Chương 1. Cơ sở lý luận về thì hút vốn đầu tư rực tiếp nước ngoài (FDI) vào ngành du lịch Chương 2. Thực trạng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành du. lịch tỉnh Khánh Hòa.
Chương 3: Một số giải pháp nhằm tăng cường thu hút vốn đầu tư trực. ước ngoài để phát triển ngành du lịch tính Khánh Hòa. CHUONG 1: CO SO LY LUAN VE THU HUT VON DAU TU TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI(FDI) VÀO NGÀNH DU LỊCH 1. VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (EDI) 1.
Một số khái niệm 1.1 Đâu tự trực tiếp nước ngoài (FDI) “Theo tổ chức Thương mại Thế giới, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước. khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyỂn quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt EDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hop, cả nhà đầu tư lẫn tài sản ma người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh.
Trong những tường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là "cdg ty mẹ" và các, tài sản được gọi là " ông ty con" hay "chỉ nhá nh công ty". Nguôn vn đâu tư trực tiệy nước ngoài “Trong kinh tế học cổ điển, David Ricardo phin bit tu bản cổ định với tư bản. để quay vòng Đối với một doanh nghiệp, chúng đều là tr bản hoặc vốn. - Karl Marx bỗ sung một sr phân biệt mà thường bị lẫn với khái niệm của Rieardo.
Trong học thuyết kinh tế chính trị của Marx, tư bản lưu động là khoản đầu. tư của nhà tư bản vào lực lượng sản xuất, là nguồn tạo ra giá tị thặng dư. coi li "lưu động” vì lượng giá trị mà nó tạo ra khác với lượng giá trị nó tiêu dụng. có nghĩa là tạo ra giá trị mới.
Nói một cách khác, tư bản có địnhlà khoản đầu tư vào. yếu tổ sin xuất không phải con người như máy móc, nhà xưởng, những tư bản, mà theo Marx, chi tao ra lượng giá trị để thay thế chính bản thân chúng, Nó được coi là cổ định theo nghĩa gái trị đầu tư ban đầu và gá trị thu hồi ở dạng các hing hóa do. chúng tạo ra là không đổi. ~ Đầu tr và tích tụ tư bản trong kinh tế học cỗ điển là việc tạo ra tư bản mới.
Để khởi động quá trình đầu wr, hang hóa phải được tạo mì nhưng không để tiêu dùng. ngay, thay vào đó, chúng trở thành công cụ sản xuất để tạo ra hàng hóa khác. tu liên quan chặt chẽ với tết kiệm, nhưng không phải là một. Theo Keynes, tiết kiệm là không sử dụng ngay thu nhập vào hàng hóa hoặc dịch vụ, trong khi đó đầu.
tư là việc tiêu dùng khoản tiết kiệm đó vào những hàng hóa vốn. ~ Nhà kinh tế học Áo Eugen von Böhm-Bawerk cho rằng tích tụ tr bản được. xác định bằng quá trình tái đầu tư tư bản. Bởi tư bản theo định nghĩa của ông là hàng hóa có thứ bậc cao, hoặc hàng hóa để tạo ma hàng hóa khác và thu hồi giá trị của chúng từ hàng hóa được tạo ra rong tương lai 1.
Thu hút vẫn đâu tư trực tiếp nước ngoài ‘Thu hit vén đầu tr là những hoạt động, những chính sách của chính quyền, công đồng doanh nghiệp và dân cư để nhằm quảng bá, xúc tiến, hỗ trợ, khuyến. khích các nhà đầu tr bỏ vốn thực hiện mục đích đầutư phát triển. “Thực chất thu hút vốn đầu tư là làm gia tăng sự chú ý, quan tâm của các nhà đầu tư dé từ đó địch chuyển dòng vốn đầu tư và địa phương hoặc ngành. Đặc điểm của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 1.1 Chênh lệch vẻ năng suất cận biên của vốn giữa các nước.
