Phần mở đầu, phần nội dung, phần kết luận và phần phụ lục, tài liệu tham khảo. Phần nội dung gồm 3 chƣơng: - Chƣơng 1: Làng nghề tại huyện Thƣờng Tín - Chƣơng 2: Làng nghề lƣợc sừng Thuỵ Ứng trong cơ chế thị trƣờng - Chƣơng 3: Những vấn đề đặt ra cho phát triền làng nghề tại huyện Thƣờng Tín trong cơ chế thị trƣờng – kinh nghiệm từ làng Thụy Ứng 12 NỘI DUNG Chƣơng 1: LÀNG NGHỀ TẠI HUYỆN THƢỜNG TÍN 1. Làng nghề Làng nghề có thể hiểu là một không gian cộng cƣ, một thực thể kinh tế, văn hóa - xã hội mà ở đó phần lớn hoặc tất cả ngƣời dân sản xuất, kinh doanh sản phẩm thủ công. Ở các làng này không nhất thiết toàn bộ ngƣời dân đều chỉ làm thủ công mà ngƣời nông dân cũng có thể đồng thời là ngƣời thợ.
Nhiều trƣờng hợp làng có đa số ngƣời dân chỉ làm một nghề thủ công những cũng có làng có nhiều nghề cùng tồn tại16. Các nghề thủ công cũng phát triển vƣợt khỏi ranh giới làng và hình thành các vùng nghề, phƣờng nghề… Làng nghề có thể hình thành bằng nhiều phƣơng thức khác nhau nhƣ: làng cổ truyền hình thành trƣớc sau đó có vị tổ nghề truyền dạy hoặc ngƣời dân học nghề từ vùng khác về dần dần hình thành làng có thợ, có nghề; do một hoăc một số ngƣời có nghề lập ra theo kiểu phƣờng, trại sau phát triển thành nghề mới; làng kết hợp làm nông nghiệp với làm thủ công lúc nông nhàn, dần dần chuyển đổi cơ cấu sản xuất với nghề thủ công chiếm đa số. Do vậy, nghiên cứu về nghề thủ công và các làng nghề thủ công truyền thống không thể bó buộc không gian trong một đối tƣợng làng cụ thể cần dựa vào đặc thù nghề nghiệp, điều kiện lịch sử và hiện trạng sản xuất để đƣa ra đƣợc bức tranh toàn diện và khách quan nhất. Theo Nghị định số 66/2006/NĐ - CP ngày 07 tháng 7 năm 2006 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn và Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07/7/2006 về phát triển ngành nghề nông thôn (năm 2016), nghề đƣợc công nhận là nghề truyền thống phải đạt cả 03 tiêu chí sau: - Nghề đã xuất hiện tại địa phƣơng từ trên 50 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận 16 Ví dụ: làng Triều Khúc (Thanh Trì, Hà Nội) có tới hơn 30 nghề thủ công [33, tr.39]; làng Duyên Thái (Thƣờng Tín, Hà Nội) có 4 nghề (sơn mài, làm vàng mã, làm ớt bột, làm mộc)….
13 - Nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hoá dân tộc - Nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề Cũng theo nghị định này, làng nghề đƣợc công nhận phải đạt cả 02 tiêu chí sau: - Có tối thiểu 20% tổng số hộ trên địa bàn tham gia hoạt động vào nhóm nghề (để lấy căn cứ đặt tên cho làng nghề khi đƣợc công nhận). - Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận. Nhƣ vậy, làng nghề thủ công truyền thống phải đạt đồng thời cả 5 tiêu chí nêu trên để đƣợc công nhận. Tóm lại, làng nghề thủ công truyền thống có thể hiểu là một đơn vị dân cƣ hoàn chỉnh nhỏ nhất của xã hội nông thôn Việt Nam, là trung tâm sản xuất hàng hóa thủ công có lịch sử hình thành và phát triển lâu dài.
