Luận văn thạc sĩ: Phát triển kinh tế trang trại trồng trọt tại tỉnh Bình Định

Luận văn thạc sĩ kinh tế phát triển kinh tế trang trại trồng trọt tại tỉnh Bình Định, phân tích tiềm năng và giải pháp phát triển bền vững.

Trường đại học

Đại Học Đà Nẵng

Chuyên ngành

Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2011

150
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan luận văn phát triển kinh tế trang trại Bình Định

Luận văn thạc sĩ kinh tế "Phát triển kinh tế trang trại trồng trọt trên địa bàn tỉnh Bình Định" là một công trình nghiên cứu hệ thống, phân tích sâu sắc thực trạng và đề xuất giải pháp chiến lược cho ngành nông nghiệp địa phương. Nghiên cứu này không chỉ làm rõ cơ sở lý luận về kinh tế trang trại mà còn cung cấp cái nhìn thực tiễn về quá trình hình thành, phát triển cũng như những thách thức mà các trang trại trồng trọt tại Bình Định đối mặt trong giai đoạn 2000-2010. Mục tiêu chính là xây dựng một lộ trình phát triển bền vững, nâng cao hiệu quả kinh tế trang trại và cải thiện thu nhập của nông dân, góp phần vào quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn của tỉnh.

1.1. Tầm quan trọng của kinh tế nông nghiệp Bình Định

Bình Định là tỉnh có thế mạnh về nông nghiệp, với diện tích đất nông nghiệp chiếm 64,4% tổng diện tích tự nhiên và dân số nông thôn chiếm tới 72%. Do đó, phát triển kinh tế nông nghiệp Bình Định đóng vai trò xương sống cho sự ổn định và tăng trưởng kinh tế - xã hội của toàn tỉnh. Luận văn khẳng định, kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hóa tiên tiến, có khả năng khai thác hiệu quả tài nguyên đất đai, vốn và lao động. Sự phát triển của các trang trại trồng trọt không chỉ góp phần đảm bảo an ninh lương thực mà còn tạo ra khối lượng nông sản hàng hóa lớn, phục vụ cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu. Đây là động lực chính thúc đẩy quá trình hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn tại địa phương.

1.2. Mục tiêu nghiên cứu về mô hình trang trại hiệu quả

Công trình nghiên cứu đặt ra mục tiêu rõ ràng: hệ thống hóa lý luận về kinh tế trang trại, phân tích thực trạng phát triển, và từ đó đề xuất các giải pháp khả thi. Cụ thể, luận văn tập trung đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của mô hình trang trại hiệu quả tại Bình Định, bao gồm quy mô đất đai, vốn đầu tư cho trang trại, trình độ lao động và khả năng tiếp cận thị trường. Thông qua việc khảo sát 110 trang trại, nghiên cứu tìm cách lượng hóa các nhân tố tác động, xác định những điểm mạnh cần phát huy và những tồn tại cần khắc phục. Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học quan trọng để các nhà hoạch định chính sách và chủ trang trại đưa ra quyết định đúng đắn, hướng tới một nền nông nghiệp bền vững.

II. Thực trạng kinh tế trang trại trồng trọt tỉnh Bình Định

Phân tích từ luận văn cho thấy, giai đoạn 2000-2010 chứng kiến sự phát triển nhanh chóng về số lượng trang trại trồng trọt tại Bình Định, từ con số không đáng kể đã tăng lên hàng trăm mô hình. Sự phát triển này chủ yếu mang tính tự phát, đi lên từ kinh tế hộ gia đình có tiềm lực. Mặc dù đã đạt được những thành tựu nhất định trong việc khai thác đất trống, đồi trọc và tạo việc làm, nhưng thực trạng sản xuất trồng trọt tại các trang trại vẫn còn nhiều hạn chế về quy mô, công nghệ và hiệu quả kinh doanh. Việc đánh giá đúng thực trạng là tiền đề quan trọng để tìm ra nguyên nhân và xây dựng các giải pháp phù hợp.

