CHƯƠNG 1 CO SO LY LUAN VE PHAT TRIEN BAO HIEM Y TE 1.1, KHAI QUAT VE BAO HIẾM Y TẾ 1. Một số khái niệm. Bảo hiểm y tẾ Trên thế giới có nhiều khái niệm khác nhau về BHYT, nhưng mục đích. chung của BHYT đều giống nhau là huy động nguồn tài chính để chỉ trả chi phí khám chữa bệnh cho người tham gia BHYT khi bị ốm đau bệnh tật, ni dung các khái niệm bao hảm như sau: “BHYT là sự đồng góp theo chu kỳ đều đặn tao nên một quỹ chung để cùng nhau chia.
š những rủi ro thông qua hình thức thanh toán chỉ trả chi phí khám chữa bệnh bằng quỹ bảo hiểm”. BHYT được trình bảy trong cuốn “Tử điển Bách khoa Việt Nam I xuất bản năm 1995° - Nhà xuất bản từ điển Bách khoa - trang 151 như sau: “BHYT là loại bảo hiểm do nhà nước tổ chức, quản lý nhằm huy động sự đồng góp của cá nhị ìp thể và công đồng xã hội để chăm lo sức khỏe, khám bệnh và chữa bệnh cho nhân dân”. Mặc khác bảo hiểm y tế là một trong 9 nội dung của BHXH (bảo hiểm xã hội) được quy định tại Công ước 102 ngày 28/6/1952 của tổ chức lao động, quốc tế (ILO) về các tiêu chuẩn tối thiểu cho các loại trợ cấp bảo hiểm xã hội. Bảo hiểm y tế tại Việt Nam.BHYT là một đổi mới trong lĩnh vực y tế góp phần giảm bớt din sự phân biệt giàu nghèo trong KCB, phát huy tính nhân đạo công đồng trong đời sống xã hội, đảm bảo thực hiện công bằng văn minh xã hội.
Quỹ BHYT là nguồn kinh phí quan trọng cấu thành ngân sách của. + Giải đoạn từ 15-8-1992 đến 13-8-1998: BHYT được hình thành theo 4 Nghị định số 299/HĐBT ngày 15-8-1992 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ). BHYT Việt Nam là hệ thống tổ chức thực hiện chính sách xã hội, tổ chức bộ máy gồm có: ở Trung ương có BHYT Việt Nam, trực thuộc Bộ Y chịu trách nhiệm chỉ đạo chuyên môn về BHYT; tại các tỉnh, thành phố có BHYT tỉnh, thành phó, trực thuộc Sở Y tế và chịu sự giám sát, chi dao của Hội đồng quản tị BHYT tỉnh, do Phó chủ tịch UBND tỉnh, phụ trách khối văn xã, làm Chủ tịch Hội đồng. BHYT được tổ chức theo mô hình đa ‘qui, phan tin theo tinh.
+ Giai đoạn từ 13-8-1998 đến 01-01-2003: Chính phủ có Nghị định số 58/1998/NĐ-CP ngày 13-8-1998 ban hành Điều lệ BHYT, thay thể Nghị định số 299/HĐBT, BHYT được tổ chức theo mô hình đơn quỹ và được phân cấp. và phân quyền mạnh. Cu thé: Ở Trung ương có BIIYT Việt Nam. Chỉ dao, giám sắt các hoạt động của BHYT Việt Nam có Hội đồng quản lý BHYT Việt Nam.
BHYT các tỉnh, thành phố trực thuộc BHYT Việt Nam. + Giai đoạn từ 01-01-2003 đến 30-6-2009: Đến ngày 01-01-2003, thực hiện Quyết định số 20/2002/QĐ-TTG [21] và Nghị định số 100/2002/NĐ-CP. của Chính phủ [20]. Tổ chức BHYT tế sáp nhập vào tổ chức BHXH, tổ chức theo mô hình đơn quỹ, hợp nhất với các quỹ BHXH khác, cụ thể: hệ thống.
