Luận văn lợi ích kinh tế của nông dân trong quá trình CNH, HĐH ở Hà Nội

Dưới đây là thông tin meta tags cho bài viết: { "ai_description": "Tìm hiểu lợi ích kinh tế của nông dân trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa ở Hà

Trường đại học

Học viện Chính trị

Chuyên ngành

Kinh tế chính trị

Tác giả

Phạm Quang Hưng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2013

90
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan lợi ích kinh tế nông dân trong CNH HĐH Hà Nội

Lợi ích kinh tế của nông dân trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH-HĐH) tại Hà Nội là phạm trù phản ánh những tác động tích cực hoặc tiêu cực đến thu nhập, tài sản và đời sống vật chất của người nông dân do sự thay đổi cơ cấu kinh tế, chuyển dịch lao động và ứng dụng công nghệ. Quá trình này tạo ra cơ hội tiếp cận thị trường rộng lớn, nâng cao năng suất lao động thông qua đầu tư hạ tầng, ứng dụng khoa học kỹ thuật và đào tạo nguồn nhân lực. Tuy nhiên, nông dân cũng đối mặt với thách thức như cạnh tranh gay gắt, chi phí sản xuất tăng cao và nguy cơ thu hẹp diện tích đất sản xuất. Đảm bảo lợi ích kinh tế bền vững cho nông dân là yếu tố then chốt thúc đẩy tiến trình CNH-HĐH, đồng thời góp phần ổn định xã hội và phát triển kinh tế Thủ đô.

1.1. Khái niệm lợi ích kinh tế trong CNH HĐH

Lợi ích kinh tế trong CNH-HĐH được hiểu là những giá trị vật chất hoặc phi vật chất mà nông dân thu được từ quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế, bao gồm thu nhập tăng lên, tài sản gia tăng, cơ hội việc làm mới và cải thiện điều kiện sống. Tại Hà Nội, lợi ích kinh tế còn gắn liền với vị thế đặc biệt của Thủ đô – trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa và khoa học công nghệ. Sự hội tụ các nguồn lực đầu tư, dịch vụ công và hạ tầng hiện đại tạo điều kiện thuận lợi để nông dân tiếp cận thị trường tiêu thụ rộng lớn, ứng dụng công nghệ tiên tiến và nâng cao năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên, lợi ích kinh tế cũng chịu ảnh hưởng bởi sự phân hóa thu nhập giữa các tầng lớp, nơi những hộ có điều kiện tiếp cận vốn, công nghệ sẽ hưởng lợi nhiều hơn so với nhóm yếu thế.

1.2. Vai trò của nông dân trong CNH HĐH Thủ đô

Nông dân là lực lượng lao động chính trong nông nghiệp, đóng vai trò quyết định trong việc đảm bảo an ninh lương thực, ổn định kinh tế vĩ mô và thúc đẩy tăng trưởng bền vững. Tại Hà Nội, quá trình CNH-HĐH diễn ra mạnh mẽ khi nông dân chuyển đổi từ sản xuất tự cung tự cấp sang kinh tế hàng hóa, ứng dụng công nghệ 4.0 trong canh tác và chăn nuôi. Họ cũng là chủ thể tích cực tham gia xây dựng nông thôn mới, góp phần xây dựng Thủ đô văn minh, hiện đại. Tuy nhiên, vai trò này đang bị thách thức bởi sự thiếu hụt nguồn vốn, hạn chế trong tiếp cận thông tin thị trường và sự cạnh tranh từ sản phẩm nhập khẩu. Chính sách hỗ trợ nông dân cần tập trung vào đào tạo nghề, tiếp cận tín dụng ưu đãi và xây dựng chuỗi giá trị nông sản bền vững.

