Luận văn: Công cuộc khẩn hoang và phát triển kinh tế huyện Hải Lăng (1558-1885)

Luận văn thạc sĩ kinh tế nghiên cứu lịch sử công cuộc khẩn hoang và phát triển kinh tế ở huyện hải lăng quảng trị từ 1558 đến 1885, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề

Chuyên ngành

Lịch Sử

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn
145
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

1.4. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

1.5. Đóng góp của đề tài

1. CHƯƠNG 1: KHAI QUÁT VỀ MẢNH ĐẤT, CON NGƯỜI HUYỆN HẢI LĂNG (QUẢNG TRỊ) VÀ CÔNG CUỘC KHẨN HOANG TRƯỚC NĂM 1558

1.1. Điều kiện tự nhiên

1.2. Vùng đất Hải Lăng trước thế kỷ XIV

1.3. Dấu vết con người thời tiền và sơ sử trên đất Hải Lăng

1.4. Dấu tích văn hóa Chămpa ở Hải Lăng

1.5. Quá trình thay đổi địa giới hành chính Hải Lăng qua các thời kỳ

1.6. Công cuộc khai khẩn và lập làng ở Hải Lăng trước năm 1558

1.7. Khái quát về lịch sử - xã hội Hải Lăng (thế kỷ XIV - 1558)

1.8. Công cuộc khai khẩn hình thành làng xã Hải Lăng (trước năm 1558)

2. CHƯƠNG 2: CÔNG CUỘC KHẨN HOANG PHÁT TRIỂN LÀNG XÃ Ở HUYỆN HẢI LĂNG (QUẢNG TRỊ) TỪ 1558 ĐẾN 1885

2.1. Khái quát vùng đất Hải Lăng từ 1558 đến 1885

2.2. Công cuộc khẩn hoang lập làng ở Hải Lăng từ 1558 đến 1885

2.3. Lực lượng tham gia khẩn hoang

2.4. Các hình thức tổ chức khẩn hoang lập làng

2.5. Thành quả công cuộc khẩn hoang ở Hải Lăng

2.6. Một số nhận xét về quá trình thành lập làng xã ở Hải Lăng

3. CHƯƠNG 3: KINH TẾ Ở HUYỆN HẢI LĂNG (QUẢNG TRỊ) TỪ 1558 ĐẾN 1885

3.1. Kinh tế nông nghiệp

3.2. Tình hình ruộng đất

3.3. Hoạt động trị thủy, thủy lợi

3.4. Trồng trọt, chăn nuôi

3.5. Kinh tế thủ công nghiệp

3.6. Kinh tế thương nghiệp

3.7. Sự ra đời hệ thống chợ làng Hải Lăng

3.8. Một số nhận xét về quá trình hình thành và phát triển chợ

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Tóm tắt

I. Tổng Quan Luận Văn Thạc Sĩ Lịch Sử Hải Lăng 1558 1885

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu sâu sắc công cuộc khẩn hoangphát triển kinh tếhuyện Hải Lăng, Quảng Trị từ 1558 đến 1885. Đây là giai đoạn lịch sử quan trọng chứng kiến sự thay đổi về địa bạ, dân cư, và xã hội dưới thời các chúa Nguyễn, nhà Tây Sơn và triều Nguyễn. Nghiên cứu này không chỉ làm sáng tỏ lịch sử Quảng Trị mà còn cung cấp cái nhìn toàn diện về quá trình hình thành và phát triển kinh tế địa phương. Luận văn sử dụng các nguồn sử liệu phong phú, từ biên niên sử đến địa lý lịch sử, kết hợp với phân tích kinh tế để đánh giá tác động của các chính sách và biến động lịch sử đến đời sống nông thônđời sống nhân dân. Điểm đặc biệt của luận văn là sự kết hợp giữa nghiên cứu lịch sử địa phương với bối cảnh rộng lớn của lịch sử Việt Nam, đặc biệt là trong thời kỳ Lê-Trịnhthời kỳ Nguyễn. Luận văn này hứa hẹn đóng góp quan trọng vào việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, đồng thời là nguồn tài liệu tham khảo quý giá cho các nhà nghiên cứu và những ai quan tâm đến lịch sử Việt Nam.

