phần mở đầu và kết luận, luận văn bao gằm những nội dung sau: ChươngÌ: Cơ sở lý lun về phát tiễn nghề truyền thống Chương2: Thực trang phát tiễn nghề truyền thắng ti làng nghề dột lụa Mã Châu Chương 3: Một số gii pháp phát triển nghề truyền thống ti làng nghề dệt la Mã Châu Chuong 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIÊN NGHE TRUYEN THONG 1. Những vấn đề chúng về nghề truyền thống và làng nghề truyền thống Lắng nghề truyền thống như là gương mặt khác của làng xã nông nghiệp, nó là một bộ phận không thể tách rồi, thậm chí phát triển song hành cùng làng xã của người Việt. Chính vì vây, khi tìm hiểu về làng nghề truyền thống thật khó có thể phần định một cách rõ rằng thể nào là làng nghề và thể nào không phải là làng nghề bởi do có khá nhiễu những tiêu chí đã được định sẵn của các ngành khác nhau nhữ: Du lich, lich sử, kinh tế. Sự phát tiển của các làng nghề truy thông thể hiện tính chuyên biệt và đặc trưng cho từng khu vục sẽ à nhân tổ tr tiếp và chủ yêu nhất đưa tới sự xuất hiện của các làng nghề đựa trên một số tiêu chí it dinh phân thành làng nghề truyền thống hay làng nghề mới, cụm công nghiệp làng nghề.
Nghề tuyên thống: là nghề được hình thành từ âu đồi, tạo ra những sản _m===s phẩm độc đáo, có tính riêng biệ, được lưu truyền và phát triển đến ngày nay hoặc đang có nguy cơ bị mai một, thất truyền. Nghề truyền thống phải đạt 3 tiêu chỉ su: “Thứ nhất. đã xuất hiện tại địa phương từ trên 50 năm, Thứ hai: tạo ra in phẩm mang bản sắc văn hóa dân tộc, Thứ ba phải gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tải của làng nghề. Làng nghề: "Làng nghề là một thiết chế kinh tế xã hội ở nông thôn, được cấu thành bởi hai yếu tổ àng và nghễ, ồn tại tong một không gian đị lý nhất định, trong đó bao gồm nhiều hộ gia đình sinh sống bằng nghề thủ công là chính, giữa họ sô mỗi liến kết về kính Ế, xã hội và văn hóa” [26] Khai nigm trên đã khẳng định làng nghề là một yếu tố quan trong trong xã hội tiểu nông, có những làng gắn với nông nghiệp và có những làng được chuyên.
môn hóa (những làng chuyên môn hóa thường gắn liễn với đô thị hay kinh đô hoặc. khu vực trung tâm và có mit dng Wop tho tha cong chuyên nghiệp, có cơ cấu tô chức phường hồi. Một khi niệm khác về làng nghề đó là “làng nghề là làng ở nông thôn có một hay một số nghề thủ công tách khỏi nông nghiệp và kinh doanh độc lập” 15] Khai niệm này đã nêu được hai yếu tố cơ bản cấu thành của làng nghề là làng và nghé, néu được vin đề về nghề trong làng tách ra khỏi nông nghiệp và kinh doanh. Theo đó, có thể hiểu đơn giản làng nghề là làng có hoạt động thủ công.
Song không phải bất cứ quy mô nào của nghề cũng đều được gọi làng đó là lang nghề. Làng được gọi là làng nghề khi các hoạt động thủ công nghiệp đủ lớn ở mức độ nào đó mang tính ôn định. Việc xác định quy mô nghề phải vừa xem xét bản thân hoạt động thủ công nghiệp vừa phải đặt nó trong quy mô làng về số hộ, số lao đồng, thụ nhập từ hoạt động kính tế của nghề “Trên cơ sở kế thừa tiếp thu các khái niệm nêu trên và quá trình nghiên cứu. của bản thân có thể hiểu: lòng nghề là làng ở nống thôn có một (hay một số) nghề thủ công hằu như được tách hẳn ra khỏi nông nghiệp, kinh doanh độc lập và đạt tới “mật tỷ lệ nhất định về lao động và thu nhập của lòng.
