Chương 1: Những van dé lý luận về bị đơn trong pháp luật TTDS. Chương 2: Thực trạng pháp luật TTDS Việt Nam hiện hành về bị đơn. Chương 3: Thực tiễn thực hiện pháp luật TTDS Việt Nam về bị đơn và một sé kiến nghị hoàn thiện pháp luật. 10 CHUONG 1 NHUNG VAN DE LÝ LUẬN VE BI DON TRONG PHAP LUAT TO TUNG DAN SU’ 1.
KHÁI NIỆM, DAC DIEM CUA BI DON TRONG PHAP LUAT TO TUNG DAN SU 1. Khái niệm bị don trong pháp luật tố tụng dân sự Trước hết chúng ta cần phải hiểu rõ về các khái niệm “pháp luật TTDS” và “đương sự” từ đó xây dựng khái niệm bi đơn trong pháp luật TTDS. Thứ nhất, về khái niệm pháp luật TTDS. Xét về thuật ngữ, trong cuốn Từ điền từ và ngữ Hán — Việt của tác giả Nguyễn Lân, tố tụng được hiểu ngắn gọn là “tiệc kiện cáo trước Toà án”.
Xét về khoa học pháp lý. mỗi hệ thống pháp luật khác nhau sẽ có quan niệm riêng và cách hiểu khác nhau về TTDS. Quan niệm thứ nhất cho rằng, các nước trong hệ thống thông luật (Common Law) theo mô hình tổ tụng tranh tung gần như không có sự phân biệt giữa luật công và luật tư, trừ hệ thống pháp luật Anh", Quan niệm thứ hai cho rằng, các nước theo hệ thống dân luật (Civil Law) theo mô hình tố tụng xét hỏi lại có sự phân biệt giữa luật công và luật tư. Mặc dù có cách tiếp cận khác nhau về khái niệm TTDS nhưng nhìn chung cả hai truyền thống pháp luật đều có cách hiểu chung TTDS là trình tự, thủ tục để giải quyết đối các tranh chấp dân sự, hôn nhân gia đình.
kinh doanh, thương mại, lao động. Theo Giáo sư Vũ Văn Mẫu, *⁄ố tung” tức là “thi: tuc kiện cáo”? Giáo sư Nguyễn Huy Pau cho rằng nói đến “1d tung” là nói đến “môn luật liên quan đến Tòa án, đến quyên tư pháp”; TTDS là “định lệ tổ chức việc chỉ phối là điều hành công lý, đặt ra dé dam bảo cho tư nhân các chế tài và tôn trọng quyền lợi trong ter ludt, Hiện nay, TTDS là thủ tục giải quyết vụ việc dân sự tại Tòa án”. Do đó, có thê hiểu: pháp luật TTDS là hệ thống các quy tắc xử sự mà các chủ thé của quan hệ pháp luật TTDS phải thực hiện trong quy trình giải quyét các tranh chấp, yêu cầu phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự tại Tòa án. Thit hai, về khái niệm đương sự bee Trường Đại học Luật Hà Nội (2012), Giáo trình Luật So sánh, Nxb Công an nhân dân, tr.
os Vũ Văn Mau (1961), Dân luật khái luận, Bộ Quốc gia giáo dục xuất bản, tr. - ‹ * Tong Công Cưởng (2007), Luát TTDS Việt Nam — Nghiên cứu so sánh, Nxb Dai học Quốc gia TP HO Chí Minh, tr. 11 Đương sự là chủ thé trọng tâm của TTDS; ho tham gia quá trình TTDS gắn liền đến lợi ích của họ. Tuy nhiên, vai trò của đương sự cũng chịu sự chỉ phối vào quan niệm tổ chức nền tư pháp mỗi nước khác nhau.