1.1. Ý Nghĩa Khoa Học và Thực Tiễn Của Luận Văn

Luận văn không chỉ là công trình nghiên cứu lịch sử địa phương mà còn thể hiện lòng biết ơn đối với tiền nhân. Nghiên cứu này góp phần giúp nhân dân Hải Lăng, đặc biệt là thế hệ trẻ, hiểu và yêu quê hương hơn, trân trọng những gì tốt đẹp trong quá khứ, và tự hào về nơi 'chôn nhau cắt rốn'. Luận văn có ý nghĩa quan trọng trong việc giáo dục và bồi dưỡng lòng yêu nước, trách nhiệm xây dựng quê hương giàu mạnh. Nguồn tài liệu phong phú và phương pháp nghiên cứu khoa học giúp luận văn trở thành nguồn tham khảo giá trị cho những ai quan tâm đến lịch sử làng xã Việt Nam.

1.2. Đối Tượng và Phạm Vi Nghiên Cứu Rõ Ràng

Đối tượng nghiên cứu chính là công cuộc khẩn hoangphát triển kinh tếhuyện Hải Lăng từ 1558 đến 1885, bao gồm lực lượng tham gia, hình thức tổ chức, thành quả khẩn hoang, và các lĩnh vực kinh tế như nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp, ngư nghiệp. Phạm vi nghiên cứu được giới hạn trong khoảng thời gian và không gian cụ thể, giúp luận văn tập trung vào các vấn đề trọng tâm và đưa ra những kết luận chính xác. Nguồn tài liệu được sử dụng bao gồm thư tịch cổ, kỷ yếu hội thảo, tạp chí, luận văn, khóa luận, website, và tài liệu điền dã, đảm bảo tính khách quan và toàn diện của nghiên cứu.

II. Thách Thức Khẩn Hoang Hải Lăng 1558 1885 Vấn Đề

Mặc dù có tiềm năng phát triển, công cuộc khẩn hoangphát triển kinh tếHải Lăng từ 1558 đến 1885 phải đối mặt với nhiều thách thức lớn. Điều kiện tự nhiên khắc nghiệt với thiên tai liên miên như bão lũ, hạn hán, và dịch bệnh gây thiệt hại lớn cho sản xuất và đời sống. Chính sách khẩn hoang của nhà nước chưa thực sự hiệu quả, thậm chí có lúc còn gây khó khăn cho người dân. Tình trạng tranh chấp ruộng đất, thuế khóa nặng nề, và sự bất ổn xã hội do chiến tranh liên miên cũng là những yếu tố cản trở sự phát triển. Đời sống dân cư còn nhiều khó khăn, thiếu thốn, trình độ văn hóa và kỹ thuật canh tác còn lạc hậu. Nghiên cứu này sẽ đi sâu vào phân tích những thách thức này và tìm ra những giải pháp phù hợp.

2.1. Địa Lý và Khí Hậu Khắc Nghiệt Ảnh Hưởng Thế Nào

Địa hình thấp trũng, dễ bị ngập úng, đất đai bạc màu, và khí hậu khắc nghiệt với thiên tai liên miên là những trở ngại lớn cho phát triển nông thôn. Việc khai khẩn đất đai và cải tạo đồng ruộng gặp nhiều khó khăn, đòi hỏi người dân phải đổ nhiều công sức và chi phí. Các biện pháp thủy lợi còn hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu tưới tiêu và phòng chống thiên tai. Tình trạng phá rừng, khai thác tài nguyên bừa bãi cũng gây ra những hậu quả tiêu cực cho môi trường và đời sống.

2.2. Bất Ổn Chính Trị và Xã Hội Gây Khó Khăn

Chiến tranh liên miên, đặc biệt là cuộc chiến Trịnh-Nguyễn, đã tàn phá nhiều làng mạc, gây thiệt hại về người và của. Xã hội bất ổn với nạn trộm cướp, quan lại tham nhũng, cường hào ức hiếp. Dân cày phải gánh chịu nhiều loại thuế khóa nặng nề, khiến cuộc sống thêm phần khó khăn. Chính quyền địa phương còn yếu kém, chưa đủ năng lực để bảo vệ quyền lợi của người dân và thúc đẩy phát triển kinh tế.

