Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY HỢP DANH TRONG LĨNH VỰC CUNG CẤP DỊCH VỤ PHÁP LÝ 1. Khái quát chung về công ty hợp danh 1. Sự hình thành công ty hợp danh * Sự hình thành công ty hợp danh trên thế giới Là một trong những hiện tượng kinh tế, công ty ra đời, tồn tại và phát triển trong điều kiện nhất định. Kinh tế, xã hội phát triển đòi hỏi các nhà kinh doanh phải có nhiều vốn, và để có được nhiều vốn các nhà kinh doanh bắt đầu phải liên kết với nhau.
Trên cơ sở vốn và sự tin tưởng lẫn nhau họ đã liên kết theo hình thức nhất định và tạo ra mô hình tổ chức kinh doanh mới là công ty kinh doanh. Mặt khác, khi sản xuất hàng hóa phát triển, sự cạnh tranh trên thị trường khốc liệt hơn, đòi hỏi nguồn vốn lớn hơn, những doanh nghiệp vốn đầu tư thấp thường không có lợi thế cạnh tranh. Do đó, muốn tạo được chỗ đứng trên thị trường, người kinh doanh cần liên kết với nhau thông qua hình thức góp vốn để thành lập một doanh nghiệp có vốn lớn, tạo thế đứng vững chắc trên thị trường. Ngoài lợi thế trên, việc liên kết giữa những người kinh doanh còn góp phần chia sẻ những rủi ro có thể gặp phải trong quá trình kinh doanh.
Mô hình liên kết này đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế thị trường và hấp dẫn các nhà đầu tư, với nhiều thành phần tham gia khác nhau. Như vậy, sự ra đời của công ty là quy luật khách quan trong nền kinh tế thị trường, là kết quả của việc thực hiện nguyên tắc tự do trong kinh doanh, tự do kết ước và tự do lập hội. Vào khoảng thế kỷ thứ XIII, ở các thành phố lớn của một số nước châu Âu có điều kiện địa lý thuận lợi cho việc giao lưu, buôn bán, đã xuất hiện công ty thương mại đối nhân đầu tiên. Sang đầu thế kỉ XVII các công ty đối vốn ra đời.
8 Công ty đối nhân là công ty mà việc thành lập dựa trên sự liên kết chặt chẽ bởi độ tin cậy về nhân thân của các thành viên, các thành viên quan hệ gần gũi, có sự tin tưởng lẫn nhau, công ty lập ra với mục đích chủ yếu là để “góp danh”, việc “góp vốn” là thứ yếu. Trong công ty đối nhân không có sự tách bạch về tài sản cá nhân các thành viên và tài sản công ty. Các thành viên liên đới chịu trách nhiệm vô hạn đối với mọi khoản nợ của công ty hoặc ít nhất phải có một thành viên chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ của công ty. Các thành viên trong công ty đối nhân có tư cách thương gia độc lập và phải chịu thuế thu nhập cá nhân.
Hầu hết pháp luật các quốc gia không quy định tư cách pháp nhân cho công ty đối nhân, do đó, bản thân công ty đối nhân không bị đánh thuế. Các thành viên công ty cùng nhau điều hành hoạt động của công ty và đều có quyền đại diện theo pháp luật. Về phương diện kinh tế, các công ty đối nhân do có sự liên đới chịu trách nhiệm vô hạn của các thành viên nên có nhiều thuận lợi trong quá trình ngân hàng xem xét cho vay vốn. Mặt khác, do tính liên đới chịu trách nhiệm vô hạn nên các công ty đối nhân thường không đầu tư vào lĩnh vực có nhiều rủi ro, trong thực tế, công ty đối nhân thường hoạt động trong lĩnh vực đòi hỏi độ tin cậy giữa các thành viên, đòi hỏi các thành viên có trình độ chuyên môn như dịch vụ pháp lý, kiểm toán, kiến trúc, giám định… Về phương diện pháp lý, công ty đối nhân là loại hình công ty trong đó các thành viên có quan hệ gắn bó, hiểu biết và tin tưởng nhau, do đó pháp luật ít quy định điều chỉnh mối quan hệ của các thành viên trong công ty đối nhân.
Công ty đối nhân thường tồn tại dưới hai dạng cơ bản đó là: công ty hợp danh và công ty hợp vốn đơn giản. * Sự hình thành công ty hợp danh ở Việt Nam Ở Việt Nam, với lịch sử phát triển kinh tế mang đặc trưng là kinh tế nông nghiệp giữ vai trò chủ đạo, hoạt động kinh doanh, thương mại giai đoạn 9 trước kia chưa phát triển. Hoạt động thương mại ở Việt Nam giai đoạn đầu diễn ra chủ yếu tại các chợ, mua bán nhỏ, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt là chính. Do đó, các loại hình công ty ra đời muộn hơn so với các quốc gia trên thế giới.
Phải đến thế kỷ thứ XIX, khi thực dân Pháp đô hộ nước ta, công ty hợp danh được quy định dưới hình thức là “Hội người” trong “Dân luật được thi hành tại các tòa Nam án - Bắc kỳ” năm 1931, Bộ luật Thương mại Trung phần năm 1944, Bộ luật Thương mại Việt Nam cộng hòa năm 1972. Cho đến những năm cuối của thế kỷ XX, sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI diễn ra năm 1986, nghị quyết của Đảng định hướng chủ trương phát triển kinh tế đất nước chuyển từ kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, mở rộng các thành phần kinh tế, ghi nhận hình thức sở hữu tư nhân. Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1990 ra đời đánh dấu sự ghi nhận của Nhà nước ta về hình thức công ty thông qua quy định của pháp luật. Tuy nhiên, quy định của pháp luật tại thời điểm đó còn đơn giản và chưa cụ thể, hình thức công ty hợp danh chưa được quy định trong hai văn bản quy phạm pháp luật nêu trên.
