Luận văn thạc sĩ: Phát triển kinh tế tư nhân tỉnh Khánh Hòa (2011)

Luận văn thạc sĩ kinh tế phân tích phát triển kinh tế tư nhân tỉnh khánh hòa, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải pháp khả thi cho thực tiễn.

Trường đại học

Đại Học Đà Nẵng

Chuyên ngành

Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2011

103
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khám phá vai trò kinh tế tư nhân trong phát triển Khánh Hòa

Luận văn thạc sĩ kinh tế về phát triển kinh tế tư nhân tỉnh Khánh Hòa khẳng định đây là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Việc phát triển khu vực này không chỉ là một nhiệm vụ trước mắt mà còn là chiến lược lâu dài trong định hướng kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa. Vai trò của kinh tế tư nhân được thể hiện rõ nét qua việc huy động hiệu quả các nguồn lực xã hội, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động và tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh. Điều này thúc đẩy các thành phần kinh tế khác, bao gồm cả doanh nghiệp nhà nước, phải không ngừng đổi mới để nâng cao hiệu quả. Cơ sở lý luận về kinh tế tư nhân cho thấy, thành phần kinh tế này, dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, có tính năng động và nhạy bén cao với thị trường. Tại Khánh Hòa, sự trỗi dậy của doanh nghiệp nhỏ và vừa Khánh Hòa từ sau khi Luật Doanh nghiệp 2000 ra đời là minh chứng sống động cho tiềm năng to lớn này. Luận văn đã hệ thống hóa các quan điểm của Đảng và Nhà nước, nhấn mạnh việc tạo điều kiện bình đẳng và hỗ trợ cho kinh tế tư nhân phát triển là một yêu cầu tất yếu để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. Quá trình này không chỉ làm tăng đóng góp của kinh tế tư nhân vào GRDP mà còn góp phần vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực.

1.1. Phân tích cơ sở lý luận về phát triển kinh tế tư nhân

Kinh tế tư nhân (KTTN) được định nghĩa là thành phần kinh tế dựa trên hình thức sở hữu tư nhân về tư liệu sản sản xuất. Luận văn chỉ rõ, KTTN bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân. Đặc điểm nổi bật của khu vực này là sự năng động, linh hoạt và khả năng thích ứng nhanh với biến động thị trường. Về mặt lý luận, sự phát triển của KTTN là một quy luật khách quan, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Việc công nhận và tạo điều kiện cho KTTN phát triển là một bước đột phá trong tư duy kinh tế của Việt Nam, giúp giải phóng các nguồn lực tiềm tàng trong dân cư, từ vốn, công nghệ đến kinh nghiệm quản lý. Đây là động lực quan trọng cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế.

1.2. Vai trò của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường

Vai trò của kinh tế tư nhân là không thể phủ nhận. Thứ nhất, khu vực này góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế, tạo ra sản phẩm và dịch vụ đa dạng cho xã hội. Thứ hai, KTTN là khu vực tạo ra nhiều việc làm nhất, giúp giảm tỷ lệ thất nghiệp và cải thiện đời sống người dân. Thứ ba, sự cạnh tranh từ KTTN buộc các doanh nghiệp nhà nước phải tự cải tổ, nâng cao hiệu quả hoạt động. Cuối cùng, KTTN thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, đồng thời là kênh quan trọng để thu hút đầu tư tư nhân cả trong và ngoài nước, góp phần vào sự phát triển chung của địa phương như tỉnh Khánh Hòa.

II. Phân tích thực trạng kinh tế tư nhân tỉnh Khánh Hòa 2011

Dựa trên số liệu từ luận văn, thực trạng kinh tế tư nhân Khánh Hòa trong giai đoạn 2006-2010 cho thấy sự phát triển vượt bậc. Số lượng doanh nghiệp tư nhân tăng từ 2.112 (năm 2006) lên 3.607 (năm 2010), chiếm gần 95% tổng số doanh nghiệp toàn tỉnh. Nguồn vốn chủ sở hữu của khu vực này cũng tăng trưởng ấn tượng, đạt 13.314 tỷ đồng vào năm 2010, chiếm 55,7% tổng nguồn vốn. Sự phát triển này đã tạo ra hàng chục ngàn việc làm mới, với số lao động trong khu vực tư nhân chiếm 69,14% tổng số lao động doanh nghiệp. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu, khu vực này vẫn còn nhiều hạn chế. Hầu hết các doanh nghiệp nhỏ và vừa Khánh Hòa có quy mô nhỏ, công nghệ lạc hậu, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp còn yếu. Việc tiếp cận các nguồn lực như vốn, đất đai vẫn gặp nhiều khó khăn. Môi trường kinh doanh tỉnh Khánh Hòa, dù đã cải thiện, vẫn còn những rào cản về thủ tục hành chính và chi phí không chính thức, thể hiện qua chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của Khánh Hòa năm 2010 xếp thứ 40/63, thuộc nhóm khá nhưng đã giảm 10 bậc so với năm 2009.