III. Chính Sách Khẩn Hoang Làng Xã Thời Nguyễn 1558 1885

Để thúc đẩy công cuộc khẩn hoangphát triển kinh tế, các chúa Nguyễn, nhà Tây Sơn và triều Nguyễn đã ban hành nhiều chính sách khẩn hoang khác nhau. Các chính sách này tập trung vào việc khuyến khích di dân, cấp đất cho người khai hoang, xây dựng hệ thống thủy lợi, và ổn định đời sống nhân dân. Tuy nhiên, hiệu quả của các chính sách này còn nhiều hạn chế, do sự thay đổi về điều kiện xã hội, chính sách thuế khóa, và năng lực quản lý của chính quyền. Luận văn sẽ phân tích chi tiết những chính sách này và đánh giá tác động của chúng đến sự hình thành và phát triển của làng xãHải Lăng.

3.1. Chính Sách Khuyến Khích Di Dân và Cấp Đất

Các chúa Nguyễn và triều Nguyễn đã ban hành nhiều chỉ dụ khuyến khích di dân từ các vùng khác đến Hải Lăng khai khẩn đất đai. Người khai hoang được cấp đất, miễn thuế trong một thời gian nhất định, và được hưởng nhiều ưu đãi khác. Tuy nhiên, việc cấp đất còn nhiều bất cập, do sự thiếu minh bạch, tham nhũng, và tình trạng tranh chấp ruộng đất. Nhiều người nghèo không có khả năng khai hoang hoặc bị mất đất do các thế lực xã hội.

3.2. Đầu Tư Xây Dựng Hệ Thống Thủy Lợi và Giao Thông

Nhà nước đã đầu tư xây dựng một số công trình thủy lợigiao thông quan trọng, như đào kênh, đắp đê, và xây dựng cầu đường. Các công trình này góp phần cải thiện điều kiện sản xuất và đời sống nhân dân, giảm thiểu thiệt hại do thiên tai, và thúc đẩy thương nghiệp. Tuy nhiên, quy mô đầu tư còn hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế, và hiệu quả sử dụng còn thấp do quản lý yếu kém.

IV. Mô Hình Kinh Tế Nông Nghiệp Tại Hải Lăng 1558 1885

Mô hình kinh tế nông nghiệp tại Hải Lăng từ 1558 đến 1885 chủ yếu dựa vào trồng lúa nước, kết hợp với một số cây trồng khác như ngô, khoai, sắn, và rau đậu. Kỹ thuật canh tác còn lạc hậu, năng suất thấp, và phụ thuộc nhiều vào thời tiết. Chăn nuôi gia súc, gia cầm đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp sức kéo, phân bón, và thực phẩm. Thương nghiệp phát triển chậm, chủ yếu là trao đổi hàng hóa tại các chợ làng. Luận văn sẽ phân tích chi tiết các yếu tố cấu thành mô hình kinh tế này và đánh giá hiệu quả của nó.

4.1. Phương Pháp Canh Tác và Năng Suất Lúa Nước

Kỹ thuật canh tác chủ yếu dựa vào sức người và sức kéo của trâu bò, chưa có nhiều tiến bộ về cơ giới hóa. Việc sử dụng phân bón còn hạn chế, chủ yếu là phân chuồng và phân xanh. Năng suất lúa nước thấp, thường chỉ đạt 1-2 tấn/ha. Tình trạng sâu bệnh hại lúa thường xuyên xảy ra, gây thiệt hại lớn cho sản xuất.

4.2. Vai Trò Chăn Nuôi Gia Súc và Gia Cầm Trong Hộ Gia Đình

Trâu bò được sử dụng chủ yếu để cày kéo, bừa ruộng, và vận chuyển hàng hóa. Lợn, gà, vịt được nuôi để cung cấp thực phẩm và phân bón. Quy mô chăn nuôi còn nhỏ lẻ, chủ yếu là chăn thả tự nhiên, ít được đầu tư về chuồng trại và kỹ thuật chăm sóc. Do đó, hiệu quả chăn nuôi chưa cao và thường xuyên xảy ra dịch bệnh.

