Chương 1: KHÁI QUÁT VE MANH DAT, CON NGUOI HUYEN HAI LANG (QUANG TRI) VA CONG CUQC KHÁN HOANG TRƯỚC NĂM 1558 1. Điều kiện tự nhiên - Vị trí địa lý Hải Lăng là huyện nằm về cực Nam tỉnh Quảng Trị, có tọa độ địa lý 16°33°40"" dén 16°48’ vĩ độ Bắc và 10794°10'” đến 108°23'30°* kinh độ Đông, cách. thành phố Đông Hà về phía Nam 21km, cách thành phố Huế về phía Bắc 50km; phía Đông giáp Biển Đông, phía Tây giáp huyện Đakrông, phía Nam giáp tỉnh Thừa Thiên Huế, phía Bắc giáp thị xã Quảng Trị và huyện Triệu Phong. Theo miêu tả của sách Đại Nam nhất thống chí: Huyện Hải Lăng cách đạo 17 dặm về phía Đông Nam; Đông Tây cách nhau 38 dặm, Nam Bắc cách nhau 70 dặm; phía Đông đến địa giới huyện Phong Điển 24 dặm, phía Tây đến địa giới 2 huyện Đăng Xương và Thành Hóa 14 dặm, phía Nam đến động núi 47 dặm, phía Bắc đến biển 23 dặm [48, tr.
- Điều kiện tự nhiên Địa hình và sông ngòi: Đặc trưng của địa hình Hải Lăng là thấp dần từ Tây sang Đông, chia thành 3 vùng chủ u: vùng gò đồi và núi (59%); vùng đồng bằng. Ving gò đồi và núi: Phân bố ở khu vực phía Tây của huyện thuộc địa bàn chủ yếu các xã Hải Phú, Hải Lâm, Hải Trường, Hải Sơn, Hải Chánh. Mô tả về núi sông hai huyện Đăng Xương và Hải Lăng sách Đồng Khánh địa dw chí chép: “Hai huyện có nhiều núi, nhưng không có núi nào lớn” [56, tr.1388|, 'Vùng đồng bằng: Nằm giữa vùng gò đồi, cồn cát và bãi cát, bao gồm địa bàn các xã Hải Quy, Hải Xuân, Hải Vĩnh, Hải Thiện, Hải Thành, Hải Tân, Hải Hòa, thị trấn Hải Lãng và một phần các xã Hải Phú, Hải Thượng, Hải Lâm, Hải Thọ, Hải Trường, Hải Sơn, Hải Chánh, Hải Dương, Hải Quế, Hải Ba 12 'Vùng cồn cát, bãi cát ven biển: Nằm giữa đồng bằng và Biển Đông, thuộc các xã Hải An, Hải Khê và một phần các xã Hải Dương, Hải Quế, Hải Ba, độ cao trung bình 6 - 7m. Đắt đai chủ yếu là cồn cát và bãi cát Sông ngòi: Hải Lăng có mạng lưới sông ngòi dày đặc, phân bó đều khắp trong.
Do phụ thuộc địa hình tự nhiên nên hầu hết các sông suối có đặc điểm là ngắn, hẹp và dốc. Mùa khô nước xuống thấp, mùa mưa nước dâng nhanh. Trên địa bàn huyện có các con sông chính đó là: Sông Thạch Hãn, sông Vĩnh Định, sông Ô Lâu, sông Ô Giang, sông Lương Điền, sông Nhùng, sông Bến Đá (!”' Trong đó, sông Thạch Hãn và Vĩnh Định được sách Đại Nam nhất thống chí đánh giá là hai đại xuyên lớn của Quảng Trị, vua Minh Mạng (1836) cho khắc hình tượng trên Thuần Đinh. Các con sông này có ý nghĩa rất lớn trong việc cung cấp nước tưới và tiêu úng.
