Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ ĐẠO ĐỨC CÔNG VỤ 1. Một số khái niệm liên quan 1. Đạo đức và công vụ 1. Đạo đức Khái niệm về đạo đức từ lâu đã được rất nhiều Nhà đạo đức học nghiên cứu và đưa ra nhiều giải thích khác nhau, như: Ở phương tây, thuật ngữ “đạo đức” trong chữ cổ Hy Lạp “ethos” có nghĩa là thói quen, tính khí, tính cách, lối suy nghĩ.
Ở phương đông, khái niệm đạo đức của người Trung Quốc là những nguyên tắc luân lý (luân thường đạo lý), khi triết tự chữ: Đạo là đường đi, nơi ở; Đức theo Khổng tử là sống đúng luân thường [15]. Nhưng đặc điểm chung của đạo đức đều là hình thái ý thức xã hội, hệ thống các quy tắc, chuẩn mực xã hội để con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lễ, nghĩa, đạo lý, lợi ích chung của xã hội và được phân loại thành đạo đức cá nhân, đạo đức xã hội, trong đó: a. Đạo đức cá nhân Thứ nhất, đạo đức cá nhân là hình thái ý thức xã hội gắn liền với thiện, ác, đúng, sai. Trên cơ sở kinh tế - xã hội và đặc điểm của mỗi loại hình, lĩnh vực mà nhận xét xã hội đánh giá về cá nhân đó cũng khác nhau.
Mặt khác, cá nhân đó cũng phải điều chỉnh tâm lý, hành vi của bản thân sao cho phù hợp với hình thức biểu hiện, mức độ phản ánh của từng điều kiện kinh tế - xã hội, khi tác động đến hình thái xã hội không gây hại cho lợi ích chung và được nhóm xã hội công nhận là hành vi đúng. Vấn đề này có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng giúp cá nhân, đặc biệt là CBCCVC, chủ thể của đạo đức công vụ xây dựng được khung cơ sở và khung pháp lý thực hiện đạo đức công vụ được hiệu quả. Thứ hai, đạo đức cá nhân là hiện tượng tâm lý cá nhân, được nhận thức từ tình cảm, ý chí của cá nhân trong một tình huống cụ thể. Căn cứ vào trình độ nhận thức, kiến thức xã hội đối với hành vi thực hiện mà mức độ tình cảm và cấp độ ý chí đánh giá về quan điểm đạo đức cũng khác nhau.
Ví dụ: Vụ việc cán bộ Phường Văn 8 Miếu gây khó dễ cho người khai tử [7] là vụ việc cụ thể đánh giá được đạo đức bị chi phối bởi tâm lý cá nhân, nhóm xã hội khi “Dư luận xã hội phản ứng gay gắt cán bộ phường Văn Miếu , Hà Nội về việc gây khó dễ khi người dân đi làm giấy chứng tử cho người thân. Thực tế, thực trạng trên xảy ra ở rất nhiều nơi, cơ bản là do dư luận, ý chí, trình độ nhận thức của các khu vực khác nhau, mà dư luận được công khai trước xã hội nhiều hơn. Đối với trường hợp trên, người dân không chỉ đánh giá cán bộ bằng việc đáp ứng hay không đáp ứng được quy trình, họ đánh giá về cách ứng xử trên tư cách ứng xử với dân. Thứ ba, đạo đức cá nhân là một bộ phận quy tắc được xây dựng thành khung pháp lý, khung tổ chức để thực thi tính cưỡng chế đối với quyền lực của xã hội đó.