2.1. Đánh giá quy mô và nguồn lực sản xuất nông nghiệp

Theo số liệu khảo sát, quy mô của các trang trại trồng trọt ở Bình Định còn nhỏ và phân tán. Phần lớn trang trại có diện tích dưới 5 ha, đặc biệt là trang trại trồng cây hàng năm. Nguồn vốn sản xuất chủ yếu là vốn tự có, khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng chính thức còn hạn chế, gây khó khăn cho việc tái đầu tư và mở rộng sản xuất. Về lao động, dù dồi dào về số lượng nhưng chất lượng chưa cao, chủ yếu là lao động phổ thông, thiếu kỹ năng và kiến thức về kỹ thuật canh tác hiện đại. Trình độ quản lý của nhiều chủ trang trại vẫn dựa trên kinh nghiệm là chính, chưa có sự đầu tư bài bản vào việc học hỏi các phương pháp quản trị tiên tiến, làm ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế trang trại.

2.2. Những tồn tại hạn chế trong hiệu quả sản xuất

Luận văn chỉ rõ hiệu quả sản xuất kinh doanh của nhiều trang trại chưa tương xứng với tiềm năng. Năng suất cây trồng tuy có cải thiện nhưng chưa ổn định và còn khoảng cách khá xa so với các vùng chuyên canh lớn trên cả nước. Một trong những hạn chế lớn là việc ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp còn rất yếu, chủ yếu vẫn là canh tác truyền thống. Tỷ lệ trang trại sử dụng giống mới, phân bón hữu cơ vi sinh, và hệ thống tưới tiêu tiết kiệm còn thấp. Điều này dẫn đến chi phí sản xuất cao nhưng giá trị sản phẩm không vượt trội. Thêm vào đó, sản phẩm sau thu hoạch chủ yếu được bán ở dạng thô, chưa qua chế biến sâu, làm giảm giá trị gia tăng và sức cạnh tranh trên thị trường tiêu thụ nông sản.

2.3. Nguyên nhân cốt lõi ảnh hưởng thu nhập của nông dân

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những hạn chế nêu trên. Thứ nhất, việc quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp chưa được thực hiện một cách đồng bộ, dẫn đến tình trạng sản xuất manh mún, khó hình thành các vùng chuyên canh quy mô lớn. Thứ hai, các chính sách hỗ trợ nông nghiệp của tỉnh tuy đã có nhưng việc triển khai còn chậm và chưa thực sự đến được với các chủ trang trại. Thứ ba, sự liên kết giữa sản xuất và thị trường còn lỏng lẻo. Mô hình liên kết 4 nhà (Nhà nước - Nhà khoa học - Nhà doanh nghiệp - Nhà nông) chưa phát huy hiệu quả. Nông dân thường bị động về giá cả và đầu ra, phụ thuộc nhiều vào thương lái. Đây là những rào cản chính làm ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của nông dân và sự phát triển bền vững của kinh tế trang trại.

III. Giải pháp quy hoạch phát triển nông nghiệp bền vững

Để khắc phục những tồn tại, luận văn đề xuất một hệ thống giải pháp đồng bộ, trong đó nhóm giải pháp về quy hoạch và chính sách được xem là nền tảng. Một định hướng phát triển rõ ràng, dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn sẽ tạo ra hành lang pháp lý thuận lợi, giúp các trang trại phát triển đúng hướng và bền vững. Việc xây dựng một nền phát triển nông nghiệp bền vững đòi hỏi sự vào cuộc quyết liệt của chính quyền địa phương, bắt đầu từ công tác quy hoạch tổng thể và hoàn thiện các cơ chế, chính sách hỗ trợ thiết thực.

3.1. Tầm nhìn quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp hiệu quả

Giải pháp hàng đầu là phải rà soát, điều chỉnh và hoàn thiện quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp trên toàn tỉnh. Cần xác định rõ các vùng chuyên canh dựa trên lợi thế về thổ nhưỡng, khí hậu và nhu cầu thị trường. Quy hoạch phải gắn liền với việc xây dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ như giao thông, thủy lợi, và hệ thống điện. Chính quyền cần có chính sách khuyến khích tích tụ, tập trung đất đai để hình thành các trang trại có quy mô lớn, đủ điều kiện để áp dụng cơ giới hóa và công nghệ hiện đại. Việc quy hoạch phải đảm bảo tính ổn định lâu dài, giúp các chủ trang trại yên tâm đầu tư, tránh tình trạng thay đổi mục đích sử dụng đất đột ngột gây thiệt hại.

