CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VỐN KINH DOANH VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Vốn kinh doanh của doanh nghiệp 1. Khái niệm vốn kinh doanh Vốn là yếu tố cơ bản và là tiền đề không thể thiếu của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Muốn tiến hành bất kỳ một quá trình sản xuất kinh doanh nào cũng cần phải có vốn.
Có nhiều quan điểm khác nhau về vốn, mỗi quan điểm nhìn nhận vốn dưới một góc độ nhất định [9].Samuelson và William D.Nordhaus trong cuốn sách “Kinh tế học” thì “Vốn là khái niệm thường dùng để chỉ các hàng hóa là vốn nói chung, một nhân tố sản xuất. Một hàng hóa làm vốn, khác với nhân tố sơ yếu (đất đai, lao động) ở chỗ: Nó là một đầu vào mà bản thân là một đầu ra của nền kinh tế gồm: vốn vật chất (nhà máy, thiết bị, kho hàng), vốn tài chính (tiền, chứng khoán, tín phiếu)”. Quan điểm này đã cho chúng ta thấy rõ nguồn gốc hình thành vốn và trạng thái biểu hiện của vốn nhưng hạn chế cơ bản của quan điểm này là chưa cho thấy mục đích của sử dụng vốn. Theo David Begg, tác giả cuốn “Kinh tế học” thì vốn bao gồm: vốn hiện vật và vốn tài chính của doanh nghiệp.
Vốn hiện vật là dự trữ hàng hóa đã sản xuất để sản xuất ra hàng hóa khác; vốn tài chính là các loại tiền và các giấy tờ có giá của doanh nghiệp. Theo Các Mác trong bộ “Tư bản” đã khái quát hóa phạm trù vốn qua phạm trù tư bản: “Tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư, là đầu vào của quá trình sản xuất”. Định nghĩa cho thấy được bản chất và vai trò của vốn. Bản chất của vốn chính là giá trị cho dù nó có thể được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau: tài sản, nhà cửa, tiền công…Tuy nhiên, do hạn chế về mặt trình độ phát triển của nền kinh tế, quan điểm vềvốn của Mác chỉ bó hẹp trong khu vực sản xuất vật chất và 5 cho rằng chỉ có kinh doanh sản xuất vật chất mới tạo ra giá trị thặng dư cho nền kinh tế.
Bất kì một doanh nghiệp nào muốn tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường đều cần có một lượng vốn nhất định. Doanh nghiệp sử dụng lượng vốn này để mua sắm các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất như: sức lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động; kết hợp ba yếu tố đó để tạo ra đầu ra là các sản phẩm hàng hoá, hoặc dịch vụ có ích và tiêu thụ hàng hoá để thu lợi nhuận. Lượng vốn ứng ra đó được gọi là vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Vốn kinh doanh không chỉ là điều kiện tiên quyết và sống còn đối với sự ra đời của doanh nghiệp mà nó còn là một trong những yếu tố giữ vai trò quyết định trong quá trình hoạt động và phát triển của doanh nghiệp hiện nay.
Do đó, chúng ta cần phải có nhận thức đúng đắn về vốn kinh doanh và vai trò của nó đối với quá trình sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp. Từ các phân tích ở trên có thể định nghĩa vốn kinh doanh như sau: “Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản được huy động, sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời” (Trích từ “Giáo trình tài chính doanh nghiệp” – NXB tài chính năm 2008). Đặc điểm của vốn kinh doanh - Vốn đại diện cho một lượng tài sản nhất định Vốn là biểu hiện bằng tiền cho giá trị của những tài sản hữu hình và vô hình như: nhà xưởng, đất đai, máy móc, nguyên vật liệu, bằng phát minh sáng chế… nhưng vốn không đồng nhất với hàng hóa, tiền tệ thông thường. Tiền tệ, hàng hóa là hình thái biểu hiện của vốn nhưng chỉ khi chúng được đưa vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm mục đích sinh lời chúng mới được coi là vốn.
Với tư cách là vốn, các tài sản của doanh nghiệp tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh nhưng nó không bị mất đi mà được thu hồi giá trị. Nhận thức được đặc trưng này của vốn, các doanh nghiệp tìm mọi cách để khai thác, sử dụng biến vốn tiềm năng thành vốn hoạt động. 6 - Vốn phải được vận động nhằm mục đích sinh lời Vốn được biểu hiện bằng tiền nhưng tiền chỉ là dạng tiềm năng về vốn. Để tiền biến thành vốn thì đồng tiền đó phải được vận động sinh lời.
Trong quá trình vận động, đồng vốn có thể thay đổi hình thái biểu hiện nhưng điểm xuất phát và điểm cuối cùng của tuần hoàn là giá trị- tiền tệ với giá trị lớn hơn (T- H- T’). Đó là nguyên lý đầu tư, sử dụng và bảo toàn vốn. - Vốn phải gắn với chủ sở hữu Trong nền kinh tế thị trường, vốn phải gắn với chủ sở hữu nhất định. Chỉ khi xác định rõ chủ sở hữu thì đồng vốn mới được chi tiêu tiết kiệm, hiệu quả.
Ở đây, cần phân biệt quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn. Tùy theo hình thức đầu tư mà người sở hữu hay người sử dụng có thể đồng nhất hay tách rời, song dù trường hợp nào thì người sở hữu vốn vẫn được ưu tiên, đảm bảo quyền lợi và phải được tôn trọng quyền sở hữu của mình. Đây là một nguyên tắc cực kỳ quan trọng trong huy động và sử dụng vốn. Nó cho phép huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư vào sản xuất kinh doanh, đồng thời quản, đồng thời quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả.
