, GV phải ý thức được nhiệm vụ dạy học của mình.
Để có một tiết dạy tốt, GV phải đầu tư soạn giáo án có chất lượng, chuẩn bị tốt các phương tiện, thiết bị dạy học, ứng dụng tốt công nghệ thông tin, cùng với việc tổ chức, điều hành các hoạt động dạy học hiệu quả nhất, đồng thời phải phát huy tối đa tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, lý thuyết phải đi đôi với thực hành. Việc đánh giá chất lượng dạy học của GV có thể thông qua trực tiếp dự giờ, chất lượng làm bài kiểm tra, thi, kết quả học tập của học sinh. Vai trò định hướng, hướng dẫn, gợi ý để học sinh chủ động lĩnh hội kiến thức rất có ý nghĩa. GV không phải là người nhồi nhét kiến thức, không phải dạy tất cả những gì có sẵn mà hãy làm tốt vai trò của người thiết 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com kế, đưa ra ý tưởng, gợi ý để học sinh tự tìm kiếm hướng đi và lời giải.
Đồng thời, phải coi quá trình dạy học là quá trình dạy - tự học. Đặc điểm lao động sư phạm đòi hỏi phải coi trọng chất lượng của từng GV. Diễn đàn giáo dục cho mọi người do UNESCO tổ chức tháng 4 năm 2000 tại Dakar, Senegal, đã coi chất lượng GV là một yếu tố cấu thành chất lượng giáo dục. Cùng với đó, công trình nghiên cứu chung của các nước thành viên OECD đã chỉ ra chất lượng GV gồm năm mặt sau: - Kiến thức phong phú về phạm vi chương trình và nội dụng bộ môn mình dạy.
- Kỹ năng sư phạm, kể cả việc có được “kho kiến thức” về phương pháp giảng dạy, về năng lực sử dụng những phương pháp đó. - Có tư duy phản ánh trước mỗi vấn đề và có năng lực tự phê, nét rất đặc trưng của nghề dạy học. - Biết cảm thông và cam kết tôn trọng phẩm giá của người khác. - Có năng lực quản lý, kể cả trách nhiệm quản lý trong và ngoài lớp học.
Từ những tiếp cận về nguồn nhân lực, chất lượng nguồn nhân lực, chất lượng giáo dục, dạy học, có thể đưa ra khái niệm về chất lượng GV: Chất lượng GV là sự thể hiện các thuộc tính của GV đáp ứng yêu cầu của mục tiêu giáo dục tại một thời điểm nhất định. Chất lượng GV được thể hiện ở các yếu tố: phẩm chất, đạo đức; trình độ chuyên môn; nghiệp vụ sư phạm; số lượng; cơ cấu.3 Chất lượng GV là nhân tố quyết định chất lượng nhà trường.