CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM TRONG QUẢN LÝ XUẤT NHẬP CẢNH 1. Khái niệm, nội dung, đặc trưng cơ bản của pháp luật Việt Nam về quản lý xuất nhập cảnh 1. Khái niệm pháp luật về quản lý xuất nhập cảnh Nhập cảnh là việc người nước ngoài (NNN) vào lãnh thổ Việt Nam qua cửa khẩu của Việt Nam; Xuất cảnh là việc NNN ra khỏi lãnh thổ Việt Nam qua cửa khẩu của Việt Nam3. Hiện nay trong thực tiễn pháp lý ở Việt Nam vẫn chưa có một khái niệm thống nhất, đầy đủ, hoàn thiện về pháp luật trong QL NC,XC.
Do vậy, để làm rõ nội hàm khái niệm về pháp luật trong QLXNC trước hết phải đặt nó trong tương quan với pháp luật hành chính. Quản lý có nhiều cách định nghĩa khác nhau, tùy theo cách tiếp cận khác nhau. Theo từ điển tiếng việt:“Quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định”4. Khái niệm quản lý ở đây là muốn nói đến quản lý con người, quản lý xã hội và biểu hiện cụ thể nhất là ở QLNN.
Theo tác giả Trần Kiểm cho rằng: “Quản lý là những tác động hoạch định của chủ thể quản lý trong việc huy động, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất”5. Trong giáo trình quản lý hành chính nhà nước6 có viết: “Quản lý hành chính nhà nước là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước với chức năng chấp hành luật và tổ chức thực hiện luật của các cơ quan trong hệ thống hành pháp và hành chính nhà nước”. Ở một góc nhìn khác, hai tác giả Đinh Văn Mậu và Phạm Hồng Thái (2005) định nghĩa:“Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước với quá trình xã hội và hành vi hoạt động của công dân do các cơ quan hành pháp từ Trung ương đến cơ 3 Luật xuất nhập cảnh 2014 (Luật số 47/2014/QH13) ngày 16/6/2014, Khoản 4,6 Điều 3. 4 Từ điển Bách khoa Việt Nam (2005), Nxb Từ điển Bách khoa Việt Nam, Hà Nội.
5 Trần Kiểm (2007), “Khoa học quản lý giáo dục – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Nxb giáo dục Việt Nam, Hà Nội, trang 7. 6 Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (1996), Giáo trình về quản lý nhà nước, Tập II, Tr.10 9 sở tiến hành để thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước, phát triển các mối quan hệ xã hội, duy trì an ninh trật tự, thỏa mãn những nhu cầu hàng ngày của Nhân dân”7. Quản lý là một hoạt động phức tạp và có nhiều chức năng. Quản lý ở góc độ quản lý học là sự tác động có tổ chức và có hướng mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm hướng tới hành vi của đối tượng để đạt đước mục tiêu đã định trước.
Như vậy, trong hoạt động của một cá nhân hay một tập thể đều phải hướng đến một mục tiêu đã được đề ra và để điều hành đạt được mục tiêu chủ thể quản lý phải tác động vào đối tượng quản lý bằng những phương pháp quản lý để cho bộ máy dưới sự quản lý của mình đạt được kết quả tốt nhất. Suy cho cùng, bản chất của hoạt động quản lý là cách thức tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý một cách hợp quy luật trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành được đạt hiệu quả mong muốn hoặc mục tiêu đề ra. Hoạt động QLNN cần phải tuân theo pháp luật về trình tự, cách thức khi sử dụng thẩm quyền của từng cơ quan để giải quyết công việc. Khoa học pháp lý gọi đó là những quy phạm thủ tục.
Quy phạm thủ tục gồm những bộ phận cấu thành như: thủ tục lập pháp, thủ tục tố tụng tư pháp và thủ tục hành chính. Trong quản lý XNC, các cơ quan QL XNC từ trung ương đến địa phương tiến hành các tác động và dùng quyền lực nhà nước để điều chỉnh đối với hành vi XNC của công dân nhằm thực hiện chức năng QL NN, duy trì ANTT và thỏa mãn nhu cầu XNC hàng ngày của công dân Việt Nam hoặc công dân nước ngoài. Ví dụ như: Bộ Công an chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ có liên quan thực hiện QL NN về XNC, quá cảnh, cư trú của NNN; chịu trách nhiệm QL NN về ANQG và TTATXH đối với NNN tại Việt Nam. Trách nhiệm của Bộ Công an trong quản lý NNN được quy định cụ thể tại Điều 47 – Luật XNC 2014.
7 Đinh Văn Mậu và Phạm Hồng Thái (2005) Luật hành chính Việt Nam. Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, trang 19. 10 Dưới góc độ QL NN, hành chính được hiểu là hoạt động thực thi quyền lực nhà nước nhằm duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và pháp luật, thỏa mãn nhu cầu hợp pháp của con người. Hành chính trong lĩnh vực XNC là việc các cơ quan có thẩm quyền, bằng quyết định của mình, cho phép, cấm đoán, kiểm tra hoặc xử lý các tình huống, các hành vi VPHC nhằm phòng ngừa hoặc ngăn chặn các hành vi VPPL trong lĩnh vực XNC.