về mùa lũ, điều hòa lượng nước trong khu vực, cung cấp một lượng lớn phủ sa để tạo ra những cánh đồng màu mỡ, làm cho Hải Lăng trở thành vựa lúa lớn của tỉnh đồng thời sự phân bổ đều các dòng sông theo hướng Tây Nam - Đông Bắc (Sông: Thạch Han, Nhing, Bén Đá, Thác Ma, Ô Lâu) và hướng Tây Bắc - Đông Nam (sông Vĩnh Định) đã tạo thành mạng lưới giao thông thủy liên hoàn với hệ thống bến đò dọc, đỏ ngang đưa người và hàng hóa giao lưu giữa các vùng trong huyện, trong tỉnh, ngoài tinh cũng như xây dựng các công trình tưới tiêu, đảm bảo nguồn nước sinh hoạt, các hoạt động sản xuất khác, đời sống văn hóa. Đây cũng là một trong những nhân tố quan trọng góp phần vào công cuộc khai khẩn dat đai, định cư của các làng xã ở Hải Lăng. Ngoài hệ thống sông trên, trên địa bàn huyện còn có một số hồ, phá quan trọng, phục vụ phát triển sản xuất và đời sóng dân sinh như: Đập Trấm, Khe Chanh, Miếu Bà, Thác Heo, Khe Rò, Phú Long, Khe Khế. Phá Hải Lăng: Ở xã Diên Sanh, huyện Hải Lăng.
Phía Đông ôm lấy kênh dài. Phía Tây liền với đôi múi, lại có đền Thủy Tộc sừng sững ở phía Nam, tòa tháp Trung Đan cao vòi vọi bên mặt Tây Bắc. Cá tôm nhưng nhúc là nguồn lợi của cư dân. 13 Khí hậu Bồn mùa thường ẩm, tháng giêng.
tháng 2 khí trời hòa ẩm; tháng 3 khí trời nóng dẫn, tháng 4 tiết tiểu mãn, thỉnh thoảng cũng có lụt; thang 5, tháng 6 và tháng 7 gió Nam thôi mạnh; thắng 8, tháng 9 khí trời mắt dần, thường có mưa lũ; tháng 10 trong những ngày mông 3, 13 và 23 thường bị lụt. Trong một năm nửa mùa thu sang mùa đông thường mưa nhiều, nửa mùa xuân về sau thường nắng nhiều, từ tháng trọng đông (tháng 11) trở về sau, khí rét nhưng không giá buốt, cây cối không rụng lá, khí trời đã ấm; tháng 12 sắm bắt đâu dậy [48, tr.110] Đây là vùng đất được xếp vào một trong những nơi khí hậu khắc nghiệt, là nơi giao hoà của nhiều đặc điểm khí hậu hai miền Nam Bắc. Nằm ở vĩ độ thấp nên mùa đông ở đây ngắn và rét ít; mùa hạ chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam (gió Lào) và khô nắng kéo đài, dễ gây hạn hán. Các tháng mùa hè nhiệt độ trung binh 30°C nóng nhất là các tháng 6, 7, 8 có khi nhiệt độ lên đến 39 - 40%C độ.
Các tháng mùa đông nhiệt độ trung bình 259C, tháng thấp nhất 1§°C, có khi xuống tới 12 - 13C. Lượng mưa không ổn định tính cả năm khoảng 2500 - 2700mm, bão lụt cũng thường xảy ra trong thời gian này, đôi khi có gió lốc Sự cách trở về địa lý, sự ảnh hưởng của khí hậu đã làm cho đời sống sản xuất của nhân dân gặp nhiều khó khăn, muốn có được miếng cơm manh áo đòi hỏi người dan Hai Lăng phải cần cù chịu khó một nắng hai sương, phải đoàn kết để vượt qua mọi trở ngại xây dựng đời sóng ấm no. Đất đai và các loại lâm, th, thủy, hải sản Về đất đai: Toàn huyện có 11 nhóm đất, gồm 15 loại đất như: Nhóm đất còn cát ven biển: thích hợp trồng rừng phòng hộ, hoa màu; nhóm đắt phù sa được bồi và phù sa ngòi, suối: thích hợp trồng màu và cây công nghiệp ngắn ngày, trồng lúa; nhóm phù sa không được bồi: thích hợp cho trồng màu và cây công nghiệp ngắn ngày; đất phù sa có tầng loang lỗ đỏ vàng và đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa nước: thành phần cơ giới thịt nhẹ, độ phì nhiêu trung bình có thể trồng lúa, màu và cây công nghiệp ngắn ngày; nhóm đắt phù sa glây, thung lũng dốc tụ, đất lay: ding để trồng lúa nước và nuôi trồng thủy sản; nhóm đất than bùn; nhóm đất xám bạc màu, đắt nâu vàng trên phủ sa cổ. 14 Đất đai được chia nhiều loại theo kết cấu của đia hình như trên tạo nên nhiều loại lâm, thổ, thủy hải sản.
