Chương 1 trình bày những vấn đề lý luận về phát triển kinh tế tư nhân. Trên cơ sở đó, Chương 2 tập trung đánh giá thực trạng phát triên kinh tế tư nhân ở tỉnh Khánh Hòa, tìm ra những mặt hạn chế kinh tế tư nhân phát triển. Chương 3 đề xuất số giải pháp khắc phục những hạn chế đã nêu ở chương 2 nhằm thúc đầy phát triển kinh tế tư nhân tỉnh Khánh Hòa. 4 CHUONG 1 NHUNG VAN DE LY LUAN VE PHAT TRIEN KINH TE TU NHAN 1.
KHÁI NIỆM VỀ PHÁT TRIÊN KINH TẾ [2, tr 28] Thuật ngữ tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế đôi khi được sử dụng thay cho nhau, nhưng về cơ bản thì chúng khác nhau. Tăng trưởng kinh tế chỉ sự tăng thu nhập và sản phẩm quốc gia hay trên đầu người. Nếu sản xuất hàng hóa và dịch vụ ở một quốc gia tăng lên, bằng bất cứ cách gì đó, và cùng với nó là thu nhập trung bình tăng, thì quốc gia đó đạt được “tăng trưởng kinh tế”. Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế không phải là điều kiện đủ để cải thiện mức sống chung.
Ít nhất vì ba lý do, sẽ thật sai lầm khi giả định rằng GDP đầu người cao hơn có nghĩa là thu nhập cao hơn cho tắt cả mọi người, hay ngay cả cho phần lớn các hộ gia đình. Thứ nhất, chính phủ các nước đầy mạnh tăng trưởng kinh tế không chỉ để cải thiện phúc lợi cho công nước họ mà đôi khi chủ yếu là để tăng cường thế lực và hào quang của Nhà nước và những người thống trị. Thứ hai, nguồn lực có thẻ được đầu tư ồ ạt cho tăng trưởng hơn nữa, và lợi ích tiêu dùng bị trì hoãn đến một ngày nảo đó sau này. Thứ ba, thu nhập và tiêu dùng có thể gia tăng, nhưng nhiều người nghèo hơn.
Phát triển kinh tế là quá trình lớn lên, tăng tiến mọi mặt của nền kinh tế. Phát triển kinh tế mang nội hàm rộng hơn tăng trưởng kinh tế. Nó bao gồm tăng trưởng kinh tế cùng với những thay đổi về chất của nền kinh tế (như phúc lợi xã hội, tuổi thọ, v.) và những thay đổi về cơ cấu kinh tế (giảm tỷ trọng của khu vực sơ khai, tăng tỷ trọng của khu vực chế tạo và dịch vụ). Phát triển kinh tế là một quá trình hoàn thiện về mọi mặt của nền kinh tế bao gồm kinh tế, xã hội, môi trường, thể chế trong một thời gian nhất định nhằm đảm bảo rằng GDP cao.
hơn đồng nghĩa với mức độ hạnh phúc hơn. Những quốc gia có thu nhập tăng nhưng tuổi thọ trung bình không tăng, không giảm tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh và không tăng tỷ lệ học vấn nghĩa là quốc gia đó còn thiếu một số khía cạnh quan trọng của sự phát triển. Nếu tắt cả thu nhập tăng lên tập trung vào tay một 5 tầng lớp thượng đẳng giàu có hay để dành cho những công trình lớn hay một thiết bị quân sự, thì sự phát triển này không đúng với ý nghĩa chúng ta muốn nói đến. Phát triển cũng thường đi kèm với những thay đổi quan trong trong cấu trúc của nền kinh tế, tiêu biểu nhờ ngày càng có nhiều người chuyển từ sản xuất nông nghiệp ở nông thôn sang công việc được trả lương cao hơn và có sơ sở ở thành thị, thường là trong sản xuất hay dịch vụ.
Tăng trưởng kinh tế mà không thay đổi cơ cấu thì thường là một chỉ báo của thu nhập mới tập trung vào tay của một số ít người. Những tình huống tăng trưởng mà không phát triển là những ngoại lệ chứ không phải là một qui luật, nhưng trên thực tế điều này đã xảy ra. Hai trong số những thay đổi cơ cấu quan trọng nhất thường đi kèm với phát triển kinh tế là phần đóng góp của công nghiệp tăng lên cùng với phần đóng góp của nông nghiệp giảm xuống trong sản phẩm quốc dân và tỷ lệ dân chúng sống trong thành phó tăng nhiều hơn ở miền quê. Thêm vào đó, những quốc gia bắt đầu phát triển kinh tế thường trải qua những giai đoạn dân số tăng vọt, rồi sau đó chậm lại, trong thời gian này cơ cấu tuổi của quốc gia thay đồi đột ngột.
Những mô hình tiêu dùng cũng mở ra khi người ta không còn tiêu hết thu nhập của mình vào nhu yếu phẩm mà thay vào đó chuyền sang hàng tiêu dùng lâu bền và thỉnh thoảng chỉ tiêu cho những dịch vụ và sản phẩm dành cho thì giờ nhàn rỗi. Nếu tăng trưởng chỉ có lợi cho một thiểu số giàu có, dù trong nước hay nước ngoài, thì đó không phải là sự phát triển. Nhu vay, phat triển là một quá trình vận động đi lên. Phát triển phải là một quá trình lâu dài, luôn thay đổi và sự thay đổi đó theo hướng ngày càng hoàn thiện.