3.2. Vai trò của chính sách hỗ trợ nông nghiệp từ chính quyền

Nhà nước cần đóng vai trò kiến tạo thông qua việc ban hành các chính sách hỗ trợ nông nghiệp cụ thể và minh bạch. Các chính sách này nên tập trung vào một số lĩnh vực trọng yếu. Thứ nhất, hỗ trợ về vốn thông qua các chương trình tín dụng ưu đãi với lãi suất hợp lý và thủ tục đơn giản. Thứ hai, hỗ trợ về khoa học - công nghệ bằng cách tài trợ cho các dự án chuyển giao kỹ thuật, cung cấp giống cây trồng chất lượng cao. Thứ ba, hỗ trợ xây dựng thương hiệu và xúc tiến thương mại, giúp nông sản Bình Định có chỗ đứng vững chắc trên thị trường. Việc thực thi chính sách cần được giám sát chặt chẽ để đảm bảo sự công bằng và hiệu quả, tạo động lực thực sự cho các trang trại phát triển.

IV. Phương pháp nâng cao vốn và ứng dụng công nghệ cao

Bên cạnh quy hoạch và chính sách, việc giải quyết hai nút thắt lớn là vốn và công nghệ được xem là giải pháp có tính đột phá. Luận văn nhấn mạnh, nếu không có đủ vốn đầu tư cho trang trại và không mạnh dạn áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, kinh tế trang trại Bình Định sẽ khó có thể bứt phá. Do đó, cần có những phương pháp cụ thể để khơi thông dòng vốn và thúc đẩy đổi mới công nghệ, đưa nông nghiệp công nghệ cao Bình Định trở thành hiện thực.

4.1. Khơi thông nguồn vốn đầu tư cho trang trại trồng trọt

Để giải quyết bài toán vốn, cần đa dạng hóa các kênh huy động. Ngoài nguồn vốn tự có, các trang trại cần được tạo điều kiện thuận lợi để tiếp cận vốn vay từ ngân hàng thương mại và các quỹ hỗ trợ phát triển nông nghiệp. Các tổ chức tín dụng cần xem xét đơn giản hóa thủ tục thẩm định, chấp nhận các tài sản hình thành trên đất nông nghiệp (như cây trồng lâu năm, nhà lưới, nhà kính) làm tài sản thế chấp. Bên cạnh đó, cần khuyến khích sự hình thành các quỹ tín dụng nhân dân ở nông thôn, tạo kênh huy động vốn tại chỗ. Chính quyền cũng có thể đứng ra bảo lãnh tín dụng cho các dự án trang trại quy mô lớn, có tính khả thi cao, giúp các chủ trang trại tự tin hơn trong việc vay vốn đầu tư dài hạn.

4.2. Đẩy mạnh nông nghiệp công nghệ cao tại Bình Định

Thúc đẩy ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp là yêu cầu tất yếu để nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Cần tập trung vào việc chuyển giao các công nghệ tiên tiến như: giống cây trồng năng suất cao, kháng sâu bệnh; hệ thống tưới nhỏ giọt, tưới phun sương giúp tiết kiệm nước; quy trình canh tác theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP. Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cần phối hợp với các viện nghiên cứu, trường đại học để tổ chức các lớp tập huấn, xây dựng các mô hình trình diễn. Đồng thời, cần có chính sách hỗ trợ một phần chi phí cho các trang trại tiên phong áp dụng công nghệ mới, từ đó nhân rộng các mô hình trang trại hiệu quả ra toàn tỉnh.