Helpman va Sibert, Richard S. Eckaus ch ring có sự khác nhau về năng suất cân biên (số có thêm trong tông số đầu ra mà một nhà sản xuất có được đo dùng. thêm một đơn vị của yếu tố sản xuất) của vốn giữa các nước. Một rước thừa vốn.
thường có năng suất cận biên thấp hơn. Còn một nước thiếu vốn thường có năng. suất cận biên cao hơn. Tình trạng này sẽ dẫn đến sự di chuyển dòng vốn từ nơi dư.
thừa sang nơi khan hiểm nhằm tối đa hóa lợi nhuận. Vì chỉ phí sản xuất của các nước thừa vốn thường cao hơn các nước thiếu vốn. Tuy nhiên như vậy không có nghĩa là tắt cả nhữ ng boạt động nào có năng suất cận biên cao mới được các Doanh. nghiệp đầu tr sản xuất mà cũng có những hoạt động quan trọng, là sống còn của.
Doanh nghiệp thì họ vẫn tự sản xuất cho dù hoạt động đó cho năng suất cận biên.2 Chu kỳ sản phẩm Đối với hầu hết các doanh nghiệp tham gia kinh doanh quốc tế thì chu kỳ sống của các sản phẩm này bao gồm 3 giai đoạn chủ yếu là: Giai đoan sản phẩm mới, giai đoạn sản phẩm chín muồi; giai đoạn sản phẩm chuẩn hóa. (1962) cho rằng sản phẩm mới, ban đầu được phát minh và sản xuất ở nước đầu tư, xu đó mới được xuất khẩu ra thị tường nước ngoài. Tại nước nhập khẩu, ưu điểm của sản phẩm mới làm nhu cầu trên thị trường bản địa tăng lên, nước nhập khẩu chuyển sang sản xuất để thay thế sản phẩm nhập khẩu này bằng cách chủ yếu dựa vào vốn, kỹ thuât của nước ngoài (giai đoạn sản phẩm chín muổi). Khi nhu cầu thị trường của sản phẩm mới trên thị trường tong nước bão hòa, nhu cầu xuất khẩu lại xuất hiện (giai đoạn sản phẩm chuẩn hóa).
Hiện tượng này diễn ra theo chủ kỷ và do. 46 dẫn đến sự hình thành FDIL Raymond Vernon (1966) lại cho rằng khi sản xuất một sản phẩm đạt tới giai đoạn chuẩn hóa trong chu kỳ phát triển của mình cũng là lúc thị trường sản phẩm. này có rất nhiều nhà cung cấp. Ở giai đoạn này, sản phẩm ít được cải tiền, nên cạnh tranh giữa các nhà cung cấp dẫn tới quyết định giảm giá và do đó dẫn tới quyết định cit giảm chỉ phí sản xuất.
Đây là lý do để các nhà cung cấp chuyển sản xuất sản phẩm sang những nước cho phép chỉ phí sản xuất thấp hơn.2 3 Lợi thể đặc biệt của các công ty đa quốc gia Stephen H. (1987) và một số người khác cho rằng các công ty đa quốc gia có. những lợi thể đặc thù (chẳng hạn năng lực cơ bản) cho phép công ty vượt qua những trở ngại về chỉ phí ở nước ngoài nên họ sẵn sàng đầu tư trực tiếp ra nước. Khi chọn địa điểm đầu ar, những công ty đa quốc gia sẽ chọn nơi nào có các điều kiện (lao động.
đắt đai,chính trị) cho phép họ phát huy các lợi thế đặc thù nói trên. Những công ty đa quốc gia thường có lợi thể lớn về vốn và công nghệ đầu tr ma các nước sẵn có nguồn nguyên liệu, giá nhân công rẻ và thường là thị trường tiêu. thụ tiềm năng. ta dễ đàng nhận ra lợi ích của việc này.
