CHƯƠNG I : TỔNG QUAN VỀ NHTM VÀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG TRONG CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG 1.1 NHTM TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG .1 Kinh tế thị trường và những quy luật kinh tế cơ bản .1 Khái niệm nền kinh tế thị trường. Trong qúa trình phát triển của nhân loại, kinh tế thị trường xuất hiện như một yêu cầu khách quan của kinh tế hàng hóa. Tuy nhiên, không có sự đồng nhất giữa kinh tế thị trường và kinh tế hàng hóa. Về mặt lịch sử, kinh tế hàng hóa có trước kinh tế thị trường , kinh tế hàng hóa ra đời thì kinh tế thị trường cũng xuất hiện, nhưng không có nghĩa đó là nền kinh tế thị trường.
Với sự tăng trưởng của kinh tế hàng hóa, thị trường được mở rộng, phong phú và đồng bộ, các quan hệ thị trường tương đối hoàn thiện thì kinh tế thị trường mới xuất hiện. Như vậy, nền kinh tế hàng hóa không phải là một giai đoạn khác biệt, độc lập, đứng ngoài nền kinh tế hàng hóa mà là giai đoạn phát triển cao của nền kinh tế hàng hóa và vận động theo cơ chế thị trường .Sanullson và Nordhaw, cơ chế thị trường là một hình thức tổ chức kinh tế. Trong đó, cá nhân người tiêu dùng và các nhà kinh doanh tác động lẫn nhau qua thị trường để xác định ba vấn đề trung tâm của tổ chức kinh tế là sản xuất cái gì? như thế nào? và cho ai? Cơ chế thị trường không phải là sự hỗn hợp mà là một trật tự kinh tế. Trong hệ thống thị trường mỗi hàng hóa, mỗi loại dịch vụ đều có giá cả của nó , Giá cả là phương tiện tín hiệu của xã hội, nó chỉ cho người sản xuất cần biết phải sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? và sản xuất cho ai? Sự biến động của giá cả làm cho trạng thái cân bằng cung cầu thường xuyên biến đổi.
Tóm lại, nền kinh tế thị trường là nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, ở đó sản xuất cái gì, như thế nào, cho ai được quyết định thông qua thị trường. Trong nền kinh tế thị trường các quan hệ kinh tế của các cá nhân, các doanh nghiệp đều biểu hiện qua mua bán hàng hóa, dịch vụ trên thị trường. Thái độ cư xử của từng thành viên tham gia thị trường là hướng vào tìm kiếm lợi ích của chính mình theo sự dẫn dắt của giá cả thị trường. Nền kinh tế thị trường phải được hoạt động trong môi trường do các qui luật kinh tế khách quan chứa đựng trong bản thân nó chi phối .2 Những qui luật kinh tế cơ bản trong nền kinh tế thị trường.
Qui luật giá trị. Theo kinh tế học Macxit, ở đâu có sản xuất hàng hóa thì ở đó có sự hoạt động của qui luật giá trị. Yêu cầu của qui luật giá trị là sản xuất và trao đổi hàng hóa trên cơ sở hao phí thời gian lao động xã hội cần thiết. Còn trong lưu thông, việc trao đổi mua bán hàng hóa phải trên cơ sở ngang giá.
Tức là lấy hao phí lao động trong việc sản xuất ra hàng hóa làm căn cứ để trao đổi những giá trị sử dụng khác nhau. Tác động của qui luật giá trị là điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa ; kích thích cải tiến kỹ thuật, tăng năng suất lao động; thực hiện sự bình tuyển tự nhiên và phân hóa người sản xuất thành kẻ giàu, người nghèo. Qui luật cung cầu. Qui luật cung cầu là mối liên hệ tác động qua lại lẫn nhau giữa cung và cầu với việc hình thành giá cả.
Cầu là hình thức biểu hiện của nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ trên thị trường được đảm bảo bằng khối lượng tiền tệ và giá cả nhất định. Nói cách khác là nhu cầu có khả năng thanh toán, cung là khối lượng hàng hóa và dịch vụ mà các chủ doanh nghiệp mang ra thị trường với giá cả nhất định, hoặc cung là số hàng hóa có khả năng thực tế cung cấp cho thị trường. Tác dụng của qui luật cung cầu là điều tiết sản xuất, lưu thông và tiêu dùng; làm biến đổi dung lượng và cơ cấu thị trường, kích thích tiến bộ và phân công lao động; quyết định giá cả thị trường. Qui luật cạnh tranh.
Cạnh tranh là giành giật những điều kiện thuận lợi để chiếm ưu thế trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. các nhà kinh tế đã phân tích thị trường thành những loại cạnh tranh như cạnh tranh hoàn hảo; độc quyền; cạnh tranh không hoàn hảo; cạnh tranh độc quyền. Tác động của qui luật cạnh tranh là sử dụng các nguồn tài nguyên một cách tối ưu; khuyến khích tiến bộ kỹ thuật; làm tăng thu nhập do đạt lợi nhuận cao; thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng; tạo nên sự linh hoạt trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Tóm lại : Thông qua các nội dung trong khái niệm và những quy luật kinh tế của nền kinh tế thị trường, cho thấy nền kinh tế thị trường có khả năng tập hợp tự động được hành động, trí tuệ và tiềm lực của con người và hướng đến lợi ích chung của xã hội, từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng năng suất lao động và hiệu qủa sản xuất.