Ở các nước theo mô hình tranh tụng, đương sự có vai trò quyết định, họ chủ động quyết định trong quá trình tố tung bao gồm cả việc tham gia tô tụng của các chủ thé khác; toà án chỉ có vai trò như trọng tài dé phân xử và đưa ra phán quyết. Trái lai, trong mô hình thâm xét, vai trò trung tâm của TTDS lại là Toà án trong đó thâm phán là chủ thé điều khién toàn bộ quá trình tố tụng. Các bên đương sự tham gia tố tung bằng việc cung cấp tài liệu, chứng cứ dé chứng minh, thuyết phục thâm phán ủng hộ yêu cầu của họ. trong mô hình thâm xét, đương sự giữ vai trò thụ động hon".
Về mặt thuật ngữ, tác giả Nguyễn Như Ý định nghĩa đương sự là “ngudi là đối tượng trực tiếp của một việc dang được giải quyết"? Hay có thé hiểu đương sự trong một vụ việc dân sự là cá nhân, cơ quan, 16 chức theo quy định có quyên va lợi ích liên quan tham gia vào quá trình giải quyết vụ việc. Về mặt khoa học pháp lý, cuốn Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học: Luật Dân sự: Luật Hôn nhân và gia đình; Luật TTDS của Trường Đại học Luật Hà Nội xuất bản năm 1999 định nghĩa đương sự trong TTDS được hiểu là cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tô hợp tác có quyên lợi, nghĩa vụ liên quan đến VADS tham gia to tụng dé bảo vệ quyên lợi của mình. Đương sự gdm có nguyên đơn, bị đơn và người có quyên lợi, nghĩa vụ liên quan. Khái niệm này đã liệt kê chỉ tiết các chú thể có thê trở thành đương sự trong TTDS, tuy nhiên việc xác định hộ gia đình, tổ hợp tác là đương sự trong TTDS là không phù hợp với quy định của pháp luật dan sự hiện nay.
Hay trong cuốn Từ điền Luật học của Viện Nghiên cứu pháp lý thì đương sự được giải thích như sau: “Cá nhân, pháp nhân tham gia TTDS với tư cách là nguyên đơn hoặc bị đơn hoặc người có quyên lợi, nghĩa vụ liên quan. Đương sự là mot trong các nhóm người tham gia TTDS tại TAND trong các vụ kiện dan sự, kinh doanh, thương mại, hôn nhân gia đình và lao động. Các khái niệm này đều chỉ đề cập đến đương sự trong VADS mà chưa đề cập đến đương sự trong việc dân sự. Nhìn chung, các nhà khoa học pháp lý đều có quan niệm chung về đương sự, trong đó đương sự trong TTDS được hiểu là cá nhân, cơ quan, tổ chức theo quy Tống Công Cường (2007).
Luát TTDS Việt Nam — Nghiên cứu so sánh, Nxb Đại học Quốc gia TP Hỗ Chí Minh, tr. '*' Nguyễn Như Ý (1999), Đại tử điền tiếng Việt, NXB Văn hóa — Thông tin. '® Bộ Tư pháp - Viện Khoa học pháp lý (2006), Tir điển Luật học. Từ điển Bách khoa — Nxb.
Tư pháp, Hà Nội. 12 định của pháp luật có quyên lợi, nghĩa vụ liên quan đến VVDS tham gia tổ tụng dé bao vệ quyền lợi của mình. Đương sự gôm có nguyên đơn, bị don và người có quyên lợi, nghĩa vụ liên quan trong VADS và người có yêu cau và người có quyên lợi và nghĩa vụ liên quan đến yêu câu trong việc dân sự. Thit ba, về khái niệm bị đơn trong pháp luật TTDS Trong một vụ việc tranh chấp luôn luôn có ít nhất hai tham gia tranh chấp gồm có một bên chủ động và một bên bị động tham gia tranh chấp.
Bên chủ động là chủ thé được suy đoán có quyền lợi hợp pháp bị xâm phạm hoặc tranh chap, còn bên bị động là chủ thể được cho rằng đã xâm phạm đến quyền lợi hợp pháp hoặc tranh chấp với bên chủ động. Bên chủ động phát động vụ kiện được xác định tư cách tham gia tố tụng là nguyên đơn và bên bị kiện được xác định là bị đơn. Mục đích của người khởi kiện khi yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp dân sự là bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của họ. họ đang tìm kiếm chủ thể phải thực hiện nghĩa vụ đối với mình.