V. Bí quyết xây dựng chuỗi giá trị và mô hình liên kết 4 nhà

Một nền nông nghiệp hiện đại không thể phát triển đơn lẻ mà phải dựa trên sự liên kết chặt chẽ. Luận văn chỉ ra rằng, việc xây dựng chuỗi giá trị nông sản và phát huy hiệu quả của mô hình liên kết 4 nhà là chìa khóa để giải quyết vấn đề đầu ra, nâng cao giá trị sản phẩm và đảm bảo lợi ích hài hòa cho các bên tham gia. Đây là giải pháp căn cơ để các trang trại trồng trọt tại Bình Định thoát khỏi tình trạng "được mùa, mất giá" và phát triển một cách ổn định.

5.1. Tối ưu hóa thị trường tiêu thụ nông sản cho trang trại

Việc tìm kiếm và mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản phải được coi là nhiệm vụ trọng tâm. Các trang trại cần chủ động thay đổi tư duy, từ "sản xuất cái mình có" sang "sản xuất cái thị trường cần". Điều này đòi hỏi phải tăng cường công tác dự báo thị trường, nắm bắt thông tin về nhu cầu, giá cả, và các tiêu chuẩn chất lượng. Các cơ quan chức năng cần hỗ trợ các trang trại trong việc xây dựng thương hiệu, đăng ký chỉ dẫn địa lý, và tham gia các hội chợ, triển lãm để quảng bá sản phẩm. Việc kết nối trực tiếp với các hệ thống siêu thị, nhà hàng, và các doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu sẽ giúp giảm bớt các khâu trung gian, tăng lợi nhuận cho người sản xuất.

5.2. Mô hình liên kết 4 nhà Hướng đi tất yếu cho nông dân

Mô hình liên kết 4 nhà cần được triển khai một cách thực chất. Trong đó, Nhà nước đóng vai trò kiến tạo chính sách và làm cầu nối. Nhà khoa học cung cấp các giải pháp kỹ thuật, giống mới và quy trình canh tác tiên tiến. Nhà doanh nghiệp đảm nhận vai trò cung ứng vật tư đầu vào và bao tiêu sản phẩm đầu ra, đồng thời đầu tư vào công nghệ chế biến. Nhà nông (chủ trang trại) có trách nhiệm tổ chức sản xuất theo đúng hợp đồng và quy trình kỹ thuật. Sự liên kết này tạo ra một vòng tròn khép kín, đảm bảo đầu vào chất lượng, sản xuất hiệu quả và đầu ra ổn định, giúp nâng cao toàn diện chuỗi giá trị nông sản và đảm bảo sự phát triển bền vững cho cả ngành.

VI. Hướng đi tương lai cho kinh tế trang trại tỉnh Bình Định

Trên cơ sở phân tích thực trạng và các giải pháp đề xuất, luận văn đã phác thảo một hướng đi rõ ràng cho tương lai của kinh tế trang trại trồng trọt tỉnh Bình Định. Đó là quá trình phát triển theo chiều sâu, lấy chất lượng và hiệu quả làm trọng tâm, thay vì chỉ chạy theo số lượng. Mục tiêu cuối cùng là hình thành một lớp chủ trang trại chuyên nghiệp, xây dựng nền nông nghiệp hàng hóa hiện đại, có sức cạnh tranh cao và đóng góp tích cực vào quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn của tỉnh.

6.1. Dự báo xu hướng chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn

Trong tương lai, kinh tế trang trại sẽ là nhân tố chủ chốt thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn tại Bình Định. Cơ cấu cây trồng sẽ tiếp tục chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng cây lương thực giá trị thấp, tăng diện tích các loại cây công nghiệp, cây ăn quả đặc sản có giá trị kinh tế cao, phù hợp với nhu cầu thị trường. Lao động nông nghiệp sẽ giảm dần về số lượng nhưng tăng về chất lượng. Sự phát triển của các trang trại cũng sẽ kéo theo sự phát triển của các ngành công nghiệp phụ trợ và dịch vụ nông thôn như chế biến nông sản, cung ứng vật tư, vận tải, góp phần tạo ra một bộ mặt nông thôn mới văn minh, hiện đại.