V. Ảnh Hưởng Công Cuộc Khẩn Hoang Đến Đời Sống 1558 1885

Công cuộc khẩn hoang và phát triển kinh tế đã có những tác động đáng kể đến đời sống nhân dânHải Lăng từ 1558 đến 1885. Diện tích canh tác được mở rộng, sản lượng lương thực tăng lên, giúp cải thiện đời sống vật chất. Làng xã phát triển, dân cư tập trung, tạo điều kiện cho sự phát triển văn hóa, xã hội, và giáo dục. Tuy nhiên, sự phân hóa giàu nghèo ngày càng gia tăng, do sự bất bình đẳng trong phân chia ruộng đất, và sự bóc lột của địa chủ. Luận văn sẽ đánh giá toàn diện những tác động tích cực và tiêu cực này.

5.1. Cải Thiện Đời Sống Vật Chất và Tinh Thần Người Dân

Sản lượng lương thực tăng lên, giúp người dân có đủ ăn, đủ mặc, và có thêm thu nhập. Làng xã phát triển với các công trình công cộng được xây dựng, như đình chùa, trường học, và chợ. Văn hóa truyền thống được bảo tồn và phát huy, với các lễ hội, trò chơi dân gian, và các hoạt động văn hóa cộng đồng. Giáo dục được chú trọng, với việc thành lập các trường học và mời thầy đồ về dạy chữ.

5.2. Phân Hóa Giàu Nghèo và Các Vấn Đề Xã Hội Phát Sinh

Sự phân hóa giàu nghèo ngày càng gia tăng, do sự bất bình đẳng trong phân chia ruộng đất, và sự bóc lột của địa chủ. Nhiều người nghèo không có đất canh tác, phải làm thuê hoặc bỏ làng đi nơi khác. Các tệ nạn xã hội như trộm cướp, cờ bạc, và nghiện hút gia tăng, gây mất trật tự an ninh. Tình trạng bất công và áp bức gia tăng, dẫn đến các cuộc nổi dậy và phản kháng của người dân.

VI. Bài Học Từ Lịch Sử Khẩn Hoang Hải Lăng Tương Lai

Nghiên cứu công cuộc khẩn hoangphát triển kinh tếHải Lăng từ 1558 đến 1885 không chỉ giúp chúng ta hiểu rõ về quá khứ mà còn rút ra những bài học quý giá cho hiện tại và tương lai. Những bài học về quản lý đất đai, phát triển nông nghiệp bền vững, bảo tồn văn hóa truyền thống, và xây dựng xã hội công bằng có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh hiện nay. Luận văn sẽ đề xuất những giải pháp và kiến nghị nhằm phát huy những giá trị lịch sử và thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội bền vững ở huyện Hải Lăng.

6.1. Ứng Dụng Bài Học Lịch Sử Trong Phát Triển Nông Thôn Ngày Nay

Cần có những chính sách phù hợp để khuyến khích người dân khai hoang đất đai hoang hóa, phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững, và bảo vệ môi trường. Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng thủy lợi, giao thông, và giáo dục để cải thiện điều kiện sản xuất và đời sống nhân dân. Khuyến khích ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.

6.2. Bảo Tồn và Phát Huy Giá Trị Văn Hóa Truyền Thống

Cần có những biện pháp để bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, như các lễ hội, trò chơi dân gian, và các di tích lịch sử. Hỗ trợ các nghề thủ công truyền thống, tạo việc làm và tăng thu nhập cho người dân. Nâng cao trình độ văn hóa và nhận thức của người dân, giúp họ hiểu và yêu quê hương, đất nước.

27/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: KHÁI QUÁT VE MANH DAT, CON NGUOI HUYEN HAI LANG (QUANG TRI) VA CONG CUQC KHÁN HOANG TRƯỚC NĂM 1558 1. Điều kiện tự nhiên - Vị trí địa lý Hải Lăng là huyện nằm về cực Nam tỉnh Quảng Trị, có tọa độ địa lý 16°33°40"" dén 16°48’ vĩ độ Bắc và 10794°10'” đến 108°23'30°* kinh độ Đông, cách. thành phố Đông Hà về phía Nam 21km, cách thành phố Huế về phía Bắc 50km; phía Đông giáp Biển Đông, phía Tây giáp huyện Đakrông, phía Nam giáp tỉnh Thừa Thiên Huế, phía Bắc giáp thị xã Quảng Trị và huyện Triệu Phong. Theo miêu tả của sách Đại Nam nhất thống chí: Huyện Hải Lăng cách đạo 17 dặm về phía Đông Nam; Đông Tây cách nhau 38 dặm, Nam Bắc cách nhau 70 dặm; phía Đông đến địa giới huyện Phong Điển 24 dặm, phía Tây đến địa giới 2 huyện Đăng Xương và Thành Hóa 14 dặm, phía Nam đến động núi 47 dặm, phía Bắc đến biển 23 dặm [48, tr.

