Chương I: Một số vấn đề lý luận về phát triền bền vững nông nghiệp Chương 2: Thực trạng phát triển bền vững nông nghiệp huyện Núi Thành thời gian qua Chương 3: Giải pháp phát triển bền vững nông nghiệp huyện Núi Thành thời gian tới Chuong 1 MOT SO VAN DE LY LUAN VE PHAT TRIEN BEN VUNG NONG NGHIEP 1. TONG QUAN VE PHAT TRIEN BEN VUNG 1. Một số khái niệm a. Nông nghiệp Nông nghiệp là một trong những ngành kinh tế quan trọng và phức tạp.
Nó không chỉ là một ngành kinh tế đơn thuần mà còn là hệ thống sinh học — kỹ thuật, bởi vì một mặt cơ sở để phát triển nông nghiệp là việc sử dụng tiềm năng sinh học - cây trồng, vật nuôi. Chúng phát triển theo qui luật sinh học nhất định con người không thể ngăn cản các quá trình phát sinh, phát triển và diệt vong của chúng, mà phải trên cơ sở nhận thức đúng đắn các qui luật để có những giải pháp tác động thích hợp với chúng. Mặt khác quan trọng. hơn là phải làm cho người sản xuất có sự quan tâm thoả đáng, gắn lợi ích của họ với sử dụng quá trình sinh học đó nhằm tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm cuối cùng hơn.
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản, giữ vai trò to lớn trong việc phát triển kinh tế ở hầu hết cả nước, nhất là ở các nước đang phát triển. Ở những nước này còn nghèo, đại bộ phận sống bằng nghề nông. Tuy nhiên, ngay cả những nước có nền công nghiệp phát triển cao, mặc dù tỷ lệ GDP nông nghiệp không lớn, nhưng khối lượng nông sản của các nước này khá lớn và không ngừng tăng lên, đảm bảo cung cấp đủ cho đời sống con người những sản phẩm tối cần thiết đó là lương thực, thực phẩm. Những sản phẩm này cho dù trình độ khoa học — công nghệ phát triển như hiện nay, vẫn chưa có ngành nào có thể thay thế được.
Lương thực, thực phẩm là yếu tố đầu tiên, có tính chất quyết định sự tồn tại phát triển của con người và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Nông nghiệp nếu hiểu theo nghĩa hep chỉ có ngành trằng trọt, ngành chăn nuôi. Còn nông nghiệp hiểu theo nghĩa rộng nó còn bao gồm cả ngành lâm nghiệp và ngành thúy sản nữa. Phát triển bền vững Vào đầu những năm 70 của thế kỷ XX, các quốc gia trên thế giới, nhất là các nước phát triển, thi nhau khai thác tài nguyên thiên nhiên, đây nhanh tốc độ tăng trưởng và tìm kiếm thị trường đẻ làm giàu.
Trước xu hướng đó, xã hội loài người sẽ đương đầu với nhiều nguy cơ và thảm hoạ trong tương lai gần, đó là ô nhiễm môi trường sống, trái đất đang nóng dan lên do phát thải khí (từ sản xuất công nghiệp và giao thông) gây hiệu ứng nhà kính, đào sâu hố ngăn cách giữa nhóm người giàu và nhóm người nghèo, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên (chăng hạn, chỉ với 6 tỉ dân trên toàn thế giới như hiện nay, nếu tất cả các quốc gia đều phát triển, có mức sống và lối sống như người Mỹ, thì nguồn tài nguyên cần thiết cho quá trình phát triển ấy sẽ lớn bằng 15 lần Trái đất của chúng ta đang có). Trước nguy cơ đó, phản ứng đầu tiên là phải giảm sử dụng tài nguyên và sản xuất. Càng tăng trưởng thì môi trường sinh thái và tài nguyên thiên nhiên càng bị xâm hại ngày một nghiêm trọng, nguy cơ quả đất đang nóng dần do phát thải công nghiệp, lở đất do công nghệ trồng trọt lạc hậu và khai phá rừng, nguồn nước đang bị ô nhiễm ngày một tăng, bùng nỗ dân só. Thế nhưng, tăng trưởng lại cũng là một nhu cầu không thể dừng lại được.