6.2. Kiến nghị để phát triển mô hình trang trại hiệu quả

Để hiện thực hóa tầm nhìn trên, luận văn đưa ra một số kiến nghị cụ thể. Đối với Nhà nước, cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý, đơn giản hóa thủ tục hành chính và tăng cường đầu tư cho hạ tầng nông thôn. Đối với các cơ quan chuyên môn, cần đẩy mạnh công tác khuyến nông, chuyển giao công nghệ và cung cấp thông tin thị trường kịp thời. Đối với các chủ trang trại, cần không ngừng học hỏi, nâng cao năng lực quản trị, chủ động liên kết hợp tác và mạnh dạn đầu tư vào công nghệ. Sự phối hợp đồng bộ và nỗ lực từ mọi phía sẽ là điều kiện tiên quyết để xây dựng và nhân rộng các mô hình trang trại hiệu quả, đưa kinh tế nông nghiệp Bình Định lên một tầm cao mới.

21/07/2025
Luận văn thạc sĩ kinh tế phát triển kinh tế trang trại trồng trọt trên địa bàn tỉnh bình định

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế trang trai trồng trot; “Chương 2: Thực trạng phát triển kinh tế trang trại trồng trọt ở tỉnh Bình Dinh; Chương 3: Giải pháp phát triển kinh tế trang trại trồng trọt ở tỉnh Bình Định. CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỀN VE PHAT TRIÊN KINH TẾ TRANG TRẠI TRÒNG TROT. MỘT SỐ VẤN ĐÈ LÝ LUẬN VỀ KINH TẾ TRA! 3 TRẠI TRÒNG TRỌT 1. Trang trại và kinh tế trang trại 1.

Khái niệm về trang trại và kinh tế trang trại * Khái niệm vẻ trang trại và kinh té trang trại “Trong thực tiễn giao tiếp và văn phong của Việt Nam, chúng ta thường gặp hai khái niệm “trang trai” và "kinh tế trang trai”. Đây là bai phạm trù có những nét riêng về cách nhìn nhận, tiếp cận đến một thực thể kinh tế - xã hội trong nông nghỉ , nông thôn; tương ứng người ta cũng có thể dùng khái niệm “nông trại” và “kinh tế trang trại”; đó là cách nói tắt, nhắn mạnh đến ngành nghề sản xuất kinh doanh chủ yếu là nông nghiệp, ở nông thôn. Khi nói đến: “trang trại” hay “nông trại” là muốn đề cập đến những cơ sở sản xuất kinh doanh trong nông nghiệp (nồng, lâm, ngư ngÄiệp), đó là một kiểu tổ chức sản xuất kinh doanh cụ thể trong nông nghiệp. Pham tri “trang trai” bao hàm không chỉ các quan hệ kinh t8, ma còn các quan 'hệ hành chính (địa đự và pháp iý); quan hệ gia đìi thuyết thông và hón nhân); quan hệ xã hội (truyén thống, sập quán, giao riếp); quan hệ môi trường (khai thác và sử dụng, bảo vệ và tải tạo) 'Khi nói “kinh tế trang trại” là nhằm để cập đến mặt bản chất kinh tế - xã hội cốt lõi nhất, các quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại, đó là: quan hệ trong nội bộ trang trại, quan hệ giữa các trang trại với nhau, quan hệ giữa trang trại với hợp tác xã, quan hệ giữa trang trại với các tổ chức khác như: Nhà nước, các công ty, xí nghiệp, trên thị trường, được xem xét trên góc độ các quan hệ kinh tế hàng hóa đầu vào và đầu ra 'Việc phân biệt hai khái niệm trên cho thấy, về ngữ nghĩa không thể là một, tuy nhiên trong thực tế cũng như trong văn phong, khi nghiên cứu về mặt kinh tổ ở một số trường hợp cụ thể, có thể sử dụng hai thuật ngữ “trang tr: ” va “kinh tế trang trại” như.

là đồng nhất, mà không làm sai lệch. ấn đề cần diễn đạt Căn cứ vào chủ trương phát triển kinh tế trang trại được nêu trong các Văn kiện, Nghị quyết của Đảng, Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP của Chính phủ về kinh tế trang trại: Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp, nông thôn, chủ yêu là dựa vào hộ gia đình, nhằm mở rộng quy mô và hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trằng trọt, chăn nuôi, nuôi trông thủy sản, trằng rừng. gắn sản xuất với chế biến và tiểu thụ nông, lâm, thủy sản [18]. * Khái niệm về kinh tỀ trang trai tring trot 'Kinh tế trang trại trồng trọt là một nền sản xuất kinh tế trong nông nghiệp với nông sản hàng hóa là sản phẩm của trồng trọt y hàng năm và cây lâu năm.