Ở các làng này có đa số ngƣời dân sản xuất thủ công; có lực lƣợng thợ, nghệ nhân nhiều thế hệ với kinh nghiệm và kỹ thuật chuyên nghiệp; có liên kết sản xuất, mua bán, (có cùng Tổ nghề) và có ý thức về nghề và làng nghề của mình. Do đó, để tìm hiểu về đối tƣợng làng nghề truyền thống không chỉ quan tâm tới các khía cạnh đơn lẻ mà phải chú trọng tới nhiều mặt, nghiên cứu tổng thể về làng nghề đó theo hai chiều không gian và thời gian và xem xét tới các mối quan hệ của đối tƣợng cả bên trong lẫn bên ngoài. Làng nghề truyền thống có một số đặc điểm chung nhƣ sau: Thứ nhất, hoạt động sản xuất nghề song song và gắn liền với canh tác nông nghiệp và xã hội nông thôn. Thứ hai, sản xuất sản phẩm tại các làng nghề chủ yếu dựa vào kỹ thuật thủ công.
Thứ ba, các làng nghề có quá trình hình thành và phát triển lâu dài, có sự kế thừa, đóng góp công sức của nhiều thế hệ nghệ nhân17. 17 Có thể ví dụ một số làng nghề nhƣ: làng gốm Bát Tràng đã có hơn 500 năm; làng nghề đúc đồng Ngũ Xã gần 500 năm; nghế sơn son thếp vàng Kiêu Kị gần 300 năm; làng nghề lƣợc sừng Thụy Ứng khoảng 400 năm [58]. 14 Thứ tư, các làng nghề truyền thống đã xây dựng đƣợc thƣơng hiệu tên nghề gắn liền với tên làng; ngƣời dân luôn có ý thức về nghề và làng nghề của mình. Cơ chế thị trường Cơ chế thị trƣờng là cơ chế hoạt động của nền kinh tế hàng hóa.
Quá trình sản xuất và lƣu thông hàng hóa đƣợc điều tiết theo yêu cầu khách quan của các quy luật kinh tế vốn có nhƣ quy luật giá trị, quy luật cung – cầu, quy luật cạnh tranh, quy luật lƣu thông tiền tệ. Có thể hiểu cơ chế thị trƣờng là tổng thể các nhân tố kinh tế, giá cả, cung cầu, hàng tiền…. trong đó các đối tƣợng sản xuất và đối tƣợng tiêu dùng có quan hệ hữu cơ, tác động qua lại lẫn nhau để giải quyết ba vấn đề cơ bản: sản xuất gì? Sản xuất thế nào? Và sản xuất cho ai? Cơ chế thị trƣờng là một trật tự kinh tế, là “bộ máy tinh vi phối hợp một cách không tự giác nhân dân và doanh nghiệp” [38]. Ngƣời bán, ngƣời mua và giá cả, hàng hoá và giá cả hàng hoá là các yếu tố gắn liền với thị trƣờng và cơ chế thị trƣờng.
Hàng hoá bao gồm tất cả hàng tiêu dùng, dịch vụ và các yếu tố sản xuất nhƣ lao động, đất đai, tƣ bản…Bán các yếu tố sản xuất đó mang lại thu nhập thông qua giá cả, và mỗi ngƣời lại sử dụng thu nhập đó để mua hàng hoá dịch vụ mình cần. Thông qua sự trao đổi cân đối giữa cung và cầu cơ chế thị trƣờng sẽ có một hệ thống tự cân bằng giữa giá cả và sản xuất, trong đó cung cầu chính là sự tƣơng quan giữa hai lực lƣợng ngƣời bán và ngƣời mua trên thị trƣờng. Đó cũng là nội dung quy luật cung cầu hàng hoá. Cơ chế thị trƣờng tự phát sinh và phát triển cùng với sự phát triển của kinh tế thị trƣờng, ở đâu có sản xuất và trao đổi hàng hoá thì ở đó có thị trƣờng và do đó có cơ chế thị trƣờng hoạt động.
Theo Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX thì cơ chế thị trƣờng là cơ chế tự điều tiết nền kinh tế hàng hoá do sự tác động của các quy luật kinh tế vốn có của nó. Cơ chế thị trƣờng giải quyết ba vấn đề cơ bản của tổ chức kinh tế là cái gì, nhƣ thế nào và cho ai. Cơ chế thị trƣờng bao gồm các yếu tố cơ bản là cung, cầu và giá cả hàng hoá. Nhƣ vậy, có thể hiểu cơ chế thị trƣờng chính là cơ chế điều chỉnh của nền kinh tế hàng hoá cho phép xác định các vấn đề cơ bản về quy mô, hình thức sản 15 xuất, lƣợng hàng hoá, giá bán cho các thành phần cơ bản tham gia vào nền kinh tế là ngƣời mua và nhà sản xuất.