Nước nghèo và chậm phát triển thì lo ngại mất cơ hội nâng cao mức sống vật chất, nước giàu thì không thẻ giải quyết việc làm và bị hấp dẫn bởi các món lợi nhuận khổng lồ đang hứa hẹn từ tăng trưởng kinh tế. Đại thẻ, lý do của các quốc gia đưa ra rất khác nhau, nhưng những cảnh báo có cơ sở khoa học đã trở thành một tiếng chuông cảnh tỉnh nhận thức chung của mọi người. Trước những cảnh báo về nguy cơ đối với sự sống trên trái đất do chính bàn tay con người gây nên, năm 1972, Hội nghị Liên hợp quốc về môi trường tại Stockholm (Thụy Điển) đã được triệu tập. Khái niệm mới ra đời, đó là “phát triển tôn trọng môi sinh” với nội hàm là bảo vệ môi trường, tôn trọng môi sinh, quản lý hữu hiệu tài nguyên thiên nhiên, thực hiện công bằng và ôn định xã hội.
Những cảnh báo khoa học nghiêm túc đã làm cho các quốc gia dần từng bước ý thức được múi liên hệ nhân quả giữa lối sống của loài người với môi trường sinh thái, giữa phát triển kinh tế-xã hội với bảo tồn tài nguyên thiên nhiên. Đầu thập niên 80 của thế ky XX, khái niệm phát triển bền vững xuất hiện. năm 1987, Uỷ ban Thế giới về Môi trường và Phát triển mới tiếp thu và triển khai trong Bản phúc trình mang tựa đề “Tương lai của chúng ta”, trong đó đã đưa ra định nghĩa: “Phát triển bên vững là sự phát triển nhằm thỏa mãn các nhu câu hiện tại nhưng không làm tồn hại đến khả năng của các thế hệ tương lai trong việc đáp ứng nhu câu của chính họ”. [5] Từ đó đến nay, đã có nhiều định nghĩa về phát triển bền vững: ~ Phát triển bền vững theo quan điểm của Ngân hàng thế giới (WB): Phát triển bền vững là sự phát triển mà trong đó các giá trị kinh tế, xã hội và môi trường luôn luôn tương tác với nhau trong suốt quá trình quy hoạch, phân bố lợi nhuận công bằng giữa các tầng lớp trong xã hội và khẳng định các cơ hội cho sự phát triển kế tiếp duy trì một cách liên tục cho các thế hệ mai sau.
+ Bền vững về kinh tế, thể hiện một cách khái quát ở sự ổn định và không ngừng gia tăng sản xuất của quốc gia, thường được biểu thị bằng các tiêu chí tổng sản phẩm quốc gia (GNP), tổng sản phẩm trong nước (GDP), GDP bình quân đầu người, mức tăng trưởng của GDP, sức mua tương đương (PPP). + Bền vững về mặt xã hội, thể hiện ở sự phân phối quyền lợi và các cơ. hội một cách công bằng giữa các tầng lớp xã hội, giới và các thế hệ. Tính bền vững về xã hội thường được đánh giá qua chỉ số phát triển con người (HDI), hệ số bình đăng thu nhập (Hệ số Gini), các chỉ tiêu về giáo dục, dịch vụ yt + Bền vững về mặt môi trường, là khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên; phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý và kiểm soát có hiệu quả ô nhiễm môi trường, bảo vệ môi trường sống; khắc phục suy thoái và cải thiện chất lượng môi trường.