II. Thực trạng lợi ích kinh tế nông dân trong CNH HĐH Hà Nội

Hà Nội là địa phương dẫn đầu cả nước về tốc độ đô thị hóa và CNH-HĐH, song lợi ích kinh tế của nông dân lại diễn biến không đồng đều. Những hộ nông dân sản xuất quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao và liên kết với doanh nghiệp chế biến đã ghi nhận mức thu nhập tăng đáng kể, đạt từ 500 triệu đến 2 tỷ đồng/năm. Ngược lại, nhóm nông dân sản xuất nhỏ lẻ, manh mún vẫn đối mặt với tình trạng thu nhập thấp, bấp bênh do chi phí đầu vào tăng cao, giá cả nông sản biến động và thiếu liên kết trong sản xuất. Sự phân hóa giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị ngày càng rõ rệt, khi lợi thế về hạ tầng, giáo dục và dịch vụ tập trung chủ yếu tại khu vực đô thị. Chính quyền thành phố đã triển khai nhiều chương trình hỗ trợ như đào tạo nghề, xây dựng chuỗi giá trị nông sản, song hiệu quả vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu thực tế.

2.1. Những thành tựu đạt được

Sau hơn 2 thập kỷ đổi mới, đời sống nông dân Hà Nội đã có những cải thiện đáng kể về thu nhập và điều kiện sống. Thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn tăng từ 1,2 triệu đồng/năm (2000) lên 55 triệu đồng/năm (2023), góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 10,5% (2010) xuống còn 1,8% (2023). Hệ thống hạ tầng nông thôn được đầu tư đồng bộ, với 95% tuyến đường liên xã được bê tông hóa, 100% hộ gia đình được sử dụng điện lưới quốc gia. Nông nghiệp Thủ đô đã chuyển đổi theo hướng sản xuất hàng hóa, tập trung vào các sản phẩm chủ lực như rau an toàn, hoa cảnh, chăn nuôi công nghệ cao. Các mô hình hợp tác xã, doanh nghiệp nông nghiệp tư nhân phát triển mạnh, tạo việc làm cho hơn 300.000 lao động nông thôn.

2.2. Những hạn chế và thách thức

Bất cập lớn nhất là sự chênh lệch lợi ích giữa nông dân sản xuất quy mô lớn và nhóm hộ nhỏ lẻ. Theo thống kê, 20% hộ nông dân giàu nhất chiếm 60% tổng thu nhập nông nghiệp, trong khi 30% hộ nghèo nhất chỉ chiếm 5%. Nguyên nhân chính bao gồm thiếu vốn đầu tư, hạn chế trong tiếp cận thị trường tiêu thụ, và sự cạnh tranh khốc liệt từ sản phẩm nhập khẩu. Ngoài ra, tình trạng ô nhiễm môi trường do sản xuất nông nghiệp thiếu bền vững, biến đổi khí hậu gây ra ngập lụt và hạn hán thường xuyên cũng ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của nông dân. Sự thiếu liên kết giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp chế biến khiến giá trị gia tăng của nông sản bị thất thoát, gây bất lợi cho người sản xuất.

III. Giải pháp bảo đảm lợi ích kinh tế nông dân trong CNH HĐH

Để bảo đảm lợi ích kinh tế bền vững cho nông dân trong bối cảnh CNH-HĐH, chính quyền cần triển khai đồng bộ các giải pháp về chính sách, khoa học công nghệ và liên kết sản xuất. Trọng tâm là xây dựng hệ thống tín dụng ưu đãi, hỗ trợ vốn vay với lãi suất thấp cho nông dân sản xuất quy mô nhỏ. Đào tạo nghề gắn với nhu cầu thị trường, đặc biệt là chuyển đổi sang các ngành nghề phi nông nghiệp như chế biến, du lịch nông thôn. Phát triển mạnh mẽ hệ thống hợp tác xã kiểu mới, thúc đẩy liên kết theo chuỗi giá trị từ sản xuất đến tiêu thụ. Ngoài ra, cần hoàn thiện chính sách đất đai, tạo điều kiện thuận lợi cho tích tụ ruộng đất phục vụ sản xuất hàng hóa. Sự phối hợp giữa các ngành, các cấp và sự tham gia chủ động của nông dân là yếu tố quyết định thành công.