Dưới góc độ khoa học pháp lý, trên thé giới có những quan điểm khác nhau về khái niệm “bi don” như sau: Theo cuốn Từ điển Luật của Black, tác giả Bryan A. Garner cho rằng “Bị đơn là người bị kiện trong một quy trình TTDS. Gifis lại có quan điểm cho rang: “Bi đơn, trong quy trình TTDS, là bên đáp lại khiếu nai/yéu câu, là người mà bị kiện và được triệu tap đề dap ứng mot khiêu kiện về hành vi sai trái bị người khác khiếu kiện "Ê' Ngoài ra, theo cuỗn Words and Phrases Legally Defined, John B. Saunders lại đưa ra định nghĩa: “Bi don bao gém bat kỳ người nào được tong dat bat kỳ lệnh triệu tập hoặc thủ tục nào.
hoặc được tổng đạt thông báo hoặc có quyên tham dự bat kỳ thủ tục 16 tung nào. Sử Có thể thấy, khái niệm đưa ra bởi Bryan A. Garner hay Steven H. Gifñs đều có điểm tương đồng với nhau.
Còn khái niệm của John B. Saunders có phạm vi quá rộng, đường như bao hàm tất cả những người tham gia tố tụng khác không chỉ bị đơn. Tuy nhiên, cần hiểu rang khái niệm này được đưa ra từ năm 1969, do đó có thé hiểu được. Defendant A person sued in a civil proceeding or accused in a criminal proceeding.
Xem thêm: Bryan A Gamer (2019). The Black’s Law Dictionary (11th Edition), Thomson Reuters, United States of America, tr. In civil proceedings, the party responding to the complaint; one who is sued and called upon to make satisfaction for a wong complained of by another; Xem thêm: Steven II. Gifis (2016), Barron’s Dictionary of Legal Terms (Fifth Edition), Barron Educational Series Inc., New York, tr.
DEFENDANT “Defendant” includes any person served with any writ of summons or process, or served with notice of, or entitled to attend, any proceedings (Supreme Court of Judicature (Consolidation) Act 1925, s. 225 Xem thém: John B. Saunders (1969), Words and Phrases Legally Defined, London, Butterworths, tr. 34 Ở Việt Nam, các nhà khoa học pháp lý cũng có những quan điểm riêng về khái niệm “bị đơn”.
Theo Từ điền giải thích thuật ngữ Luật học: “Bi don la người bị kiện tham gia TTDS để trả lời về việc kiện”? Theo Từ dién Luật học: “Bi don là Người tham gia to tụng theo yêu cau của nguyên đơn hoặc người khởi kiện, khởi tố vì lợi ích chung do gia thiết đã vì phạm quyên, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn hoặc tranh chấp với nguyên don” va “Bị đơn trong VADS là đương sự trong VADS, bị kiện và tham gia tổ tụng dé trả lời về việc kiện”? Theo Giáo trình Luật TTDS của Trường Dai học Luật Hà Nội có đưa ra khái niệm: “Bi don trong VADS là người tham gia tổ tụng dé trả lời về việc kiện do bị nguyên đơn hoặc bị người khác khởi kiện theo quy định của pháp luật. 82 Các khái niệm được định nghĩa trên dé gây nhầm lẫn rằng người bị kiện luôn được xác định là bị đơn trong TTDS. Thực tế, tư cách bị đơn chỉ được hình thành khi người khởi kiện có tư cách khởi kiện. Tư cách khởi kiện trong TTDS thuộc về người được giả thiết có quyền lợi hợp pháp bị xâm phạm.
Nói cách khác, nếu người khởi kiện không được xác định tư cách là nguyên đơn hoặc người đại diện hợp pháp của nguyên đơn thì hành vi khởi kiện không làm phát sinh VADS, và đương nhiên người bị khởi kiện không thề trở thành bị đơn. Nhìn chung, theo tác giả, những định nghĩa nêu trên chưa thẻ hiện đầy đủ tính chất và cách xác định bị đơn.