Điều đó thể hiện qua những giá trị đạo đức được xã hội chấp nhận và tìm mọi cách để cá nhân, hành vi ứng xử theo quan điểm bảo vệ lợi ích xã hội. Vì vậy, đạo đức cá nhân có ảnh hưởng rất lớn đến việc thực thi công vụ, khi đội ngũ CBCCVC thực sự hiểu trách nhiệm và nghĩa vụ của bản thân thì đạo đức của họ sẽ có tính phục vụ, tạo hiệu quả trong công việc… Ngược lại, khi tác phong, lề lối làm việc, tinh thần, thái độ phục vụ nhân dân ở một bộ phận CBCCVC không cao thì kéo theo đó thi hành công vụ không hiệu quả, biểu hiện thiếu tinh thần trách nhiệm, gây phiền hà cho tổ chức và công dân. Đạo đức xã hội Đạo đức xã hội được hình thành trên cơ sở chuẩn mực của các giá trị phát triển của xã hội và gắn liền với các hình thái xã hội khác nhau. Hiện nay, đạo đức xã hội đang có những sự thay đổi, sự thay đổi đó theo hai hướng tích cực và tiêu cực.
Tích cực: Một xã hội có nhận thức cao thì hoạt động của xã hội ấy có hiệu quả tốt, như: Giải quyết công việc nhanh chóng, chính sách, pháp luật ban hành hợp lòng dân, thái độ phục vụ văn hóa…; Ngược lại một xã hội bị biến chất, ý thức kém thì kết quả là toàn bộ hoạt động trong xã hội ấy không thể đạt được hiệu quả cao, trong đó hoạt động thực thi công vụ cũng chịu sự ảnh hưởng không tốt do xã hội ấy đem lại. Công vụ 9 Công vụ là hoạt động do CBCCVC nhân danh Nhà nước hoặc những cá nhân, tổ chức được Nhà nước trao quyền thực hiện theo quy định của pháp luật và được pháp luật bảo vệ nhằm phục vụ Nhà nước, phục vụ nhân dân, đặc trưng của công vụ luôn gắn với quyền lực Nhà nước, là hoạt động của CBCCVC thi hành nhiệm vụ được giao. Công vụ thường gắn liền với văn hóa công vụ (lối sống, các ứng xử có trình độ cao, biểu hiện văn minh) [40]; là tập hợp các giá trị, thái độ, chuẩn mực, niềm tin và các định hướng tinh thần có ý nghĩa định hình và quyết định hành vi của hoạt động công vụ; là tinh thần nhân văn trong xử lý các quan hệ giữa cơ quan công quyền, CBCCVC với tổ chức, công dân nhằm thúc đẩy sự phát triển, tiến bộ xã hội vì mục đích phục vụ nhân dân. Mặt khác, công vụ khi gắn liền với văn hóa sẽ hình thành lối sống tích cực, tác động tốt đến môi trường làm việc CBCCVC.
Đồng thời văn hóa đặt ra cho công vụ nếp sống thanh lịch, văn minh, CBCCVC phải gương mẫu thực hiện, thực hiện tốt quy tắc ứng xử, quy tắc đạo đức, nghề nghiệp, quy chế văn hóa công sở của CBCCVC, nhất là những cán bộ, công chức thường xuyên tiếp xúc với nhân dân. Công vụ phải gắn liền với những giá trị cơ bản của hoạt động công vụ, không vì mục đích tư lợi, được thực hiện đảm bảo nguyên tắc tuân thủ pháp luật (nghĩa vụ, quyền hạn được giao, công khai, minh bạch) [5] của người thực thi công vụ. Để có một nền công vụ tốt phục vụ nhân dân, đảm bảo mọi điều kiện tốt nhất để họ thực hiện các hoạt động tạo ra của cải vật chất, cũng như các hoạt động hữu ích khác cho sự phát triển của xã hội phải đảm bảo cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tƣ trong hoạt động công vụ. Thi hành công vụ CBCCVC là “trách nhiệm” gắn kèm “kết quả” [25,tr.
Trong đó, trách nhiệm thi hành công vụ là thực hiện hoàn thành nhiệm vụ được giao; là nguyên tắc của công vụ, buộc người công chức phải gắn mình với thực hiện công vụ cho đến khi có kết quả [25,tr. Hồ Chí Minh đã từng giải thích về trách nhiệm là “việc gì, bất kỳ to hay nhỏ, khó hay dễ, ta cũng phải đưa cả tinh thần, lực lượng ra làm cho đến nơi đến chốn. Làm một cách cẩu thả, làm cho có chuyện, dễ 10 làm khó bỏ, đánh trống bỏ dùi, gặp sao làm vậy… là không có tinh thần trách nhiệm” [39]. Do đó, trách nhiệm thi hành công vụ là tiêu chí đánh giá đạo đức CBCCVC trách nhiệm hoặc thiếu trách nhiệm.