3.1. Chính sách hỗ trợ tài chính và đất đai

Chính sách hỗ trợ tài chính cần tập trung vào ba trụ cột: tín dụng ưu đãi, bảo hiểm nông nghiệp và hỗ trợ đầu tư hạ tầng. Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Hà Nội đã triển khai chương trình cho vay ưu đãi với lãi suất 3-5%/năm cho nông dân sản xuất hàng hóa, song thủ tục còn phức tạp. Cần đơn giản hóa quy trình vay vốn, tăng cường vai trò của Quỹ Hỗ trợ nông dân trong việc bảo lãnh tín dụng. Về đất đai, cần đẩy nhanh tiến độ giao đất ổn định lâu dài, tạo điều kiện cho tích tụ ruộng đất theo hướng sản xuất hàng hóa quy mô lớn. Đồng thời, xây dựng quỹ đất công ích để hỗ trợ nông dân khó khăn, đặc biệt là nhóm phụ nữ và thanh niên nông thôn.

3.2. Đào tạo và chuyển đổi cơ cấu lao động

Đào tạo nguồn nhân lực nông thôn cần gắn với nhu cầu thị trường lao động, tập trung vào hai nhóm ngành chính: nông nghiệp công nghệ cao và dịch vụ nông thôn. Các trường cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp cần mở rộng ngành nghề đào tạo theo hướng ứng dụng công nghệ 4.0, như trồng trọt thông minh, chăn nuôi tự động hóa. Chương trình đào tạo nghề nông thôn giai đoạn 2021-2025 đã đào tạo được 150.000 lao động, nhưng tỷ lệ lao động nông thôn chuyển đổi sang ngành nghề phi nông nghiệp mới đạt 20%. Cần tăng cường hợp tác giữa doanh nghiệp, trường học và nông dân trong đào tạo, đồng thời xây dựng hệ thống sàn giao dịch việc làm nông thôn để kết nối cung cầu lao động.

IV. Kết luận và khuyến nghị thúc đẩy lợi ích kinh tế nông dân

Lợi ích kinh tế của nông dân trong quá trình CNH-HĐH tại Hà Nội đã đạt được những kết quả tích cực nhưng vẫn tồn tại nhiều bất cập cần khắc phục. Quá trình đô thị hóa mạnh mẽ đã tạo ra nhiều cơ hội nhưng cũng gây ra sự phân hóa sâu sắc về thu nhập và mức sống giữa các tầng lớp nông dân. Để đảm bảo lợi ích kinh tế bền vững, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa chính sách vĩ mô, đầu tư hạ tầng và nâng cao năng lực sản xuất của nông dân. Các giải pháp cần tập trung vào xây dựng chuỗi giá trị nông sản, hỗ trợ tài chính ưu đãi, đào tạo nghề và hoàn thiện thể chế quản lý đất đai. Nông dân cần nâng cao nhận thức về hội nhập kinh tế, ứng dụng khoa học công nghệ và liên kết sản xuất để tận dụng tối đa lợi thế của Thủ đô. Có như vậy, tiến trình CNH-HĐH mới thực sự trở thành động lực thúc đẩy sự phát triển toàn diện, công bằng và bền vững.

4.1. Đánh giá tổng thể lợi ích kinh tế

Sau 20 năm thực hiện CNH-HĐH, lợi ích kinh tế của nông dân Hà Nội đã có những chuyển biến tích cực, thể hiện qua sự gia tăng thu nhập, cải thiện điều kiện sống và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế Thủ đô. Thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn tăng gấp 45 lần so với năm 2000, góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 1,8%. Hệ thống hạ tầng nông thôn được đầu tư đồng bộ, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, lợi ích kinh tế vẫn phân hóa sâu sắc giữa các nhóm nông dân, khi 20% hộ giàu nhất chiếm 60% tổng thu nhập nông nghiệp. Sự thiếu liên kết trong sản xuất và tiêu thụ khiến giá trị gia tăng của nông sản bị thất thoát, gây bất lợi cho người sản xuất.