Đó là tông thể các mối quan hệ kinh tế của các -hức sản xuất hoạt động kinh doanh nông. nghiệp, xét ở phạm vi trồng trọt. Bao gồm các hoạt động trước và sau sản xuất nông, sản hàng hóa xung quanh các trục trung tâm là hệ thống các trang trại trồng trọ ở các ving kinh té khác nhau. Kinh tế trang trại trồng trọt cũng là sản phẩm của thời kỳ công nghiệp hóa, quá trình hình thành và phát triển các trang trại gắn liền với quá trình công nghiệp hóa từ thấp đến cao, tỷ trọng hàng hóa từ thấp đến cao cũng như trình độ sản xuất, quy mô và năng lực sản xuất đáp ứng được nhu.

sản phẩm hàng hóa như: gạo, ngô, khoai, rau, đâu, hoa quả. trên thị trường, phủ hợp với sự phát triển kinh té thi trường hiện nay. KTTT trong trot là một nền tảng lớn của một hệ thống KTTT nói chung, là một bộ phận của nền sản xuất trong nông nghiệp, phụ thuộc nhiều vào điều kiện đất đai, thổ nhưỡng, khí hậu, thời tiết, giống cây trồng, chăm sóc cây trồng. Sản phẩm của.

trồng trọt phục vụ trực tiếp cho nhu cầu tiêu dùng của đại đa số người dân trong cả nước. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, xuất phát từ nhu cầu thị trường, KTTT trồng trọt là sự phát triển tắt yếu của quy luật sản xuất hàng hóa. Do đó, các yếu tổ đầu vào như: vốn, lao động, giống, trình độ khoa học công nghệ, cũng như các sản phẩm. đầu ra: gạo, ngô, khoai, rau, đậu, hoa quả,.

đều là hàng hóa. Từ đó có thể rút ra khái niệm về kinh tế trang trại trồng trọt: KTTT trong trot la một hình thức tổ chức sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp, nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình, nhằm mở rộng quy mô và hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trằng trọt các loại cây trằng hàng năm và lâu năm, gắn sản xuất với chế biển và tiêu thụ nông 1. Ban chất của kinh té trang trai tring trot “Trong lịch sử phát triển của nông nghiệp các nước trên thể giới cũng như ở nước ta đã từng tồn tại các hình thức sản xuất nông nghiệp mang tính tập trung. được tiến hành trên một quy mô diện tích ruộng đắt đủ lớn, nhằm sản xuất ra khối lượng nông sản phẩm lớn hơn so với hình thức sản xuất nông nghiệp truyền thống, phân tán trên những diện tích ruộng đất nhỏ.

Ngày nay trong điểu kiện kinh tế thị trường, ngôn ngữ các nước đều có những thuật ngữ để chỉ hình thức sản xuất nông nghiệp tập trung với những biến đổi cơ bản so với các hình thức sản xuất nông nghiệp tập trung với những biển đổi cơ bản so với các hình thức sản xuất nông nghiệp tập trung trong các phương thức sản xuất. “Trang trai” hay "nông trai” thi có thể hiểu đó là những khu đắt tương đối lớn. Ở đó sản xuất nông nghiệp được tiến hành có tổ chức dưới sự chỉ huy của một người chủ mà phần đông là chủ gia đình nông dân bao gồm cả nông dân lĩnh canh trong giai đoạn nông nghiệp đi vào sản xuất hàng hóa và từng bước gắn liền với kinh tế thị trường Bản chất “trang trại” hay “nông trại” là thuật ngữ trong kiện kinh tế thị trường là thuật ngữ gắn liễn với hình thức sản xuất nông nghiệp mang tính tập trung trên một diện tích đất đủ lớn nhằm sản xuất nông sản phẩm hàng hóa với quy mô gia đỉnh là chủ yếu Ở Việt Nam, từ sau Nghị quyết X của Bộ Chính trị (Tháng 4/1998) về đổi mới kinh tế nông nghiệp, quan hệ sản xuất trong nông nghiệp nước ta được đi chỉnh một bước. Song phải đến Nghị quyết VI của Ban chấp hành trung ương (khoá VI 3/1989) hộ gia đình xã viên mới được xác định là đơn vị kinh tế tự chủ cùng với một loạt các chính sách kinh tế được ban hành.