Sau gần một thập kỷ, phải đến khi có Luật Doanh nghiệp năm 1999 thì hình thức công ty hợp danh mới lần đầu tiên được quy định. Tuy nhiên, ngoài một số quy định cho các loại hình công ty, Luật Doanh nghiệp năm 1999 cũng chỉ có 4 điều thuộc Chương 5 (từ Điều 95 đến Điều 98) quy định riêng về công ty hợp danh. Các quy định này còn khá đơn giản, quy định về khái niệm, đặc điểm của công ty hợp danh, quyền và nghĩa vụ của các thành viên hợp danh, việc quản lý công ty hợp danh. Riêng đối với quy định về việc thành lập, tổ chức và hoạt động của công ty hợp danh thì Luật Doanh nghiệp năm 1999 không quy định cụ thể mà ủy quyền cho Chính phủ quy định cụ thể nội dung này.
10 Luật Doanh nghiệp năm 1999 có hiệu lực từ ngày 01/01/2000. Chỉ sau vài năm, những quy định về công ty hợp danh đã bộc lộ nhiều hạn chế và kết quả là các nhà đầu tư không mặn mà với loại hình doanh nghiệp này. Ngày 29/11/2005, Luật Doanh nghiệp năm 2005 được ban hành thay thế cho Luật Doanh nghiệp năm 1999. Luật này có 11 điều quy định riêng về công ty hợp danh (từ Điều 130 đến Điều 140).
Trong gần 10 năm thực hiện Luật Doanh nghiệp năm 2005, số lượng công ty hợp danh vẫn chỉ dừng lại ở con số vài chục, điều đó chứng tỏ loại hình công ty này vẫn còn chưa hấp dẫn các nhà đầu tư kinh doanh. Luật Doanh nghiệp năm 2014 được ban hành với 11 điều (từ Điều 172 đến Điều 182) quy định về công ty hợp danh, các quy định này về cơ bản vẫn chưa khắc phục triệt để những hạn chế của các quy định về loại hình công ty này so với các văn bản trước đây. Chúng ta có thể thấy rằng, ở Việt Nam công ty hợp danh được hình thành trên cở sở quy định của pháp luật và việc hoàn thiện dần quy định của pháp luật về công ty hợp danh có tác động tích cực đến sự phát triển của loại hình công ty này trên thực tế. Khái niệm, đặc điểm của công ty hợp danh * Khái niệm công ty hợp danh Công ty hợp danh là loại hình công ty trong đó các thành viên cùng nhau tiến hành hoạt động thương mại dưới một hãng chung và cùng liên đới chịu trách nhiệm vô hạn về mọi khoản nợ của công ty.
Công ty hợp danh bao gồm toàn thành viên hợp danh với chế độ chịu trách nhiệm vô hạn của các thành viên hợp danh, là một loại hình công ty mang bản chất đối nhân. Đây là loại công ty trọng về nhân thân, ít quan tâm tới yếu tố vốn. Công ty hợp danh ra đời là một yếu tố khách quan phù hợp với điều kiện, môi trường kinh doanh và tâm lý kinh doanh, đặc biệt ở một số nước châu Á. Đây là những 11 quốc gia có nền tảng kinh tế là nông nghiệp lúa nước, tâm lý kinh doanh nhỏ lẻ, cá nhân hoặc kinh doanh gia đình đã ăn sâu vào cư dân khu vực này.
Vì vậy, khi giao thương buôn bán xuất hiện và phát triển, những người kinh doanh này sẽ lựa chọn con đường mở rộng quy mô kinh doanh một cách vừa an toàn, vừa đơn giản. Như vậy, người kinh doanh chỉ có thể lựa chọn hình thức liên kết mà họ có thể hiểu rõ về nhân thân của nhau, tin cậy lẫn nhau. Việc thành lập công ty dựa trên cơ sở hợp đồng giữa các thành viên, tuy nhiên, luật không bắt buộc hợp đồng thành lập loại hình công ty này phải bằng văn bản. Các bên có thể thoả thuận miệng, có trường hợp tuy không tuyên bố rõ thoả thuận nhưng giữa các thành viên có hoạt động thương mại chung thì công ty cũng được coi là đã thành lập.
Đã có nhiều quốc gia trên thế giới công nhận việc thành lập công ty thực tế (defacto) như trên. Ở Việt Nam hiện nay chưa công nhận hình thức công ty thực tế này. Về nguyên tắc, hợp đồng thành lập cần được đăng ký vào danh bạ thương mại. Trong một số trường hợp, hợp đồng không được đăng ký nhưng được thông báo rộng rãi thì vẫn có giá trị pháp lý.
Trong hợp đồng, thỏa thuận của các thành viên là nội dung quan trọng. Công ty hợp danh được thành lập nếu có ít nhất hai thành viên thỏa thuận với nhau cùng chịu trách nhiệm liên đới, vô hạn đối với mọi khoản nợ của công ty. Khác với hình thức trên, công ty hợp vốn đơn giản vừa có thành viên hợp danh, chịu trách nhiệm vô hạn vừa có thành viên góp vốn, chịu trách nhiệm hữu hạn. Đây là điểm khác biệt cơ bản giữa công ty hợp danh và công ty hợp vốn đơn giản.
Thành viên nhận vốn là người quản lý, sử dụng vốn, người trực tiếp điều hành các hoạt động của công ty. Thành viên này chịu trách nhiệm vô hạn về mọi khoản nợ của công ty, có quyền quản trị công ty.