2.1. Phân tích SWOT kinh tế tư nhân tỉnh Khánh Hòa chi tiết

Một phân tích SWOT kinh tế tư nhân Khánh Hòa dựa trên dữ liệu luận văn cho thấy: Điểm mạnh (Strengths) là sự năng động, linh hoạt của doanh nghiệp, lực lượng lao động dồi dào và lợi thế về vị trí địa lý, du lịch biển. Điểm yếu (Weaknesses) bao gồm quy mô vốn nhỏ, công nghệ lạc hậu, kỹ năng quản trị hạn chế và sự liên kết giữa các doanh nghiệp còn lỏng lẻo. Cơ hội (Opportunities) đến từ các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân của chính phủ, tiềm năng phát triển kinh tế biển tư nhân Khánh Hòa và xu hướng hội nhập kinh tế. Thách thức (Threats) lớn nhất là sức ép cạnh tranh từ doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp lớn, những biến động của thị trường và những rào cản trong môi trường kinh doanh tỉnh Khánh Hòa.

2.2. Những tồn tại và hạn chế trong môi trường kinh doanh

Luận văn chỉ ra nhiều tồn tại cố hữu. Thứ nhất, chi phí gia nhập thị trường tuy đã giảm nhưng vẫn còn rào cản ở các giấy phép chuyên ngành. Thứ hai, việc tiếp cận đất đai là một trong những khó khăn lớn nhất, gây mất cơ hội đầu tư. Thứ ba, chất lượng đào tạo lao động chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế của doanh nghiệp. Thứ tư, các chi phí không chính thức vẫn tồn tại, tạo gánh nặng cho doanh nghiệp. Cuối cùng, tính minh bạch và khả năng tiếp cận thông tin quy hoạch, chính sách còn hạn chế. Những yếu tố này trực tiếp ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và kìm hãm sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân.

III. Top giải pháp cải thiện môi trường kinh doanh tại Khánh Hòa

Để thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân tỉnh Khánh Hòa, luận văn đề xuất một hệ thống các giải pháp phát triển kinh tế tư nhân tập trung vào cải thiện môi trường vĩ mô. Giải pháp hàng đầu là đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính một cách thực chất. Cần đơn giản hóa các quy trình, đặc biệt trong lĩnh vực đất đai, xây dựng và đầu tư, áp dụng cơ chế một cửa liên thông hiệu quả. Nâng cao tính minh bạch và khả năng tiếp cận thông tin là yếu tố sống còn. Chính quyền cần công khai các quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, các dự án kêu gọi đầu tư và các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân trên các cổng thông tin điện tử dễ truy cập. Việc xây dựng một thiết chế pháp lý vững mạnh, đảm bảo thực thi công bằng và bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp của doanh nghiệp sẽ tạo ra niềm tin cho nhà đầu tư. Hơn nữa, cần giảm thiểu các chi phí không chính thức thông qua việc tăng cường giám sát và xử lý nghiêm các hành vi nhũng nhiễu. Cải thiện môi trường kinh doanh tỉnh Khánh Hòa không chỉ là nhiệm vụ của chính quyền mà còn cần sự tham gia của các hiệp hội doanh nghiệp trong việc phản biện chính sách và hỗ trợ các thành viên.

3.1. Cải cách thủ tục hành chính và nâng cao tính minh bạch

Giải pháp cốt lõi là tiếp tục cắt giảm và đơn giản hóa thủ tục hành chính. Thời gian giải quyết hồ sơ đăng ký kinh doanh, cấp phép xây dựng, và chứng nhận quyền sử dụng đất cần được rút ngắn hơn nữa. Tỉnh Khánh Hòa cần ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin để xây dựng chính quyền điện tử, cho phép doanh nghiệp thực hiện các thủ tục trực tuyến. Song song đó, việc công khai, minh bạch mọi quy định, chính sách trên một nền tảng duy nhất giúp doanh nghiệp dễ dàng tra cứu, tuân thủ và giám sát quá trình thực thi của cơ quan nhà nước, từ đó cải thiện chỉ số PCI.