Đất vùng gò đồi và núi thì thích hợp chăn muôi, trồng hoa màu và các loại cây đặc sản như: Hồ tiêu, mít, chè, lúa nếp. Ở vùng đồng bằng: Sự đa dạng các loại đất (11 loại) là điều kiện thuận lợi đẻ phát triển sản xuất nông nghiệp. Đắt phù sa được các con sông bồi đắp rất thích hợp trồng lúa nếp, lúa tẻ năng suất cao. Phù sa cũng làm cho xóm làng có những vườn tược xanh tươi với đủ loại rau quả.
Các loại đất bãi ven sông thường dùng trồng dâu, trồng bông và các loại hoa màu như khoai, sắn, ớt, đậu, bắp, mía, rau xanh. VỀ lâm sản: Hải Lăng có nhiều lâm sản quý như gỗ lim, kiền kiền, gõ, thông, tốc hương, các loại mây, tre, nứa, cây dược liệu và các loài thú quý hiếm như voi, hổ, hươu, nai, công, chim trĩ. Trong /foàng Việt địa dự chí, Phan Huy Chú đã mô tả các loại gỗ quý ở phủ Triệu Châu (Triệu Phong) trong đó có Hải Lăng như sau: Trên rừng có nhiều gỗ quý, có thứ sắc vàng rất bên chắc, có thẻ đóng thuyền được vì khi thả xuống nước nó lại nôi, gọi là gỗ kiền kiên, thân nó cao thẳng mà rắn, thở gỗ lại nhẫn, chịu mưa gió được lâu, làm trụ chôn xuống đất có khi cả trăm năm không mục. Lại có thứ gỗ gọi là hoa lê, cành lá sum suê, chất gỗ cũng như kiền kiền vậy,.
'Về thủy, hải sản: Hệ thống sông ngòi, hồ, đầm phá và nhất là Hải Lăng có bờ.5 km dọc theo hai xã Hải An và Hải Khê, ngư trường đánh bắt rộng, không bị giới hạn trong phạm vi lãnh thổ của địa phương đã cung cấp nguồn thủy hải sản phong phú như: Các loại tôm, cua, cá sông, lươn, cá Hồng, cá Mú, cá Thu, cá Ngừ, mực Ông, mực Nang, ốc các loại và nhiều loại đặc sản quý khác. Khoáng sản: Tài nguyên khoáng sản của Hải Lăng phần lớn thuộc nhóm không kim loại, chủ yếu các loại khoáng sản như: Than bùn trữ lượng không lớn nhưng nhiệt lượng có thể đạt tới 3.500 kcal/kg, chất lượng tương đối tốt có thê dùng. làm chất đốt và sản xuất phân vi sinh và được phân bố trên địa bàn các xã Hải Thọ, Hai Vinh, Hai Thượng, Hải Thiện; đất sét phân bồ dọc hai bên bờ sông Nhùng, mỏ. sét lớn nhất là ở Hải Thượng được dùng để sản xuất gạch, ngói.
Ngoài ra, còn có i, ct xây dựng, phân bố tại các con sông rải rác ở nhiều nơi trong huyện, trong đó tập trung nhiều ở dọc theo các con sông lớn. 15 Như vậy, với địa hình có đầy đủ các dạng: Núi đồi, sông ngòi, đằm phá, biển cả đã tạo cho Hải Lăng một hệ sinh thái động thực vật phong phú với các loại lâm, thổ, thủy, hải sản. Góp phần vào sự phát triển kinh tế nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp, ngư nghiệp. Vùng đất Hải Lăng trước thế kỹ XIV 1.
Dấu vết con người thờ và sơ sử trên đất Hải Lăng Từ buổi nguyên sơ, dấu vết con người thời tiền và sơ sử đã xuất hiện ở Quảng. Trị trong đó có Hải Lăng. Trong hai mùa điền dã năm 1993 - 1994 của Trung tâm Văn hóa Việt Nam và Bao ting Quang Tri, các nhà Khảo cổ học đã tìm thấy những công cụ đồ đá cũ thuộc nền Văn hóa Sơn Vi ở Của, Carol, Cồn Cỏ và đồ đá giữa thuộc nền Văn hóa. Hòa Bình, Bắc Sơn ở Lao Bảo, Khe Sanh, Tân Lâm.
Việc tìm thấy các di tích hậu kỳ đồ đá cũ ở Quảng Trị phân bố ở vùng miễn núi lẫn hải đảo gần bờ là một thành tựu lớn của khảo cổ học Việt Nam.