BHXH thống nhất theo ngành đọc từ Trung ương đến địa phương. BHXH Việt Nam trực thuộc Chính phủ, BHXH các tỉnh, thành phố trực thuộc BHXH Việt Nam. lai đoạn từ 01-7-2009 đến nay: Lần đầu tiên chính sách BHYT được. luật hóa, tạo nên khung pháp lý cơ bản, tạo điều kiện thuận lợi đẩy nhanh việc.
phát triển BHYT, Luật BHYT cũng đã quy định rõ lộ trình tiến tới BHYT toàn dân là phải thực hiện BHYT bắt buộc toàn dân. Điều đó chứng tỏ, tài chính cho KCB từ các nguồn khác nhau sẽ từng bước được thay thế bởi nguồn tải chính chủ yếu từ quỹ BHYT, Nhà nước sẽ dành nhiều hơn kinh phí 15 từ ngân sách để hỗ trợ cho các đối tượng tham gia BHYT, làm chuyển đổi từng bước nguồn kinh phí ngân sách hỗ trợ cho người hưởng thụ dịch vụ y tế thay vì hỗ trợ cho người cung cấp DVYT y tẾ, tạo sự công bằng trong chăm. sóc sức khỏe nhân dân mà Đảng và Nhà nước đã định hướng phần đấu. Báo hiễm y tế toàn dân Bảo hiểm y tế toàn dân thường được hiểu là chế độ BHYT áp dụng cho toàn bộ dân số trong một quốc gia, nhằm đảm bảo cho họ được tiếp cận một cách đầy đủ với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe.
Theo Nghị quyết 58.33 của Đại hội đồng Tổ chức Y tế Thế giới, “bảo đảm rằng hệ thống tài chính y tế có. phương thức chỉ trả trước cho chăm sóc sức khỏe, nhằm chia sẻ rủi ro giữa các thành viên của dân số và tránh chỉ quá mức cho y tế dẫn đến nghẻo đói do tìm kiếm dịch vụ y tế”. Ở một số nước, BHYT toản dân là chế độ chăm sóc. sức khỏe miễn phí cho mọi công dân thực hiện bằng nguồn thuế của Nhà.
nước, hoặc chế độ BHYT xã hội do Nhà nước thực hiện cho mọi công dân của quốc gia đó. Ở Việt Nam, BHYT được tiếp cận như một quyền về chăm. sóc sức khỏe của công dân đi đôi với nghĩa vụ đóng góp và chia sẻ trách nhiệm xã hội của cá nhân, cộng đồng, người sử dụng lao động và Nhà nước. BHYT còn được xem như là một sản phẩm của sự tiến bộ xã hội, mọi người có trách nhiệm với bản thân và xã hội về chăm s c sức khỏe, không phải chỉ dựa vào điều kiện kinh tế của chính mình, sự hỗ trợ của gia đình, người thân khi đau ốm.
BHYT là công cụ tạo ra sự bình đẳng trong khám chữa bệnh bởi quyền lợi đã được quy định bởi luật, không phải là cơ chế “xin cho” như các cơ chế miễn giảm viện phí trực tiếp chongười bệnh như đã từng áp dụng. Phát triển bảo hiểm y tế toàn dân. Phát triển BHYT toàn dân là 100% dân số trong một quốc gia tham gia BHYT, phát triển BHYT toàn dân công bằng trong chăm sóc sức khỏe. Thứ nhất, 46 là cam kết chính trị mạnh mẽ với mục tiêu chăm sóc sức 16 toan dan.
Trude hét là thực hiện hoàn thiện các hệ thống văn bản hướng dẫn. thực hiện BHYT. Huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị trong công tác chỉ đạo và tổ chức thực hiện, đổi mới chính sách tài chính y tế bảo đám ngân sách đồng BHYT cho nhóm đối tượng chính sách và những người yếu thế trong xã hội. Thứ hai, thực hiện BHYT toàn dân phải tuân thủ lược mở rộng, từng bước, xây dựng lộ trình cho từng nhóm đối tượng và mở rộng đối tượng.
Thứ ba, thay đổi nhận thức của người dân về BHYT thông qua chế tài và truyền thông, phải thực hiện BHYT bắt buộc toàn dân và có chế tải cưỡng chế đối với hành vi trốn tránh tham gia, đồng thời tăng cường thông tin, truyền thông, vận động, giáo dục với nhiều hình thức phù hợp với từng nhóm đối tượng và điều kiện tiếp cận thong tin. Thứ tr, nâng cao nâng lực và quản trị chất lượng dịch vụ BHYT đảo tạo. Xây dựng, triển khai chương trình chất lượng khám, chữa bệnh tiêu chuẩn chất lượng đối với cơ sở khám, chữa bệnh BHYT, tăng cường đầu tư nâng cao hiệu quả khám chữa bệnh tại tuyến BHYT cơ sở. “Thứ năm, phát triển công nghệ thông tỉn, ứng dung sâu rộng trong quản lý thụ và chỉ trả.