3.2. Tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tiếp cận đất đai

Tiếp cận đất đai là một trong những nút thắt lớn nhất. Cần có một quỹ đất sạch dành cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa Khánh Hòa. Quy trình giao đất, cho thuê đất cần được công khai, rút ngắn thời gian và chi phí. Chính sách giá đất cần ổn định và hợp lý để doanh nghiệp có thể xây dựng kế hoạch kinh doanh dài hạn. Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhanh chóng không chỉ giúp doanh nghiệp ổn định sản xuất mà còn là tài sản thế chấp quan trọng để tiếp cận nguồn vốn tín dụng từ ngân hàng, tháo gỡ khó khăn về vốn.

IV. Bí quyết nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp nhỏ

Bên cạnh các yếu tố vĩ mô, việc nâng cao nội lực của chính các doanh nghiệp là yếu tố quyết định sự phát triển bền vững. Luận văn đề xuất các giải pháp phát triển kinh tế tư nhân tập trung vào việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Một trong những giải pháp trọng tâm là hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận các nguồn vốn tín dụng ưu đãi. Cần có các chương trình, quỹ bảo lãnh tín dụng dành riêng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa Khánh Hòa. Đồng thời, khuyến khích các hình thức liên doanh, liên kết để huy động vốn và mở rộng quy mô. Giải pháp thứ hai là cải thiện chất lượng nguồn nhân lực. Tỉnh cần phối hợp với các trường đại học, cao đẳng để xây dựng chương trình đào tạo gắn liền với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp, đặc biệt trong các ngành kinh tế mũi nhọn như du lịch, công nghệ chế biến thủy sản. Các chương trình hỗ trợ đào tạo kỹ năng quản trị, marketing, và tài chính cho chủ doanh nghiệp cũng cần được đẩy mạnh. Cuối cùng, việc hỗ trợ đổi mới công nghệ và xúc tiến thương mại là vô cùng cần thiết để sản phẩm của Khánh Hòa có thể cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước.

4.1. Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân tiếp cận vốn

Các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân về vốn cần được thực thi hiệu quả. Quỹ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa của tỉnh cần hoạt động tích cực hơn, cung cấp các khoản vay với lãi suất hợp lý. Ngân hàng cần đơn giản hóa thủ tục thẩm định, xem xét các hình thức thế chấp linh hoạt hơn thay vì chỉ dựa vào tài sản đất đai. Khuyến khích sự phát triển của các quỹ đầu tư mạo hiểm và các nhà đầu tư thiên thần để thu hút đầu tư tư nhân vào các doanh nghiệp khởi nghiệp có tiềm năng.

4.2. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và đổi mới công nghệ

Chất lượng lao động là nền tảng của năng lực cạnh tranh. Tỉnh cần đầu tư vào các trường dạy nghề, tập trung vào các kỹ năng thực hành. Doanh nghiệp cần được khuyến khích và hỗ trợ chi phí khi gửi người lao động đi đào tạo lại. Về công nghệ, cần có các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp chuyển giao công nghệ mới, đặc biệt trong lĩnh vực chế biến sâu và sản xuất sạch hơn. Các trung tâm xúc tiến thương mại cần phát huy vai trò cầu nối, giúp doanh nghiệp tìm kiếm thị trường, xây dựng thương hiệu và tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

V. Đánh giá đóng góp kinh tế tư nhân vào GRDP tỉnh Khánh Hòa

Luận văn đã chỉ ra những đóng góp to lớn của kinh tế tư nhân vào sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Đóng góp của kinh tế tư nhân vào GRDP ngày càng tăng, trở thành động lực tăng trưởng chính. Khu vực này không chỉ tạo ra giá trị gia tăng mà còn đóng góp quan trọng vào nguồn thu ngân sách nhà nước, từ 322 tỷ đồng năm 2006 lên 810 tỷ đồng năm 2010. Sự phát triển mạnh mẽ của doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ, du lịch và công nghiệp chế biến, đã thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh một cách rõ rệt. Tỷ trọng ngành nông nghiệp giảm, trong khi tỷ trọng công nghiệp - xây dựng và dịch vụ tăng lên. Sự tham gia của kinh tế tư nhân đã làm cho nền kinh tế Khánh Hòa trở nên đa dạng và năng động hơn. Đặc biệt, trong lĩnh vực kinh tế biển tư nhân Khánh Hòa, các doanh nghiệp đã phát huy tốt lợi thế về nuôi trồng, chế biến và xuất khẩu thủy sản, đóng tàu, và dịch vụ du lịch biển, tạo ra thương hiệu và vị thế cho tỉnh trên bản đồ kinh tế cả nước.