Đối với cơ chế kế hoạch hoá tập trung trƣớc kia của nền kinh tế chỉ huy thì rõ ràng cơ chế thị trƣờng là bƣớc phát triển tất yếu và có nhiều điểm ƣu việt hơn. Tuy nhiên ở thời điểm hiện tại, cơ chế thị trƣờng cũng còn rất nhiều vấn đề, nhƣợc điểm nên cần có những điều chỉnh, tham gia và cơ chế hỗ trợ của Nhà nƣớc về mặt quản lý, chính sách, qui hoạch,… 1. Khái quát về huyện Thƣờng Tín 1. Vị trí địa lý và lịch sử hình thành Huyện Thƣờng Tín cách trung tâm thủ đô Hà Nội 14km về phía nam, có ranh giới tự nhiên với tỉnh Hƣng Yên là sông Hồng ở phía Đông, phía Tây là huyện Thanh Oai, phía Bắc và Nam là các huyện Thanh Trì và Phú Xuyên.
Nơi đây, từ xa xƣa đã là cửa ngõ quan trọng để dẫn vào kinh đô Thăng Long, mảnh đất này cũng gắn liền với những địa danh và con ngƣời lịch sử nhƣ bãi Tự Nhiên18, chiến thắng Chƣơng Dƣơng – Hàm Tử, chiến thắng Hà Hồi mùa xuân năm Kỷ Dậu 1789 của vua Quang Trung, quê hƣơng cha con Nguyễn Phi Khanh – Nguyễn Trãi, chí sỹ Lƣơng Văn Can… Thƣờng Tín có lịch sử hình thành lâu đời, trải qua nhiều lần thay đổi địa giới và đơn vị hành chính. Thời Đinh và Tiền Lê, Thƣờng Tín thuộc đạo Quốc Oai. Tới thời Lý, vua Lý Thái Tổ đổi Thập đạo của thời Lê thành 24 lộ và vùng Thƣờng Tín thuộc lộ Quốc Oai. Sang thời Trần, Thƣờng Tín là huyện Thƣợng Phúc, thuộc Châu Quốc Oai, trong lộ Đại La Thành hay Đông Đô.
Tới thời vua Lê Thái Tổ, Thƣờng Tín thuộc Tây Đạo trong năm đạo cả nƣớc [56, tr. Đến năm Bính Tuất, niên hiệu Quang Thuận thứ 7 (1466) Lê Thánh Tông lại chia đất nƣớc làm 13 đạo Thừa Tuyên. Đất Hà Tây thuộc 2 thừa tuyên: Sơn Nam19 và Quốc Oai, Thƣờng Tín thuộc Sơn Nam. Đến năm Quang Thuận thứ 10 (1469) định lại bản đồ cả nƣớc để thống thuộc các phủ, huyện vào các Thừa Tuyên.
Vào thời Lê Thánh Tông (1460 – 1497) Phủ Thƣờng Tín đƣợc thành lập gồm 3 huyện: Thƣợng Phúc, Thanh Đàm (Thanh 1 Theo truyền thuyết là nơi gặp gỡ của Chử Đồng Tử và Tiên Dung 19 Sơn Nam thừa tuyên bao gồm 9 phủ, 36 huyện. Các phủ: Thƣờng Tín, Ứng Thiên, Lý Nhân, Khoái Châu, Thiên Trƣờng, Kiến Xƣơng, Thái Bình, Nghĩa Hƣng, Tân Hƣng [45]. 16 Trì) và Phù Vân (Phú Xuyên). Huyện Thƣợng Phúc gồm 58 xã và 8 thôn.
Trong Lịch triều hiến chương loại chí có đoạn “Phủ Thƣờng Tín ở phía bắc Sơn Nam, địa giới gần trung đô, các huyện đều men theo đƣờng quan lộ, đất bằng rộng rãi, không có rừng núi ngăn cản. Duy có dòng sông Tô Lịch quanh vòng trong hạt…”[10]. Năm 1831, thời vua Minh Mạng, Phủ Thƣờng Tín đƣợc tách thành ba châu (huyện) Thƣợng Phúc, Thanh Trì, Phú Xuyên thuộc tỉnh Hà Nội. Trong sách Các tổng trấn xã danh bị lãm có ghi lại: “huyện Thƣợng Phúc: 12 Tổng, 81 xã thôn”20.