Phát triển cũng được lý giải như một quá trình thay đổi theo hướng hoàn thiện về mọi mặt của nền kinh tế như: kinh tế, xã hội, môi trường và thể chế trong. một thời gian nhất định. “Tóm lại quá trình phát triển được thể Một là, Phải duy trì được tăng trưởng kinh tế ổn định trong dài hạn; Hai là, Cơ cấu kinh tế thay đổi theo xu hướng tích cực; 6 Ba là, Cải thiện được chất lượng cuộc sống của đại bộ phận dân cư; Bốn là, Giữ gìn, cải thiện và bảo vệ môi trường. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIÊM CỦA KINH TẾ TƯ NHÂN 1.
Khái niệm về kinh tế tư nhân Kinh tế tư nhân là loại hình kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và tương ứng với phương thức quản lý, phân phối phù hợp với hình thức sở hữu đó. Khu vực kinh tế tư nhân là khu vực kinh tế bao gồm những đơn vị được tổ chức dựa trên sở hữu tư nhân. Khu vực kinh tế tư nhân, hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm cả các doanh nghiệp vốn đầu tư nước ngoài, không những là nhân tố quyết định cho sự phát triển kinh tế mà còn đóng vai trò quan trọng trên bình diện xã hội chính trị, góp phần hình thành một xã hội công dân, qua đó, ngườidân có được xã hội độc lập hơn và có điều kiện phát huy khả năng trong môi trường cạnh tranh lành mạnh. Khu vực kinh tế tư nhân, hiểu theo nghĩa hẹp, chỉ bao gồm các hoạt động kinh tế tư nhân trong nước (gồm Kinh tế cá thẻ, tiểu chủ và Kinh tế tư bản tư nhân).
~ Kinh tế cá thể, tiểu chủ: Kinh tế cá thể, tiểu chủ dựa trên hình thức tư hữu nhỏ về tư liệu sản xuất. Sự khác nhau giữa kinh tế cá thể và kinh tế tiểu chủ ở chỗ: trong kinh tế cá thể nguồn thu nhập hoàn toàn dựa vào lao động và vốn của bản thân và gia đình, còn trong kinh tế tiểu chủ, tuy nguồn thu nhập vẫn chủ yếu dựa vào lao động và vốn của bản thân và gia đình, nhưng có thuê lao động. ~ Kinh tế tư bản tư nhân: Kinh tế tư bản tư nhân dựa trên hình thức sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất và bóc lột lao động làm thuê. Trong thời kỳ quá độ ở nước ta, thành phần này còn có vai trò đáng kể đề phát triển lực lượng sản xuất, xã hội hóa sản xuất, khai thác các nguồn vốn, giải quyết việc làm và góp phần giải quyết các vấn đề xã hội khác.
Kinh tế tư bản tư nhân rất năng động, nhạy bén với kinh tế thị trường, do đó sẽ có những đóng góp không nhỏ vào quá trình tăng trưởng kinh tế của đất nước, tuy nhiên, kinh tế tư bản tư nhân có tính tự phát rất cao. Khu vue kinh tế tư nhân tại Việt Nam đã trải qua nhiều biến động trong suốt hai thập niên qua. Kể từ khi Nhà nước từ bỏ vai trò độc quyền hoạt động kinh tế và công nhận thành phần kinh tế tư nhân, khu vực này không ngừng lớn mạnh và chính sách mở cửa mậu dịch đã trở thành nhân tố chính dẫn đến sự phát triển khá mau lẹ của nền kinh tế Việt Nam. Quan điểm hiện nay của Đảng Cộng sản Việt Nam nêu ở Hội nghị Trung ương 5 khoá IX (3 - 2002) về phát triển kinh tế tư nhâ ~ Kinh tế tư nhân là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân.
Phát triển kinh tế tư nhân là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển nền kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trung tâm là phát triển kinh tế, công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nâng cao nội lực của đất nước trong hội nhập kinh tế quốc tế. ~ Nhà nước tôn trọng và bảo đảm quyền tự do kinh doanh theo pháp luật, bảo hộ quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân; khuyến khích, hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi và định hướng, quản lý sự phát triển của kinh tế tư nhân theo. pháp luật, bình đẳng giữa các thành phan kinh tế. Các hộ kinh doanh cá thể được Nhà nước tạo điều kiện và giúp đỡ để phát triển ở cả nông thôn và thành thị; khuyến khích các hộ liên kết hình thành các hình thức tổ chức hợp tác tự nguyện, làm vệ tỉnh cho doanh nghiệp hoặc phát triển lớn hơn.
Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi về chính sách, pháp lý và tâm lý xã hội để các doanh nghiệp của tư nhân phát triển rộng rãi trong những ngành nghề sản xuất, kinh doanh mà pháp luật không cắm, không hạn chế về quy mô, nhất là trên những định hướng ưu tiên của Nhà nước; khuyến khích chuyển thành doanh nghiệp cỗ phần, bán cỗ phần cho người lao động, liên doanh, liên kết với nhau, với kinh tế tập thể và kinh tế Nhà nước. ~ Bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng của cả người lao động và người sử dụng lao động. Xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa người sử dụng lao động và § người lao động trên cơ sở pháp luật và tỉnh thần đoàn kết, tương thân tương ái. Chăm lo bồi dưỡng, giáo dục các chủ doanh nghiệp nâng cao lòng yêu nước, tự hào dân tộc, gắn bó với lợi ích của đất nước và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.
~ Tăng cường sự lãnh đạo của Nhà nước, phát huy vai trò của các tổ chức. chính trị - xã hội và các hiệp hội doanh nghiệp đối với kinh tế tư nhân nói chung cũng như trong từng doanh nghiệp.