5.1. Phân tích sự đóng góp vào tăng trưởng và thu ngân sách

Số liệu cho thấy, tốc độ tăng trưởng của khu vực kinh tế tư nhân luôn cao hơn mức tăng trưởng chung của tỉnh. Sự gia tăng về số lượng và quy mô doanh nghiệp tỷ lệ thuận với mức đóng góp vào ngân sách. Mỗi doanh nghiệp tư nhân thành lập không chỉ là một đơn vị kinh tế mà còn là một nguồn thu thuế ổn định, góp phần tăng cường tiềm lực tài chính cho địa phương để tái đầu tư vào cơ sở hạ tầng và các chương trình an sinh xã hội. Đây là minh chứng rõ ràng nhất cho hiệu quả của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân.

5.2. Vai trò trong việc chuyển dịch cơ cấu và giải quyết việc làm

Kinh tế tư nhân là nhân tố chính thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Khánh Hòa. Bằng việc đầu tư vào các ngành công nghiệp chế biến, du lịch và dịch vụ chất lượng cao, khu vực này đã tạo ra các sản phẩm có giá trị gia tăng lớn. Đồng thời, đây là khu vực tạo ra nhiều việc làm nhất, thu hút một lượng lớn lao động từ khu vực nông nghiệp, góp phần thay đổi cơ cấu lao động, nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống cho người dân, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ kinh tế phát triển kinh tế tư nhân tỉnh khánh hòa

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 trình bày những vấn đề lý luận về phát triển kinh tế tư nhân. Trên cơ sở đó, Chương 2 tập trung đánh giá thực trạng phát triên kinh tế tư nhân ở tỉnh Khánh Hòa, tìm ra những mặt hạn chế kinh tế tư nhân phát triển. Chương 3 đề xuất số giải pháp khắc phục những hạn chế đã nêu ở chương 2 nhằm thúc đầy phát triển kinh tế tư nhân tỉnh Khánh Hòa. 4 CHUONG 1 NHUNG VAN DE LY LUAN VE PHAT TRIEN KINH TE TU NHAN 1.

KHÁI NIỆM VỀ PHÁT TRIÊN KINH TẾ [2, tr 28] Thuật ngữ tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế đôi khi được sử dụng thay cho nhau, nhưng về cơ bản thì chúng khác nhau. Tăng trưởng kinh tế chỉ sự tăng thu nhập và sản phẩm quốc gia hay trên đầu người. Nếu sản xuất hàng hóa và dịch vụ ở một quốc gia tăng lên, bằng bất cứ cách gì đó, và cùng với nó là thu nhập trung bình tăng, thì quốc gia đó đạt được “tăng trưởng kinh tế”. Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế không phải là điều kiện đủ để cải thiện mức sống chung.

Ít nhất vì ba lý do, sẽ thật sai lầm khi giả định rằng GDP đầu người cao hơn có nghĩa là thu nhập cao hơn cho tắt cả mọi người, hay ngay cả cho phần lớn các hộ gia đình. Thứ nhất, chính phủ các nước đầy mạnh tăng trưởng kinh tế không chỉ để cải thiện phúc lợi cho công nước họ mà đôi khi chủ yếu là để tăng cường thế lực và hào quang của Nhà nước và những người thống trị. Thứ hai, nguồn lực có thẻ được đầu tư ồ ạt cho tăng trưởng hơn nữa, và lợi ích tiêu dùng bị trì hoãn đến một ngày nảo đó sau này. Thứ ba, thu nhập và tiêu dùng có thể gia tăng, nhưng nhiều người nghèo hơn.