Đặc điểm của bảo hiểm y tế ~ BHYT có đối tượng tham gia rộng rãi, bao gồm mọi thành viên trong. xã hội không phân biệt giới tính, tuổi tác, khu vực làm việc, hình thức quan hệ lao động. - BHYT không nhằm bù đắp cho thu nhập cho người hưởng bảo hiểm (như chế độ BHXH ốm đau, tai nạn lao động.) mà nhằm chăm sóc sức khỏe cho họ khi bị bệnh tat, ốm đau. trên cơ sở quan hệ BHYT mà họ tham gia.
~ BHYT là chỉ phí ngắn hạn, không xác định trước, không phụ thuộc vào. 7 thời gian đóng, mức đóng mà phụ thuộc vào mức độ bệnh tật và khả năng cũng ứng các dịch vụ ý tẾ. Ý nghĩa của phát triển bảo hiểm y tế toàn dân. BHYT trước hết là một nội dung của BHXH, một trong những bộ phận.
quan trọng của hệ thống bảo đảm xã hội. Cùng với các hệ thống cung cấp xã hội ( hay còn gọi là ưu đãi xã hội chế độ bao cấp) và cứu trợ xã hội, hoạt động của BHYT nói riêng và hoạt đông của BHXH nói chung, đã thực sự trở thành những hòn đá tảng xây dựng nên nền móng vững chắc cho sự bình ổn. Chính vì vai trỏ cực kỳ quan trọng của BHXH như vậy cho nên ở mọi quốc gia trên thế giới, hoạt động của BHXH luôn do Nhà nước đứng ra tổ chức thực hiện theo hệ thống pháp luật về BHXH. Đây cũng là một cơ sở quan trọng để phân biệt giữa Bảo hiểm xã hội về y tế và Bảo hiểm tư nhân về y tế.
Trong các nước công nghiệp phát triển thì loại hình BHYT tư nhân cũng được phát triển và cùng tồn tại song song với BHXH về y tế 'Hoạt động BHYT thì tính cộng đồng đoàn kết cùng chia sẻ rủi ro rất cao; nó là nền tăng cho lĩnh vực bảo vệ và chăm sóc sức khỏc; nó điễn it mạnh mẽ giữa người khóc mạnh với người ốm yếu, giữa (hanh niên với người giả cả và giữa người có thu nhập cao với những người có thu nhập thấp. Sự đoàn kết tương trợ lẫn nhau trong BHYT là sự đảm bảo cho từng người dựa trên cơ sở của sự đoàn kết không điều kiện, của sự hợp tác cùng chung lòng, chung sức. và gắn kết chặt chẽ với nhau. Đảm bảo tính công bằng trong xã hội, an sinh xã hội nên cần phải phát triển bảo hiểm y tế toàn dân.
NOL DUNG CO BAN CUA PHAT TRIEN BAO HIẾM Y TE TOAN DAN 1. Gia tăng quy mô quỹ BHYT. Quỹ BHYT là một quỹ tài chính độc lập, có quy mô phụ thuộc chủ yếu vào số lượng thành viên đóng góp, mức độ đóng góp vào quỹ của các thành 18 viên và các nguồn thu hợp pháp khác, được sử dụng để chỉ trả chi phí khám, chữa bệnh cho người tham gia bảo hiểm y tế, chỉ phí quản lý bộ máy của tổ. chức bảo hiểm y tế và những khoản chỉ phí hợp pháp khác liên quan đến BHYT Quy BHYT đảm bảo chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia BHYT khi đi khám chữa bệnh, vì mục tiêu an sinh xã hội, không vì mục đích lợi nhuận.
Đây chính là nguồn chỉ trả cho những người tham gia BHYT, đảm bảo cho sự hoạt đông hiệu quả của mạng lưới BHYT trong cả nước nên việc quản lý nguồn thu cũng như việc chỉ tiêu quỹ phải được tiến hành hết sức cẩn thận va minh bạch.