- Điều kiện tự nhiên Địa hình và sông ngòi: Đặc trưng của địa hình Hải Lăng là thấp dần từ Tây sang Đông, chia thành 3 vùng chủ u: vùng gò đồi và núi (59%); vùng đồng bằng. Ving gò đồi và núi: Phân bố ở khu vực phía Tây của huyện thuộc địa bàn chủ yếu các xã Hải Phú, Hải Lâm, Hải Trường, Hải Sơn, Hải Chánh. Mô tả về núi sông hai huyện Đăng Xương và Hải Lăng sách Đồng Khánh địa dw chí chép: “Hai huyện có nhiều núi, nhưng không có núi nào lớn” [56, tr.1388|, 'Vùng đồng bằng: Nằm giữa vùng gò đồi, cồn cát và bãi cát, bao gồm địa bàn các xã Hải Quy, Hải Xuân, Hải Vĩnh, Hải Thiện, Hải Thành, Hải Tân, Hải Hòa, thị trấn Hải Lãng và một phần các xã Hải Phú, Hải Thượng, Hải Lâm, Hải Thọ, Hải Trường, Hải Sơn, Hải Chánh, Hải Dương, Hải Quế, Hải Ba 12 'Vùng cồn cát, bãi cát ven biển: Nằm giữa đồng bằng và Biển Đông, thuộc các xã Hải An, Hải Khê và một phần các xã Hải Dương, Hải Quế, Hải Ba, độ cao trung bình 6 - 7m. Đắt đai chủ yếu là cồn cát và bãi cát Sông ngòi: Hải Lăng có mạng lưới sông ngòi dày đặc, phân bó đều khắp trong.

Do phụ thuộc địa hình tự nhiên nên hầu hết các sông suối có đặc điểm là ngắn, hẹp và dốc. Mùa khô nước xuống thấp, mùa mưa nước dâng nhanh. Trên địa bàn huyện có các con sông chính đó là: Sông Thạch Hãn, sông Vĩnh Định, sông Ô Lâu, sông Ô Giang, sông Lương Điền, sông Nhùng, sông Bến Đá (!”' Trong đó, sông Thạch Hãn và Vĩnh Định được sách Đại Nam nhất thống chí đánh giá là hai đại xuyên lớn của Quảng Trị, vua Minh Mạng (1836) cho khắc hình tượng trên Thuần Đinh. Các con sông này có ý nghĩa rất lớn trong việc cung cấp nước tưới và tiêu úng.

về mùa lũ, điều hòa lượng nước trong khu vực, cung cấp một lượng lớn phủ sa để tạo ra những cánh đồng màu mỡ, làm cho Hải Lăng trở thành vựa lúa lớn của tỉnh đồng thời sự phân bổ đều các dòng sông theo hướng Tây Nam - Đông Bắc (Sông: Thạch Han, Nhing, Bén Đá, Thác Ma, Ô Lâu) và hướng Tây Bắc - Đông Nam (sông Vĩnh Định) đã tạo thành mạng lưới giao thông thủy liên hoàn với hệ thống bến đò dọc, đỏ ngang đưa người và hàng hóa giao lưu giữa các vùng trong huyện, trong tỉnh, ngoài tinh cũng như xây dựng các công trình tưới tiêu, đảm bảo nguồn nước sinh hoạt, các hoạt động sản xuất khác, đời sống văn hóa. Đây cũng là một trong những nhân tố quan trọng góp phần vào công cuộc khai khẩn dat đai, định cư của các làng xã ở Hải Lăng. Ngoài hệ thống sông trên, trên địa bàn huyện còn có một số hồ, phá quan trọng, phục vụ phát triển sản xuất và đời sóng dân sinh như: Đập Trấm, Khe Chanh, Miếu Bà, Thác Heo, Khe Rò, Phú Long, Khe Khế. Phá Hải Lăng: Ở xã Diên Sanh, huyện Hải Lăng.