Phát triển kinh tế là quá trình lớn lên, tăng tiến mọi mặt của nền kinh tế. Phát triển kinh tế mang nội hàm rộng hơn tăng trưởng kinh tế. Nó bao gồm tăng trưởng kinh tế cùng với những thay đổi về chất của nền kinh tế (như phúc lợi xã hội, tuổi thọ, v.) và những thay đổi về cơ cấu kinh tế (giảm tỷ trọng của khu vực sơ khai, tăng tỷ trọng của khu vực chế tạo và dịch vụ). Phát triển kinh tế là một quá trình hoàn thiện về mọi mặt của nền kinh tế bao gồm kinh tế, xã hội, môi trường, thể chế trong một thời gian nhất định nhằm đảm bảo rằng GDP cao.

hơn đồng nghĩa với mức độ hạnh phúc hơn. Những quốc gia có thu nhập tăng nhưng tuổi thọ trung bình không tăng, không giảm tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh và không tăng tỷ lệ học vấn nghĩa là quốc gia đó còn thiếu một số khía cạnh quan trọng của sự phát triển. Nếu tắt cả thu nhập tăng lên tập trung vào tay một 5 tầng lớp thượng đẳng giàu có hay để dành cho những công trình lớn hay một thiết bị quân sự, thì sự phát triển này không đúng với ý nghĩa chúng ta muốn nói đến. Phát triển cũng thường đi kèm với những thay đổi quan trong trong cấu trúc của nền kinh tế, tiêu biểu nhờ ngày càng có nhiều người chuyển từ sản xuất nông nghiệp ở nông thôn sang công việc được trả lương cao hơn và có sơ sở ở thành thị, thường là trong sản xuất hay dịch vụ.

Tăng trưởng kinh tế mà không thay đổi cơ cấu thì thường là một chỉ báo của thu nhập mới tập trung vào tay của một số ít người. Những tình huống tăng trưởng mà không phát triển là những ngoại lệ chứ không phải là một qui luật, nhưng trên thực tế điều này đã xảy ra. Hai trong số những thay đổi cơ cấu quan trọng nhất thường đi kèm với phát triển kinh tế là phần đóng góp của công nghiệp tăng lên cùng với phần đóng góp của nông nghiệp giảm xuống trong sản phẩm quốc dân và tỷ lệ dân chúng sống trong thành phó tăng nhiều hơn ở miền quê. Thêm vào đó, những quốc gia bắt đầu phát triển kinh tế thường trải qua những giai đoạn dân số tăng vọt, rồi sau đó chậm lại, trong thời gian này cơ cấu tuổi của quốc gia thay đồi đột ngột.

Những mô hình tiêu dùng cũng mở ra khi người ta không còn tiêu hết thu nhập của mình vào nhu yếu phẩm mà thay vào đó chuyền sang hàng tiêu dùng lâu bền và thỉnh thoảng chỉ tiêu cho những dịch vụ và sản phẩm dành cho thì giờ nhàn rỗi. Nếu tăng trưởng chỉ có lợi cho một thiểu số giàu có, dù trong nước hay nước ngoài, thì đó không phải là sự phát triển. Nhu vay, phat triển là một quá trình vận động đi lên. Phát triển phải là một quá trình lâu dài, luôn thay đổi và sự thay đổi đó theo hướng ngày càng hoàn thiện.

Phát triển cũng được lý giải như một quá trình thay đổi theo hướng hoàn thiện về mọi mặt của nền kinh tế như: kinh tế, xã hội, môi trường và thể chế trong. một thời gian nhất định. “Tóm lại quá trình phát triển được thể Một là, Phải duy trì được tăng trưởng kinh tế ổn định trong dài hạn; Hai là, Cơ cấu kinh tế thay đổi theo xu hướng tích cực; 6 Ba là, Cải thiện được chất lượng cuộc sống của đại bộ phận dân cư; Bốn là, Giữ gìn, cải thiện và bảo vệ môi trường. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIÊM CỦA KINH TẾ TƯ NHÂN 1.

Khái niệm về kinh tế tư nhân Kinh tế tư nhân là loại hình kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và tương ứng với phương thức quản lý, phân phối phù hợp với hình thức sở hữu đó. Khu vực kinh tế tư nhân là khu vực kinh tế bao gồm những đơn vị được tổ chức dựa trên sở hữu tư nhân. Khu vực kinh tế tư nhân, hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm cả các doanh nghiệp vốn đầu tư nước ngoài, không những là nhân tố quyết định cho sự phát triển kinh tế mà còn đóng vai trò quan trọng trên bình diện xã hội chính trị, góp phần hình thành một xã hội công dân, qua đó, ngườidân có được xã hội độc lập hơn và có điều kiện phát huy khả năng trong môi trường cạnh tranh lành mạnh. Khu vực kinh tế tư nhân, hiểu theo nghĩa hẹp, chỉ bao gồm các hoạt động kinh tế tư nhân trong nước (gồm Kinh tế cá thẻ, tiểu chủ và Kinh tế tư bản tư nhân).