Và do vậy, QL NN về XNC là một dạng quản lý xã hội, mà thông qua đó, nhà nước thực hiện chức năng quản lý về XNC nhằm giữ vững chủ quyền và ANQG, tạo điều kiện thuận lợi cho công dân Việt Nam và NNN thực hiện quyền và nghĩa vụ theo pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế về NC,XC và cư trú. Trước đây, Pháp lệnh XNC 2000 có quy định các nội dung QL NN trong lĩnh vực XNC bao gồm 8 công việc: Lập pháp, lập quy các quy định liên quan đến XNC, xem xét tham gia các điều ước quốc tế, QL NC, XC, QC, CT; Thực hiện thống kê nhà nước về XNC; Hợp tác quốc tế về XNC; và giám sát, thanh kiểm tra, xử lý vi phạm8. Tiếp đó, Điều 1 Luật XNC 2014, quy định: “nguyên tắc, điều kiện, trình tự, thủ tục, quyền và nghĩa vụ của người nước ngoài nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú tại Việt Nam; quyền và trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước Việt Nam, của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam”9. Như vậy, khái niệm QL NN về NC, XC hiểu theo nghĩa rộng bao gồm các công việc từ xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật XNC, hướng đến điều chỉnh hoạt động của các cơ quan nhà nước và các cá nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm trật tự quản lý và quyền của công dân trong lĩnh vực XNC.
Từ lý luận như vậy, pháp luật trong QL XNC có thể hiểu là một nội dung của pháp luật hành chính, là tổng thể các quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa cơ quan có thẩm quyền QL XNC với tổ chức, công dân và NNN trong lĩnh vực XNC. 8 Pháp lệnh XNC 2000 (Pháp lệnh số 24/1999/PL-UBTVQH10). 9 Luật XNC 2014 (Luật số 47/2014/QH13) ngày 16/6/2014, Điều 1. 11 Từ khái niệm nêu trên cho thấy QL NN về XNC thể hiện trên ba phương diện như sau: Một là, QL NN về XNC được thực hiện bằng phương pháp mệnh lệnh và phục tùng, là mộ dạng quyền lực đặc biệt, có tính tổ chức cao; Hai là, QL NN về XNC vừa mang tính đặc thù, vừa mang tính phổ biến; Ba là, đối tượng QL XNC rất đa dạng và chịu sự điều chỉnh không những hệ thống pháp luật trong nước mà cả hệ thống pháp luật quốc tế mà nhà nước ta tham gia ký kết hoặc thừa nhận.
Nội dung cơ bản của pháp luật về quản lý xuất nhập cảnh Quản lý về XNC cũng là một trong những hoạt động của đường lối, chính sách đối ngoại nhà nước CHXHCN Việt Nam. Nội dung của pháp luật trong hoạt động QL XNC được thể hiện tập trung ở mục tiêu và nhiệm vụ của chủ thể QL XNC (ví dụ: ở Bộ Công an có Cục QL XNC, ở Công an tỉnh có Phòng hoặc Đội quản lý XNC). Do đó, Pháp luật trong QL XNC là một tổng thể các nhóm quy phạm có mối quan hệ chặt chẽ với nhau mà nội dung của chúng thường được chia thành những quy định chung và những quy định cụ thể. Phần chung của pháp luật trong QL NN về XNC bao gồm các quy phạm điều chỉnh các mối quan hệ chung nhất, phát sinh trong quá trình QL XNC, như: các nguyên tắc tuân thủ pháp luật, tôn trọng độc lập, chủ quyền, truyền thống, tập quán, đảm bảo ANQG và TTATXH, bình đẳng trong quan hệ quốc tế; nguyên tắc ưu tiên áp dụng các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia; nguyên tắc bảo hộ tính mạng, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân công dân; nguyên tắc công khai, minh bạch10…và đồng thời cũng là phần cung cấp các khái niệm cơ bản trong QL XNC như: “nhập cảnh”, “xuất cảnh”, “người nước ngoài”, “NNN tạm trú”, “NNN thường trú”.v… Phần những quy định cụ thể hướng đến điều chỉnh các hoạt động XNC, như: thủ tục cấp hộ chiếu, quy định về người chưa được xuất cảnh, người chưa được nhập cảnh; các quy định về XNC; về thẩm quyền, trách nhiệm của cơ quan quản 10 Luật xuất nhập cảnh 2014 (Luật số 47/2014/QH13) ngày 16/6/2014, Điều 4.v…và trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong hoạt động XNC và xử lý vi phạm trong lĩnh vực XNC 11.
Về nội dung cơ bản của pháp luật về QL XNC có thể được trình bày khái quát trong bảng 1.1 như sau: Bảng 1. Nội dung quản lý nhà nước trong lĩnh vực xuất nhập cảnh Quản lý xuất cảnh Quản lý nhập cảnh Hoạt động quản lý khác Quản lý xuất cảnh là Quản lý nhập cảnh là Tại khoản 2, Điều 3, một bộ phận quan trọng một bộ phận quan trọng Pháp lệnh xuất nhập cảnh của QL NN về ANTT đối của QL NN về ANTT đối 2000 quy định:“Người với công dân Việt Nam và với công dân Việt Nam nước ngoài thường trú là NNN khi ra khỏi lãnh thổ sau khi ra nước ngoài nhập người nước ngoài cư trú, Việt Nam qua cửa khẩu cảnh về nước và NNN vào làm ăn, sinh sống lâu dài ở của Việt Nam. QL XC bao lãnh thổ Việt Nam qua cửa Việt Nam”; theo quy định gồm các quy định về thẩm khẩu của Việt Nam.