Phía Đông ôm lấy kênh dài. Phía Tây liền với đôi múi, lại có đền Thủy Tộc sừng sững ở phía Nam, tòa tháp Trung Đan cao vòi vọi bên mặt Tây Bắc. Cá tôm nhưng nhúc là nguồn lợi của cư dân. 13 Khí hậu Bồn mùa thường ẩm, tháng giêng.

tháng 2 khí trời hòa ẩm; tháng 3 khí trời nóng dẫn, tháng 4 tiết tiểu mãn, thỉnh thoảng cũng có lụt; thang 5, tháng 6 và tháng 7 gió Nam thôi mạnh; thắng 8, tháng 9 khí trời mắt dần, thường có mưa lũ; tháng 10 trong những ngày mông 3, 13 và 23 thường bị lụt. Trong một năm nửa mùa thu sang mùa đông thường mưa nhiều, nửa mùa xuân về sau thường nắng nhiều, từ tháng trọng đông (tháng 11) trở về sau, khí rét nhưng không giá buốt, cây cối không rụng lá, khí trời đã ấm; tháng 12 sắm bắt đâu dậy [48, tr.110] Đây là vùng đất được xếp vào một trong những nơi khí hậu khắc nghiệt, là nơi giao hoà của nhiều đặc điểm khí hậu hai miền Nam Bắc. Nằm ở vĩ độ thấp nên mùa đông ở đây ngắn và rét ít; mùa hạ chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam (gió Lào) và khô nắng kéo đài, dễ gây hạn hán. Các tháng mùa hè nhiệt độ trung binh 30°C nóng nhất là các tháng 6, 7, 8 có khi nhiệt độ lên đến 39 - 40%C độ.

Các tháng mùa đông nhiệt độ trung bình 259C, tháng thấp nhất 1§°C, có khi xuống tới 12 - 13C. Lượng mưa không ổn định tính cả năm khoảng 2500 - 2700mm, bão lụt cũng thường xảy ra trong thời gian này, đôi khi có gió lốc Sự cách trở về địa lý, sự ảnh hưởng của khí hậu đã làm cho đời sống sản xuất của nhân dân gặp nhiều khó khăn, muốn có được miếng cơm manh áo đòi hỏi người dan Hai Lăng phải cần cù chịu khó một nắng hai sương, phải đoàn kết để vượt qua mọi trở ngại xây dựng đời sóng ấm no. Đất đai và các loại lâm, th, thủy, hải sản Về đất đai: Toàn huyện có 11 nhóm đất, gồm 15 loại đất như: Nhóm đất còn cát ven biển: thích hợp trồng rừng phòng hộ, hoa màu; nhóm đắt phù sa được bồi và phù sa ngòi, suối: thích hợp trồng màu và cây công nghiệp ngắn ngày, trồng lúa; nhóm phù sa không được bồi: thích hợp cho trồng màu và cây công nghiệp ngắn ngày; đất phù sa có tầng loang lỗ đỏ vàng và đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa nước: thành phần cơ giới thịt nhẹ, độ phì nhiêu trung bình có thể trồng lúa, màu và cây công nghiệp ngắn ngày; nhóm đắt phù sa glây, thung lũng dốc tụ, đất lay: ding để trồng lúa nước và nuôi trồng thủy sản; nhóm đất than bùn; nhóm đất xám bạc màu, đắt nâu vàng trên phủ sa cổ. 14 Đất đai được chia nhiều loại theo kết cấu của đia hình như trên tạo nên nhiều loại lâm, thổ, thủy hải sản.

Đất vùng gò đồi và núi thì thích hợp chăn muôi, trồng hoa màu và các loại cây đặc sản như: Hồ tiêu, mít, chè, lúa nếp. Ở vùng đồng bằng: Sự đa dạng các loại đất (11 loại) là điều kiện thuận lợi đẻ phát triển sản xuất nông nghiệp. Đắt phù sa được các con sông bồi đắp rất thích hợp trồng lúa nếp, lúa tẻ năng suất cao. Phù sa cũng làm cho xóm làng có những vườn tược xanh tươi với đủ loại rau quả.