Thậm chí nếu thiếu trách nhiệm nghiêm trọng, gây thiệt hại về lợi ích của xã hội. CBCCVC sẽ được đánh giá theo hậu quả trách nhiệm đó, như trách nhiệm dân sự, hình sự, hành chính. Kết quả của thi hành công vụ là hình thức chịu trách nhiệm khi CBCCVC vi phạm các quy định về pháp luật. Nhưng thực tế, việc đánh giá mức độ hoàn thành công vụ cũng khó và càng khó quy trách nhiệm cho người thực hiện, đặc biệt là đánh giá về thực hiện pháp luật về đạo đức công vụ.
Tóm lại, công vụ là hoạt động công quyền dựa trên cơ sở “sử dụng quyền lực công” theo quy định của pháp luật; nó có tính tổ chức cao và tuân theo những quy định bắt buộc của pháp luật, được xây dựng trên cam kết những giá trị mà Nhà nước, CBCCVC cam kết phải thực hiện. Đạo đức công vụ 1. Khái niệm Đạo đức công vụ ở Việt Nam tuy chưa được quy định cụ thể bởi một bộ Luật Công vụ (thực tế chưa có Luật Công vụ), nhưng đã có nguyên tắc hoạt động công vụ. Theo đó, bằng việc học hỏi một số quốc gia trên thế giới về những tiêu chí thể hiện giá trị cốt lõi của công vụ (vì pháp luật các nước trên thế giới đã có Luật Công vụ, Luật Giá trị và đạo đức của công chức), … với các khung pháp lý có chuẩn mực đạo đức công vụ cụ thể, như Luật Công vụ của Vương Quốc anh có bốn nhóm giá trị cốt lõi [23,tr.166] “Tính liêm chính – Integrity; Trung thực, chân thành – Honesty; Tính khách quan – Objectivity; Không thiên vị - Impartiality”; Luật giá trị và Đạo đức của công chức Canada cũng có 4 nhóm tiêu chí giá trị cốt lõi gồm: dân chủ; giá trị nghề nghiệp, chuyên môn; chuẩn mực đạo đức; giá trị nhân dân.
Vì vậy chuẩn khung đạo đức công vụ ở Việt Nam đã được xây dựng dưới nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Hiện nay, khái niệm đạo đức công vụ của CBCCVC và tổ chức là những chuẩn mực đạo đức được áp dụng cho một nhóm người nhất định trong xã hội khi 11 thi hành công vụ. Là hệ thống chuẩn mực quy định mặt tích cực, tiêu cực, nên hay không nên làm trong hoạt động công vụ của CBCCVC. Đạo đức công vụ luôn bao gồm hai yếu tố: Đạo đức cá nhân từng CBCCVC trong đời sống xã hội và đạo đức khi thi hành công vụ [23,tr.
Đạo đức cá nhân của CBCCVC. Để làm được điều này, CBCCVC phải là người hình thành nên ý thức về giá trị công vụ (vai trò, mục đích công vụ), họ phải là người triển khai thực hiện những chân giá trị đạo đức công vụ để bản thân tuân theo pháp luật, đồng thời làm gương cho người khác tuân theo pháp luật. Ngoài ra, đạo đức công vụ còn phải hình thành từ khía cạnh đạo đức xã hội của CBCCVC. Bởi vì, mỗi một hình thái xã hội gắn liền với một hình thái Nhà nước, dựa vào các chuẩn mực đạo đức xã hội để điều chỉnh các hoạt động của CBCCVC.
Đạo đức khi thi hành công vụ hay còn gọi là đạo đức nghề nghiệp của CBCCVC cũng là một giai đoạn hình thành nên đạo đức công vụ.