Nền kinh tế thị trường bằng những quy luật kinh tế cơ bản của nó hầu như chi phối toàn bộ các hoạt động kinh tế của các doanh nghiệp , trong tất cả các lĩnh vực, trong đó có các lĩnh vực kinh doanh tiền tệ của các NHTM .2 Định nghĩa NHTM. Trong lịch sử phát triển của hệ thống ngân hàng, NHTM (Commercial Bank) đã hình thành và phát triển gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hoá, sự phát triển của NHTM đã có tác động rất lớn và quan trọng đến qúa trình phát triển của kinh tế hàng hóa, ngược lại kinh tế hàng hóa phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao nhất của nó là kinh tế thị trường thì NHTM cũng ngày càng được hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính trung gian không thể thiếu được trong hệ thống kinh tế toàn xã hội. Các nhà kinh tế học, các nhà quản lý kinh tế đã đưa ra nhiều khái niệm về NHTM, cụ thể như sau : Theo Smishkin Ngân hàng là tổ chức tài chính nhận tiền gửi và chovay tiền. Theo luật ngân hàng của Thổ Nhĩ Kỳ:” NHTM là Hội trách nhiệm hữu hạn thiết lập nhằm mục đích nhận tiền ký thác và thực hiện các nghiệp vụ hối đoái, nghiệp vụ hối phiếu, chết khấu và những hình thức vaymượn hay tín dụng khác“ Theo luật ngân hàng của Pháp năm 1941:” NHTM là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác hoặc dưới dạng hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ vào nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính“.
Như vậy, có thể nói rằng NHTM là định chế tài chính trung gian quan trọng vào loại bậc nhất trong nền kinh tế thị trường. Nhờ hệ thống định chế tài chính này mà các nguồn tiền vốn nhàn rỗi sẽ được huy động, tạo lập nguồn vốn tín dụng to lớn để có thể cho vay phát triển kinh tế. Theo pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính của Việt Nam được công bố ngày 24/05/1990 : “ Ngân hàng là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gởi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện các nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán “. Theo luật các tổ chức tín dụng công bố ngày 12/12/1997, tại điều 20 khoản 2:” Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan.
Theo tính chất và mục tiêu hoạt động , các loại hình ngân hàng gồm có ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển , ngân hàng đầu tư , ngân hàng chính sách , ngân hàng hợp tác xã và các loại hình ngân hàng khác “. Mặc dù các định nghĩa trên có khác nhau về cách thể hiện nhưng giữa chúng không có sự mâu thuẩn, có thể rút ra định nghĩa chung về NHTM như sau“Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán.3 Chức năng của NHTM. Thông qua qúa trình hoạt động, NHTM thực hiện các chức năng sau : 1.1 Chức năng trung gian tín dụng. Đây là chức năng đặc trưng và cơ bản nhất của ngân hàng và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế hàng hóa phát triển.
Thực hiện chức năng này, một mặt NHTM huy động vốn tập trung các nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế trong các tổ chức kinh tế , cơ quan, đoàn thể, tiền tiết kiệm của dân cư .để hình thành nguồn vốn cho vay, mặt khác trên cơ sở nguồn vốn đã huy động được, ngân hàng sử dụng cho vay đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế 1.2 Chức năng làm trung gian thanh toán và quản lý các phương tiện thanh toán. Trong chức năng này, xuất phát từ việc ngân hàng là người thủ qũy của các doanh nghiệp , khiến cho ngân hàng có thể thực hiện các dịch vụû thanh toán theo sự ủy nhiệm của khách hàng. Trong qúa trình thanh toán ngân hàng đã sử dụng giấy bạc ngân hàng thay cho vàng trong lưu thông, và sau đó là sử dụng những công cụ lưu thông tín dụng thay cho giấy bạc ngân hàng 1.3 Chức năng cung cấp dịch vụ tài chính ngân hàng. Trong quá trình thực hiện nghiệp vụ tín dụng và ngân qũy, ngân hàng có những điều kiện thuận lợi về kho qũy, thông tin quan hệ rộng rãi với các doanh nghiệp.
Qua đó, ngân hàng có thể làm tư vấn tài chính, đầu tư, giữ hộ giấy tờ, chứng khoán, làm đại lý phát hành cổ phiếu, trái phiếu, trái khoản cho các doanh nghiệp để nhận tiền hoa hồng, sẽ vừa tiết kiệm chi phí vừa đạt hiệuqủa cao , Còn trong qúa trình tham gia thị trường tiền tệ dưới hình thức mua bán các chứng khoán, phát hành và bán các cổ phiếu, mua bán số dư trên tài khoản tại ngân hàng Nhà nước .