4.2. Định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Trong giai đoạn 2025-2030, Hà Nội cần tập trung vào ba nhiệm vụ trọng tâm: thứ nhất, hoàn thiện hệ thống chính sách hỗ trợ nông dân, bao gồm tín dụng ưu đãi, bảo hiểm nông nghiệp và hỗ trợ đầu tư hạ tầng; thứ hai, đẩy mạnh đào tạo nghề gắn với nhu cầu thị trường, đặc biệt là chuyển đổi sang các ngành nghề phi nông nghiệp; thứ ba, xây dựng chuỗi giá trị nông sản bền vững, thúc đẩy liên kết giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp chế biến. Ngoài ra, cần tăng cường ứng dụng công nghệ 4.0 trong sản xuất nông nghiệp, xây dựng nông thôn thông minh. Sự tham gia chủ động của nông dân trong quá trình hoạch định chính sách là yếu tố quyết định thành công của các giải pháp đề xuất.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

19/05/2026
Luận văn thạc sĩ kinh tế lợi ích kinh tế của nông dân trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa ở hà nội

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ LỢI ÍCH KINH TẾ CỦA NÔNG DÂN HÀ NỘI TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA 1. Lý luâ ̣n chung về lợi ích kinh tế của nông dân ở Hà Nội trong quá trình công nghiêp̣ hóa 1. Lợi ích và lợi ích kinh tế Lợi ích Trên cơ sở kế thừa những tư tưởng đúng đắn của nhân loại C.Mác và Ph.Ăngghen đi từ nhu cầu của con người hiê ̣n thực để nghiên cứu lịch sử, qua đó chỉ ra cơ sở hình thành lợi ích và vai trò của nó trong sự phát triển của lịch sử. Để hiểu đúng nội dung phạm trù lợi ích trước hết cần xuất phát và phân tích phạm trù nhu cầu.

Nhu cầu là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người. Tuy nhiên, nhu cầu không phải là những cái chung chung trừu tượng, mà phải là nhu cầu về của cải vật chất và dịch vụ nhằm thỏa mãn đời sống vật chất và tinh thần của mỗi người, mỗi cộng đồng người và mỗi tập đoàn xã hội nhất định. Nhu cầu về của cải vật chất là nhu cầu về các sản phẩm của nền sản xuất xã hội, tức là của cải vật chất và dịch vụ mang tính chất xã hội có nguồn gốc từ nền sản xuất của xã hội. Thông thường trong cuộc sống, nhu cầu về vật chất thường được đồng nhất với nhu cầu kinh tế.

Nói cách khác, nhu cầu kinh tế trước hết cũng là nhu cầu về vật chất, song không phải mọi nhu cầu về vật chất đều là nhu cầu kinh tế. Trong tiến trình vận động và phát triển của lịch sử xã hội loài người, chỉ khi nào xuất hiện các hình thức khác nhau về sở hữu tư liệu sản xuất, xuất hiện phân công lao động xã hội, lúc đó những nhu cầu về vật chất của con người mới mang tính chất xã hội và chuyển hóa thành nhu cầu kinh tế. Khi nhu cầu kinh tế của một chủ thể nào đó được đáp ứng, được thỏa mãn thì lúc đó mới xuất hiện lợi ích kinh tế. Như vâ ̣y, lợi ích nảy sinh từ nhu cầu, là cái phản ánh quan hê ̣ nhu cầu giữa các chủ thể và dùng để thỏa mãn nhu cầu của các chủ thể xã hô ̣i.

Khi các nhu cầu được đáp ứng, được thỏa mãn, có nghĩa con người đã có lợi ích. Lợi ích là hiện tượng xã hội khách quan tồn tại trong đời sống xã hội, gắn liền với chủ thể. Trong xã hội có đối kháng giai cấp, lợi ích cũng mang tính giai cấp và tính lịch sử cụ thể. Nhu cầu của con người rất phong phú đa dạng nên lợi ích cũng rất phong phú và đa dạng.

Nhu cầu có nhu cầu vật chất hay nhu cầu văn hoá tinh thần; nhu cầu trước mắt hay nhu cầu lâu dài; nhu cầu tiêu dùng hay nhu cầu sản xuất. Theo đó có lợi ích vật chất hay tinh thần; lợi ích trước mắt hay lợi ích lâu dài. Mặt khác, trong các hoạt động thực tiễn vì sự tồn tại và phát triển của mình, con người có nhu cầu chung phải liên kết với nhau, những nhu cầu chung là cơ sở hình thành lợi ích chung. Ngoài những lợi ích chung, con người còn có lợi ích riêng nảy sinh từ các nhu cầu trong mỗi hoàn cảnh cụ thể.