Kinh tế hộ nông dân nước ta đã có bước phát triển đáng kể. Một bộ phận nông dân có vốn, kiết thức, kinh nghiệm sản xuất và quản lý, có ý chí làm ăn đã đầu tư và phát triển nông, lâm nghiệp và thuỷ sản, họ trở lên khá giả. Trong đó một số hộ chuyển sang sản xuất hàng hoá, nhưng đại bộ phận các hộ nông dân sản xuất với mục tiêu chủ yếu là để tiêu dùng, số sản phẩm đưa ra bán trên thị trường là sản phẩm dư thừa, sau khi đã dành cho tiêu dùng. Số sản phẩm hàng hoá một mặt chưa én định, còn phụ thuộc vào kết quả sản xuất từng năm và mức tiêu dùng của từng gia đình và mặt khác họ chỉ bán cái mà mình có chứ chưa bán cái ma thị trường cần.

‘Nhu vậy muốn phân biệt kinh tế trang trại với kinh tế hộ nông dân là căn cứ và mục tiêu sản xuất. Đối với hộ nông dân mục tiêu sản xuất của họ là để tiêu dùng, sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng về lương thực, thực phẩm và các nhu cầu khác của họ. Ngược lại, mục tiêu sản xuất của kinh tế trang trại là sản xuất hàng hoá lớn nhằm đáp ứng yêu cầu của thị trường về các loại nông, lâm nghiệp và thuỷ sản, sản phẩm sản xuất ra là để bán. Như vậy trình độ phát triển của kinh tế hộ nông dân chỉ dừng lại ở sản xuất hàng hoá phải tự cung tự cấp.

Để có nền nông nghiệp sản xt hàng hoá lớn phải chu: kinh tế hộ nông dân sang phát triển kinh tế trang trại. Những đặc trưng của kinh tế trang trại trồng trọt Tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp tồn tại nhiễu loại hình tổ chức sản xuất khác nhau, KTTT trồng trọt mang những đặc trưng co bản sau, * Mục đích chủ yếu của kinh tế trang trại là sản xuất nông sản phẩm hàng. khóa theo như cầu thị trường KTTT là hình thức kinh tế từng bước đưa nông dân từ hô nông nghiệp tự cấp tự túc lên các hộ nông nghiệp hàng hóa. Vai trò khách quan mang tính lịch sử này của KTTT gắn liền với tính hai mặt của hô nông dân, với trình độ phát triển của sản xuất nông nghiệp và sự giao lưu hàng hóa giữa thành thị và nông thôn.

'Nông hộ vừa là gia đình - đơn vị trực tiếpt dùng của xã hội, vừa là cơ sở sản xuất nông nghiệp sản xuất ra những sản phẩm tối cần thiết cho cuộc sống có thể tiêu dùng trực tiếp. Các hộ nông dân muốn làm giàu phải thoát khỏi inh trạng sản xuất tự cấp tư túc và từng bước chuyển sang sản xuất hàng hóa theo phương thức trang trại * Tự liệu sản xuất trong trang trại thuộc quyền sở hữu hoặc quyển sử dụng của một người chủ độc lập “Trong các trang trại mà tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu của chủ trang trại trong trường hợp đi thuê hay được giao quyền sử dụng thì tư liệu sản xuất đều thuộc quyển sử dụng của một người chủ độc lập Người chủ độc lập ở đây không phải là người chủ biệt lập, tách rời khỏi các quan hệ liên kết và hợp tác với các chủ thể kinh tế khác. Người chủ độc lập ở đây là người hoàn toàn có quyền tự chủ trong hoạt động sản xuắt kinh doanh.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