~ Kinh tế cá thể, tiểu chủ: Kinh tế cá thể, tiểu chủ dựa trên hình thức tư hữu nhỏ về tư liệu sản xuất. Sự khác nhau giữa kinh tế cá thể và kinh tế tiểu chủ ở chỗ: trong kinh tế cá thể nguồn thu nhập hoàn toàn dựa vào lao động và vốn của bản thân và gia đình, còn trong kinh tế tiểu chủ, tuy nguồn thu nhập vẫn chủ yếu dựa vào lao động và vốn của bản thân và gia đình, nhưng có thuê lao động. ~ Kinh tế tư bản tư nhân: Kinh tế tư bản tư nhân dựa trên hình thức sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất và bóc lột lao động làm thuê. Trong thời kỳ quá độ ở nước ta, thành phần này còn có vai trò đáng kể đề phát triển lực lượng sản xuất, xã hội hóa sản xuất, khai thác các nguồn vốn, giải quyết việc làm và góp phần giải quyết các vấn đề xã hội khác.

Kinh tế tư bản tư nhân rất năng động, nhạy bén với kinh tế thị trường, do đó sẽ có những đóng góp không nhỏ vào quá trình tăng trưởng kinh tế của đất nước, tuy nhiên, kinh tế tư bản tư nhân có tính tự phát rất cao. Khu vue kinh tế tư nhân tại Việt Nam đã trải qua nhiều biến động trong suốt hai thập niên qua. Kể từ khi Nhà nước từ bỏ vai trò độc quyền hoạt động kinh tế và công nhận thành phần kinh tế tư nhân, khu vực này không ngừng lớn mạnh và chính sách mở cửa mậu dịch đã trở thành nhân tố chính dẫn đến sự phát triển khá mau lẹ của nền kinh tế Việt Nam. Quan điểm hiện nay của Đảng Cộng sản Việt Nam nêu ở Hội nghị Trung ương 5 khoá IX (3 - 2002) về phát triển kinh tế tư nhâ ~ Kinh tế tư nhân là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân.

Phát triển kinh tế tư nhân là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển nền kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trung tâm là phát triển kinh tế, công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nâng cao nội lực của đất nước trong hội nhập kinh tế quốc tế. ~ Nhà nước tôn trọng và bảo đảm quyền tự do kinh doanh theo pháp luật, bảo hộ quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân; khuyến khích, hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi và định hướng, quản lý sự phát triển của kinh tế tư nhân theo. pháp luật, bình đẳng giữa các thành phan kinh tế. Các hộ kinh doanh cá thể được Nhà nước tạo điều kiện và giúp đỡ để phát triển ở cả nông thôn và thành thị; khuyến khích các hộ liên kết hình thành các hình thức tổ chức hợp tác tự nguyện, làm vệ tỉnh cho doanh nghiệp hoặc phát triển lớn hơn.

Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi về chính sách, pháp lý và tâm lý xã hội để các doanh nghiệp của tư nhân phát triển rộng rãi trong những ngành nghề sản xuất, kinh doanh mà pháp luật không cắm, không hạn chế về quy mô, nhất là trên những định hướng ưu tiên của Nhà nước; khuyến khích chuyển thành doanh nghiệp cỗ phần, bán cỗ phần cho người lao động, liên doanh, liên kết với nhau, với kinh tế tập thể và kinh tế Nhà nước. ~ Bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng của cả người lao động và người sử dụng lao động. Xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa người sử dụng lao động và § người lao động trên cơ sở pháp luật và tỉnh thần đoàn kết, tương thân tương ái. Chăm lo bồi dưỡng, giáo dục các chủ doanh nghiệp nâng cao lòng yêu nước, tự hào dân tộc, gắn bó với lợi ích của đất nước và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.

~ Tăng cường sự lãnh đạo của Nhà nước, phát huy vai trò của các tổ chức. chính trị - xã hội và các hiệp hội doanh nghiệp đối với kinh tế tư nhân nói chung cũng như trong từng doanh nghiệp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