Tên gọi của làng nghề gắn liên với tên gọi của các nghề tnyễn thắng như: gốm sử, ươm tơ, dệt la, dệt vải, "Từ hai khái niệm nghề truyền thẳng và làng nghề đã đ cập ở trên, ta có thỄ hiểu: "Làng nghề truyền thống à làng có nghề truyền thẳng được hình thành từ lâu đồi. Làng nghề truyền thẳng phải dạ tiêu chỉ làng nghề và có ít nhất một nghề truyền thống Tuy nhiên, những làng chưa đại tiêu chí thứ nhất và thứ hai của làng nghề nhưng có ít nhất một nghề truyền thống được công nhận theo iêu chí trên thì vẫn được coi là làng nghề truyền thông [I8] 11. Làng nghề mới: Làng nghề mới là làng có nghề mới được hình thành và phát tiển Nếu chưa đạt chuẫn để công nhận làng nghề CN ~ TTCN nhưng có từ 15 hộ hay 40 lao động trở lên rong làng cùng lâm nghỉ thì được công nhận là làng nghề mới CN ~ TTCN để có biện pháp hỗ trợ phát tiển ngành nghề [1S] Trong những năm vừa qua, mặc đồ Nhà nước đã có những chủ trương, chính ách nhằm khôi phục và phát tiễn các làng nghề nhưng gần như các làng nghề còn hít tiễn tự phát, chưa có sự hỗ trợ hiệu quả và kiểm soát chật chẽ của Nhà nước. Hiện nay có nhiễu làng nghề không phát triển được và có nguy cơ mắt nghề, nhưng, cũng có một số làng nghề năng động đã đổi mới, hiển đại hóa sản xuất và đã trở thành các cụm công nghiệp làng nghề (CCNLN), đó thường là những khu vực tập.
trung nhiều doanh nghiệp, nhiễu tiềm năng sing tao, đổi mới và là nơi để nuôi dường, phát triển các doanh nghiệp chính thức vì thế các CCNLN nay cần phải .được quy hoạch và phát triển như một hệ thing sing too va sy dBi mới ở nông thôn `Vây cụm công nghiệp làng nghề là gì? 1. Cụm công nghiệp làng nghề: là một hệ thông sản xuất địa phương, được đặc trưng bởi sự tập trung theo địa lý các doanh nghiệp (bao gồm cả hộ gia đình tham gia sản xuất kinh doanh và các doanh nghiệp chính thức có đăng ký thành lập theo luật doanh nghiệp Việt Nam) sản xuất, kinh doanh và dịch vụ có sự chuyên môn hóa trong cùng một hoạt động hoặc một nhóm các hoạt động bổ trợ cho nhau. Sự tập trung theo địa lý của các doanh nghiệp đã tạo ra các thể ch thúc đây sự hình thành và phát tiển các mỗi quan hệ, sự hợp tíc và cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong cùng lĩnh thổ, đồng thời tạo ra mạng lưới các nhà cung cấp, mạng lưới khách, hàng và tạo ra sự đổi mới, các lợi chung cho các thành viên trong cùng lãnh thổ. Dic diém nghề truyền thẳng “rong hơn hai chục năm đổi mới, nền kính tế Vi Nam chuyển dần sang cơ chế thị trường và hội nhập quốc tẾ ngày cảng sâu rộng, các nghề truyền thông ở nước tađã có nhiều biến động.