~ Phát trị vững theo quan của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp (FAO): Phát triển bền vững là việc quản lý và bảo tồn cơ sở tài nguyên thiên nhiên, định hướng những thay đổi công nghệ và thể chế theo một phương. thức sao cho đạt đến sự thỏa mãn một cách liên tục những nhu cầu của con người của những thế hệ hôm nay và mai sau. Sự phát triển bền vững như vậy trong lĩnh vực nông nghiệp (nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản) chính là sự bảo tồn đất, nước, các nguồn gen và thực vật, không bị suy thóai môi trường, kỹ thuật thích hợp, sinh lợi kinh tế và chấp nhận về mặt xã hội” (1989). Trần Văn Chử, “7ăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội trong cơ chế thị trường ở Việt Nam”, thì phát triền bền vững là sự phát triển kinh tế - xã hội với tốc độ tăng trưởng cao, liên tục trong thời gian dài dựa trên việc sử dụng có hiệu quả nguồn tải nguyên mà vẫn bảo vệ được môi trường, sinh thái.
Phát triển kinh tế nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của ign tại, song không làm cạn kiệt tài nguyên, để lại hậu quả môi trường cho các thế hệ tương lai. Nhu vay, có nhiều khái niệm về phát triển bền vững, thậm chí có nhiều quan điểm khác nhau. Tổng hợp những các quan điểm có thể rằng: “Phát triển bằn vững là sự phát triển trong đó kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển là kinh tế, xã hội và môi trường nhằm thỏa mãn được nhu cầu cầu xã hội hiện tại nhưng không tồn hại tới sự thỏa mãn các như câu của thể hệ tương lai ”. Phat trién bén vitng néng nghiép Phát triển bền vững nông nghiệp là phát triển về kinh tế, xã hội và môi trường trong sản xuất nông nghiệp.
Cụ thể: 'Về kinh tế, iu tư theo chiều sâu, phát triển các loại cây trồng vật nuôi có giá trị hàng hóa cao phù hợp với từng vùng. Tìm kiếm thị trường đầu ra cho sản phẩm nông nghiệp ôn định. Đưa tiến bộ khoa học công nghệ vào phát triển nông nghiệp. Về xã hội, giải quyết lao động đôi dư trong ngành nông nghiệp, cần phải đào tạo và đảo tạo lại lực lượng lao động trong khu vực sản xuất nông nghiệp, mở rộng thì trường không chỉ trong nước mà còn phải phối hợp và ký kết hợp.
đồng với các quốc gia trên thế giới. Nâng cao dịch vụ y tế và giáo dục trong ngành nông nghiệp. Nâng cao về nhận thức phát triển bền vững nông nghiệp. Về môi trường, phát triển sản phẩm nông nghiệp sạch, thân thiện môi trường, hạn chế tối đa sử dụng hóa chất và thuốc bảo vệ thực vật, thay vào đó sử dụng phân hóa học.
Nâng cao dịch vụ vệ sinh và môi trường trong hoạt động sản xuất nông nghiệp, tăng cường phát triển sản phẩm bản địa, duy trì tính đa dạng trong phát triển nông nghiệp. Những đặc điểm của sản xuất nông nghiệp Nông nghiệp là một trong hai ngành sản xuất vật chất chủ yếu của xã hội. Sản xuất nông nghiệp có những đặc điểm riêng mà các ngành sản xuất khác không thể có đó là: - Sản xuất nông nghiệp được tiến hành trên địa bàn rộng lớn, phức tạp, phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên nên mang tính khu vực rõ rệt. Ở đâu có đất và lao động thì có thể tiến hành sản xuất nông nghiệp.
Thế nhưng ở mỗi vùng mỗi quốc gia có điều kiện đất đai và thời tiết - khí hậu rất khác nhau. Lịch sử hình thành các loại đất, quá trình khai phá và sử dụng các loại đất ở các địa bàn có địa hình khác nhau, ở đó diễn ra các hoạt động nông nghiệp cũng không giống nhau.