- Vốn phải được tích tụ, tập trung đến một lượng nhất định mới có thể phát huy được tác dụng Để đầu tư vào sản xuất kinh doanh, phải tập trung một lượng vốn đủ lớn để mua sắm máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu cho sản xuất kinh doanh và chủ động trong các phương án sản xuất kinh doanh. Do đó, các doanh nghiệp ngoài việc tự huy động vốn còn phải tìm cách thu hút vốn từ nhiều nguồn khác nhau như: phát hành cổ phiếu, phát hành trái phiếu, liên doanh liên kết… để đáp ứng nhu cầu hoạt động kinh doanh ở một quy mô nhất định. - Vốn có giá trị về thời gian Ngoài yếu tố đầu tư sinh lời, giá trị của đồng tiền còn chịu ảnh hưởng của yếu tố đầu tư, lạm phát, chính trị,… trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, đặc trưng này của vốn dường như không được quan tâm, xem xét kỹ lưỡng. Việc Nhà nước giao vốn, giao kế hoạch sản xuất, cung cấp nguyên vật liệu, bao tiêu toàn bộ sản phẩm và vô hình chung đã tạo ra sự ổn định hoạt động sản xuất kinh doanh của 7 doanh nghiệp một cách giả tạo, không đánh giá đúng mức độ bảo toàn hay phát triển của doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường, giá trị thời gian của vốn ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh cũng như giá trị của doanh nghiệp. Nhận thức được đặc trưng này không những giúp doanh nghiệp so sánh kết quả kinh doanh một cách đơn thuần mà phải tìm biện pháp bảo toàn vốn. Phân loại vốn kinh doanh Vốn của doanh nghiệp có thể được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau. Với mỗi tiêu thức, vốn sẽ được nhìn nhận và xem xét dưới mỗi góc độ khác nhau, từ đó thấy được các hình thái vận động của vốn, đặc tính của vốn để sử dụng vốn có hiệu quả.Căn cứ theo đặc điểm luân chuyển của vốn Căn cứ theo đặc điểm luân chuyển, vốn được chia làm 2 loại: Vốn cố định và vốn lưu động.
Vốn cố định Vốn cố định của doanh nghiệp là một bộ phận của vốn sản xuất kinh doanh, là khoản đầu tư ứng trước hình thành nên TSCĐ của doanh nghiệp. Vì vậy quy mô vốn cố định nhiều hay ít sẽ quyết định đến quy mô của TSCĐ. Vốn cố định ảnh hưởng rất lớn đến trình độ trang bị kỹ thuật vật chất và công nghệ, năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Song ngược lại, những đặc điểm vận động của TSCĐ trong quá trình sử dụng lại có ảnh hưởng quyết định, chi phối đặc điểm tuần hoàn và chu chuyển của vốn cố định.
Từ mối liên hệ đó, ta có thể khái quát những nét đặc thù về sự vận động của vốn cố định trong quá trình sản xuất kinh doanh: + Vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh. Vốn cố định có đặc điểm này là do TSCĐ tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp và phát huy tác dụng trong nhiều chu kỳ sản xuất. Vì vốn cố định là hình thái biểu hiện bằng tiền của TSCĐ nên vốn cố định cũng tham gia vào các chu kỳ sản xuất tương ứng. + Vốn cố định luân chuyển dần, từng phần trong các chu kỳ sản xuất.
Khi tham gia vào quá trình sản xuất, TSCĐ không bị thay đổi hình thái hiện vật ban đầu 8 nhưng tính năng và công suất của nó bị giảm dần, tức là nó bị hao mòn, và cùng với sự giảm dần về giá trị sử dụng, thì giá trị của nó cũng bị giảm đi, theo đó vốn cố định gồm 2 bộ phận: Bộ phận thứ nhất: tương ứng với phần hao mòn của TSCĐ, được luân chuyển và cấu thành chi phí sản xuất sản phẩm dưới hình thức chi phí khấu hao và được tích luỹ lại thành quỹ khấu hao, quỹ khấu hao này được sử dụng để tái đầu tư TSCĐ nhằm duy trì năng lực sản xuất cho doanh nghiệp. Bộ phận thứ hai: là phần giá trị còn lại của vốn cố định được cố định trong TSCĐ, đó chính là giá trị còn lại của TSCĐ. + Vốn cố định hoàn thành một vòng luân chuyển sau nhiều chu kỳ sản xuất. Sau mỗi chu kỳ sản xuất, phần vốn cố định được luân chuyển vào giá trị sản phẩm dần tăng lên, tương ứng với phần đầu tư ban đầu vào TSCĐ giảm xuống.
Cho đến khi TSCĐ hết thời gian sử dụng, giá trị TSCĐ được chuyển dịch hết vào giá trị sản phẩm đã sản xuất thì vốn cố định mới hoàn thành một vòng luân chuyển. Trong các doanh nghiệp, vốn cố định là bộ phận quan trọng và chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong toàn bộ vốn đầu tư nói riêng, vốn sản xuất kinh doanh nói riêng. Quy mô của vốn cố định và trình độ quản lý sử dụng vốn cố định là nhân tố ảnh hưởng quyết định đến trình độ trang bị kỹ thuật của sản xuất kinh doanh. Nên việc sử dụng vốn cố định có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.