Nhiễu nghề mới, mặt hàng mới, làng nghề mới hình thành gốp phần to lớn về kinh t- xã hội ở nông thôn và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, đồng thời vẫn mang năng ính chất nông nghiệp, nông thôn với những yêu tổ ich ove và hạn chế CCủng với các biện pháp khôi phục và phát iển các ngành nghề của Nhà nước và các địa phươngđã làm cho nghề truyền thống ở cả nước ổn định ở lạ và dẫn phát triển. Cụ thể nghề truyền thing va sy phat trién cia n6 bao gồm một số đặc cđiểm nỗi bật đưới đây. Phần lớn các nghề truyền thống vẫn tôn tại và lan toa rộng. "Mặc dù vẫn còn bị chỉ phối bởi yếu tố thị trường làm cho sản xuất không ổn định, số ít nghề bị mai một đi nên khó khăn lớn nhất mà các làng nghề truyền thống.
gấp phải là sản phẩm làm ra không cạnh tranh được trên thị trường, một điều có thể nhận thấy rõ nhất hiện nay là thực tế, các làng nghề truyền thống còn hoạt động, manh mún, sản phẩm làm ra chất lượng không cao và hiện đang có khá nhiều hộ đã phải chuyển nghề bởi không thể bám nghề sống được. Trước kia các nghề như dệt, rèn, đúc, tiên gỗ, gốm. là nơi thu hút rất lớn lượng lao động ở địa phương, người làm nghề có thu nhập tương đối khá và ổn định, hiện nay các nghề này dang din được khôi phục và phát triển tr lại với sức lan tỏa rộng lớn. Nehi dinh (66/NĐ-CP) về một số nội dung và chính sách phát triển ngành nghề nông thôn, Nhà nước có chương trình và dành kinh phí từ ngân sách hỗ trợ chương trình báo tổn, phát tin làng nghề trên địa bản, bao gằm: làng nghề truyền thắng, làng nghề gắn với du lịch, làng nghề mới.
Đây là một trong những tín hiệu đăng mừng cho những làng nghề đang có mong muốn khẳng định và phát huy các nghề truyền thống của mình để gìn giữ cho muôn đồi, song vẫn có thể đem lại thu nhập cho cuộc sống người dân. Và đây cũng là một biện pháp cứu nguy cho những làng nghề đang rên đà bị cơn lốc cơ chế thị trường làm cho mai một mà thay vào 44, làng nghề đang thay đổi nhanh chóng theo nễn kinh tế thị trường, các hoạt động sản xuất tiểu thủ công phục vụ tiêu dùng tong nước và xuất khẩu được tạo điều kiện phát triển. 9, Làng nghề ồn tại nhương sản xuất mặt hàng mới Một số nghề đã bị mai một hoặc mắt hẳn do hàng công nghiệp, hàng ngoại Tấn át không còn thị trường tiêu thụ, làng nghề tổn tại nhưng sản xuất các mặt hằng mới làm bản đẹp nuôi sống những nghề truyền thống hiện đang sản xuất cằm chừng. Những nghề mắt đi như nghề làm giấy sắc ở Nghĩa Đô, giấy dó Bưởi, Cầu Giấy (Hà Nội).
Có những nghề bị thu hẹp như nghề dát vàng, bạc ở Kiêu Ky (Gia Lâm, Hà Nội, nghề rên liém, di thủ công. ; nghề ươm tơ ở làng Thái Hào (Thái Thụy). nghề rè ở làng Hiền Lương (Phong Hiển = Huế), “Trước sự biển động của cơ chế thị trường chỉ còn số ÍL những cơ sở, làng nghề làm những mặt hàng cổ truyễn còn hầu hết các cơ sở, làng nghề khác đều phải làm thêm những mặt hàng mới để tăng thu nhập và tồn tại như Làng gốm Bát “Trăng, nghề làm đồ thờ tự ở làng Sơn Đồng (Hoài Đức ~ Hà Tây); nghề làm tranh Đông Hồ; Nghề làm giấy dó ở làng Dương Ô. “Trong tiêu thụ sản phẩm, các nghề truyền thống có xu hướng di chuyển ra thành tị nhất là các thành phố lớn và nước ngoài bằng các hình thúc đặt cơ sở sản xuất, mở đại ý bán hàng, xuất khẩu lao động.
Ví dụ, phố La Thành Hà Nội là nơi đặt eơ sở sản xuất của nghề mộc thuộc nhiề tỉnh trung vùng Nam Định, Thái Bình, Hà Tây, các huyện ngoại thành Hà Nội.