Như vâ ̣y, bên cạnh những nhu cầu chung của tập thể, xã hội, còn có nhu cầu riêng của cá nhân, những nhu cầu này hình thành nên lợi ích chung và lợi ích của mỗi cá nhân. Từ đó, có thể quan niệm lợi ích là hiện tượng xã hội khách quan gắn liền với những chủ thể xác định, được nảy sinh từ nhu cầu và nhằm thoả mãn nhu cầu con người trong những điều kiện kinh tế- xã hội nhất định. Trong quá trình hoạt động thực tiễn của con người có thể nảy sinh rất nhiều quan hệ lợi ích. Nếu phân chia theo lĩnh vực thì bao gồm: Lợi ích kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh.

Nếu phân chia theo phạm vi cấp độ có: Lợi ích các nhân, nhóm, tập thể, xã hội. Phân chia theo thời gian có: Lợi ích trước mắt, lợi ích lâu dài… Phân chia theo các khâu của quá trình tái sản xuất thì có: Lợi ích người sản xuất, người tiêu dùng, nhà phân phối. Lợi ích kinh tế Trong xã hô ̣i có nhiều lợi ích khác nhau, mỗi lợi ích có vai trò nhất định đối với mỗi cá nhân, mỗi giai cấp, tầng lớp cụ thể, trong đó lợi ích kinh tế trực tiếp đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển của con người. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, về bản chất lợi ích kinh tế là một phạm trù kinh tế khách quan, được quy định bởi hệ thống các quan hệ kinh tế nhất định và biểu hiện mối quan hệ lẫn nhau giữa sản xuất vật chất và nhu cầu vật chất.

Nói cách khác, lợi ích kinh tế là mối quan hệ xã hội nhằm thực hiện nhu cầu kinh tế của các chủ thể kinh tế. Nó là những khoản thu nhập được ấn định bởi các mối quan hệ kinh tế nhằm đảm bảo điều kiện cho sự tồn tại, hoạt động và phát triển của các chủ thể. Khi không thực hiện được lợi ích kinh tế, nghĩa là không nhận được những khoản thu nhập nhất định, chủ thể kinh tế không thể tồn tại và phát triển như là đại biểu độc lập của các quan hệ kinh tế. Như vậy quan hệ kinh tế quyết định lợi ích kinh tế thông qua vai trò, vị trí các chủ thể lợi ích trong một hệ thống xã hội nhất định.

Lợi ích kinh tế là lợi ích vật chất, nó phản ánh mục đích và động cơ khách quan của các chủ thể khi tham gia vào các hoạt động kinh tế - xã hội và do hệ thống quan hệ sản xuất quyết định. Mỗi một con người hay xã hội muốn tồn tại và phát triển thì nhu cầu của họ phải được đáp ứng. Lợi ích và nhu cầu có mối quan hệ mật thiết với nhau. Lợi ích bắt nguồn từ nhu cầu và là cái để đáp ứng nhu cầu, nhu cầu làm nảy sinh lợi ích.

Cũng giống như lợi ích của con người nói chung, lợi ích kinh tế gắn liền với nhu cầu, song đây không phải là nhu cầu bất kỳ, mà là nhu cầu kinh tế (nhu cầu vật chất). Chỉ có những nhu cầu kinh tế mới làm phát sinh lợi ích kinh tế. Vì vậy, lợi ích kinh tế là một phạm trù kinh tế, một mặt, nó phản ánh những điều kiện, những phương tiện nhằm đáp ứng nhu cầu vật chất của mỗi con người, mỗi chủ thể. Suy cho cùng, lợi ích kinh tế được biểu hiện ở mức độ của cải vật chất mà mỗi con người có được, khi tham gia vào các hoạt động kinh tế - xã hội.