Tiếp cận thị trường và giảm xung đột thương mại Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là một biện pháp để tránh xung đột thương mại song phương Ví dụ, Nhật Bin hay bị Mỹ và các nước Tây Âu phản nàn do Nhật Bản có thăng du throng mai còn các nước kia bi thâm hụt thương mại trong quan hệ song phương. Đối phó, Nhật Bản đã tăng cường đầu tr trực tiếp vào các thị trường đó. Họ sản xuất và bánô tô, máy tính ngay tại Mỹ và châu Âu, để giảm xuất khâu các sản phẩm này từ Nhật Bản sang. Họ còn đầu tư trực tiếp vào các nước thứ.
ba, và từ đó xuấtkhẫu sang thị trường Bắc Mỹ và châu Âu. Khai thác chuyển giao và công nghệ Không phải FDI chỉ đi theo hướng từ nước phát triển hơn sang nước kém phát triển hơn. Chiều ngược lại thậm chí còn mạnh mẽ hơn nữa. Nhật Bản là nước tích cực đã tư trực tiếp vào Mỹ để khai thác đội ngũ chuyên gia ở Mỹ.
ty ô tô của Nhật Bản đã mở các bộ phận thiết kế xe ở Mỹ để sử dụng các chuyên gia người Mỹ. Các công ty máy tính cửa Nhật Bản cũng vậy. Không chỉ Nhật Bản đầu tư vào Mỹ, các nước công nghiệp phát triển khác cũng có chính sích tương tự. “Trung Quốc gẵn đây day mạnh đầu tr trực tiếp ra nước ngoài, trong đó có đầu tr vào Mỹ.
Việc công ty đa quốc gia quốc tịch Trung Quốc là Lenovo mua bộ phận. sản xuất máy tính xách tay cửa công ty đa quốc gia mang quốc tịch Mỹ 1a IBM được xem là một chiến lược để Lenovo tiếp cận công nghệ sản xuất máy tính ưu việt của IBM. Hay việc TCL (Trung Quốc) trong sáp nhập với Thompson (Pháp) thành TCL~Thompson Elecvoincs, việc Natonal OfShore Oil Comporation (Trung 'Quốc) trong ngành khai thác dầu lửa mua lại Unocal (Mỹ) cũng với chiến lược như. Tiếp cận ngt Tài nguyên thiên nhiên Để œ6 nguồn nguyên liệu thô, nhiều công ty đa quốc gia tim cách đầu tư vào những nước có nguồn tài nguyên phong phú.
Làn sóng đầu tư trực tiếp ma nước. ngoài lớn đầu tiên của Nhật Bản vào thập niên 1950 là vì mục đích này, FDI của Trung Quốc hiện nay cũng có mục đích tương tự. Ý nghĩa, vai trò của vến FDI 1.1 B6 sung cho nguồn vẫn trong nước Trong các lý luận về tăng trưởng kinh tế, nhân tố vốn luôn được để cập. Khi một nỀn kinh tẾ muốn tăng trưởng nhanh hơn, nó cẳn nhiều vốn hơn nữa.
Nếu vốn trong nước không đủ, nền kinh tế này sẽ muốn có cả vốn từ nước ngoài, trong đó có. von FDL Đổi với bắtkỳ một quốc nào, dù là nước phát triển hay đang phát triển thì để phát triển đều cần có vốn để tiến hành các hoạt động đầu tư tạo ra tài sản mới cho. nền kinh tế. Nguồn vốn để phát triển kinh tế có thể được huy động ở trong nước hoặc từ nước ngoài, tuy nhiên nguồn vốn trong nước thường có hạn, nhất là đối với những nước đang phát triển như Việt Nam (có tÿ lệ tích luỹ thấp, nhu cầu đầu tư.
cao nên cần có một số vốn lớn để phát triển kinh tế). Vì vậy, nguồn vốn đâu tr nước. ngoài ngày càng giữ vai trò quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia. Hoạt động đầu tư nước ngoài là kênh huy động vốn lớn cho phát trấn kinh tế, trên cả giác đô vĩ mô và vi mô.