Các loại đất bãi ven sông thường dùng trồng dâu, trồng bông và các loại hoa màu như khoai, sắn, ớt, đậu, bắp, mía, rau xanh. VỀ lâm sản: Hải Lăng có nhiều lâm sản quý như gỗ lim, kiền kiền, gõ, thông, tốc hương, các loại mây, tre, nứa, cây dược liệu và các loài thú quý hiếm như voi, hổ, hươu, nai, công, chim trĩ. Trong /foàng Việt địa dự chí, Phan Huy Chú đã mô tả các loại gỗ quý ở phủ Triệu Châu (Triệu Phong) trong đó có Hải Lăng như sau: Trên rừng có nhiều gỗ quý, có thứ sắc vàng rất bên chắc, có thẻ đóng thuyền được vì khi thả xuống nước nó lại nôi, gọi là gỗ kiền kiên, thân nó cao thẳng mà rắn, thở gỗ lại nhẫn, chịu mưa gió được lâu, làm trụ chôn xuống đất có khi cả trăm năm không mục. Lại có thứ gỗ gọi là hoa lê, cành lá sum suê, chất gỗ cũng như kiền kiền vậy,.

'Về thủy, hải sản: Hệ thống sông ngòi, hồ, đầm phá và nhất là Hải Lăng có bờ.5 km dọc theo hai xã Hải An và Hải Khê, ngư trường đánh bắt rộng, không bị giới hạn trong phạm vi lãnh thổ của địa phương đã cung cấp nguồn thủy hải sản phong phú như: Các loại tôm, cua, cá sông, lươn, cá Hồng, cá Mú, cá Thu, cá Ngừ, mực Ông, mực Nang, ốc các loại và nhiều loại đặc sản quý khác. Khoáng sản: Tài nguyên khoáng sản của Hải Lăng phần lớn thuộc nhóm không kim loại, chủ yếu các loại khoáng sản như: Than bùn trữ lượng không lớn nhưng nhiệt lượng có thể đạt tới 3.500 kcal/kg, chất lượng tương đối tốt có thê dùng. làm chất đốt và sản xuất phân vi sinh và được phân bố trên địa bàn các xã Hải Thọ, Hai Vinh, Hai Thượng, Hải Thiện; đất sét phân bồ dọc hai bên bờ sông Nhùng, mỏ. sét lớn nhất là ở Hải Thượng được dùng để sản xuất gạch, ngói.

Ngoài ra, còn có i, ct xây dựng, phân bố tại các con sông rải rác ở nhiều nơi trong huyện, trong đó tập trung nhiều ở dọc theo các con sông lớn. 15 Như vậy, với địa hình có đầy đủ các dạng: Núi đồi, sông ngòi, đằm phá, biển cả đã tạo cho Hải Lăng một hệ sinh thái động thực vật phong phú với các loại lâm, thổ, thủy, hải sản. Góp phần vào sự phát triển kinh tế nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp, ngư nghiệp. Vùng đất Hải Lăng trước thế kỹ XIV 1.

Dấu vết con người thờ và sơ sử trên đất Hải Lăng Từ buổi nguyên sơ, dấu vết con người thời tiền và sơ sử đã xuất hiện ở Quảng. Trị trong đó có Hải Lăng. Trong hai mùa điền dã năm 1993 - 1994 của Trung tâm Văn hóa Việt Nam và Bao ting Quang Tri, các nhà Khảo cổ học đã tìm thấy những công cụ đồ đá cũ thuộc nền Văn hóa Sơn Vi ở Của, Carol, Cồn Cỏ và đồ đá giữa thuộc nền Văn hóa. Hòa Bình, Bắc Sơn ở Lao Bảo, Khe Sanh, Tân Lâm.

Việc tìm thấy các di tích hậu kỳ đồ đá cũ ở Quảng Trị phân bố ở vùng miễn núi lẫn hải đảo gần bờ là một thành tựu lớn của khảo cổ học Việt Nam.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