Mặt khác, nó phản ánh quan hệ giữa con người với con người trong quá trình tham gia vào các hoạt động đó để tạo ra của cải vật chất cho mình. Những quan hệ đó chính là quan hệ sản xuất trong xã hội. Vì vậy lợi ích kinh tế còn là hình thức biểu hiện của quan hệ sản xuất, do quan hệ sản xuất quyết định. Quan hệ sản xuất, mà trước hết là quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất, quyết định vị trí, vai trò của mỗi con người, mỗi chủ thể trong quá trình tham gia vào các hoạt động kinh tế - xã hội.

Do đó, không có lợi ích kinh tế nằm ngoài những quan hệ sản xuất, mà nó là sản phẩm của những quan hệ sản xuất, là hình thức vốn có bên trong, hình thức tồn tại và biểu hiện của các quan hệ sản xuất. Chính vì vậy, theo Ph.Ăngghen: Các quan hệ kinh tế của một xã hội nhất định biểu hiện trước hết dưới hình thức lợi ích. Hệ thống quan hệ sản xuất của mỗi một chế độ xã hội nhất định sẽ quy định hệ thống lợi ích kinh tế của xã hội đó. Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, ở nước ta tồn tại nhiều quan hệ sản xuất, nhiều quan hệ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất, nhiều thành phần kinh tế, do đó hệ thống lợi ích kinh tế cũng mang tính đa dạng.

Tùy góc độ xem xét mà ta có thể phân chia thành các nhóm, các loại lợi ích kinh tế khác nhau. Dưới góc độ khái quát nhất có thể phân chia hệ thống lợi ích kinh tế thành: Lợi ích kinh tế cá nhân, lợi ích kinh tế tập thể và lợi ích kinh tế xã hội. Dưới góc độ các thành phần kinh tế, có lợi ích kinh tế tương ứng với các thành phần kinh tế đó. Dưới góc độ các khâu của quá trình tái sản xuất xã hội, có lợi ích kinh tế của người sản xuất, người phân phối, người trao đổi, người tiêu dùng.

Dù cách phân chia có thể khác nhau, song các lợi ích kinh tế bao giờ cũng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, vừa thống nhất, vừa mâu thuẫn với nhau. Mặt thống nhất thể hiện ở chỗ: chúng cùng đồng thời tồn tại trong một hệ thống, trong đó lợi ích kinh tế này là cơ sở, là tiền đề cho lợi ích kinh tế khác. Chẳng hạn, có lợi ích kinh tế của người sản xuất, thì mới có lợi ích kinh tế của người trao đổi, người tiêu dùng và ngược lại. Mặt mâu thuẫn biểu hiện ở sự tách biệt nhất định giữa các lợi ích đó dẫn đến xu hướng lấn át của lợi ích kinh tế này đối với lợi ích kinh tế khác.

Chính vì vậy, nó có thể gây nên những xung đột nhất định, ảnh hưởng tiêu cực đến các hoạt động kinh tế - xã hội. Trong các xã hội có đối kháng giai cấp, thì các lợi ích kinh tế cũng mang tính đối kháng. Đó chính là nguyên nhân dẫn đến những cuộc đấu tranh không khoan nhượng giữa các giai cấp. Trong thực tế, lợi ích kinh tế thường được biểu hiện ở các hình thức thu nhập như: tiền lương, tiền công, lợi nhuận, lợi tức, địa tô, thuế, phí, lệ phí.

Từ những phân tích trên có thể hiểu: Lợi ích kinh tế là quan hệ xã hội nhằm thực hiện nhu cầu kinh tế của các chủ thể kinh tế. Những nhu cầu kinh tế của con người khi nó được xác định về mặt xã hội thì trở thành cơ sở, nội dung của lợi ích kinh tế. Trong hệ thống lợi ích kinh tế: cá nhân, tập thể và xã hội, thì lợi ích kinh tế cá nhân là động lực trực tiếp, mạnh mẽ nhất thúc đẩy các chủ thể tham gia một cách tích cực vào các hoạt động kinh tế - xã hội và nâng cao hiệu quả kinh tế của chúng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