mở đầu cho việc xây dựng các lý thuyết xã hội học về di dân, được E.G Ravenstein (1885) phát triển và thể hiện dưới các quy luật di dan có liên quan đến quy mô dân số, mật độ khoảng cách di dân. Cụ thể là: Phần lớn các cuộc di dân ra với khoảng cách ngắn, quy mô di dân tỷ lệ thuận với dân số gốc nơi người dân ra đi, đối với dòng di dân đều tồn tại những dòng di chuyển ngược để bù đắp lại, động lực chính của di dân là động cơ. Nghĩa là lý thuyết này đã chỉ ra nguyên nhân mà lao động nhập cư tới các đô thị từ nông thôn nghèo khó[23]. Những năm sau đó, dựa trên các quy luật của di đân nói trên của Ravenstein người ta đã xây dựng và phát triển sâu thêm những lý thuyết di dân mới như lý 4 thuyết lực hấp dẫn xem xét mối quan hệ nghịch giữa số người di chuyển và khoảng cách di chuyển[20], hoặc lý thuyết cơ hội sống, cho rằng khoảng cách cơ học không có ý nghĩa quan trọng, người di dân lựa chọn nơi định cư tại nơi có cơ hội cuộc sống dễ chấp nhận được, cho dù khoảng cách di chuyển có thẻ lớn[22].
Cùng với lý thuyết của Ravenstein[24], những nghiên cứu về di dân sau này còn dựa trên cơ sở lý thuyết hai khu vực của Lewis (1954). Trong lý thuyết này, nền kinh tế có hai khu vực, khu vực nông nghiệp nơi lực lượng lao động đang khốn khổ vì thất nghiệp và thiếu việc làm và khu vực công nghiệp nơi nhiều cơ hội vis làm đang được tạo ra và cũng đang khó khăn vì iéu lao động. Trong khu vực nông nghiệp năng suất lao động rất thấp và lao động được trả lương thấp, trong khi đó ở thành thị trong ngành công nghiệp có mức lương rất cao. biệt trong thu nhập đã khuyến khích di chuyển của lao động từ nông thôn ra thành thị qua đó làm tăng lao động nhập cư tại các đô thị[21].
Hơn nữa, trong phân tích của Lewis các nhân tố chính phủ cũng quan trong trong việc giải thích sự gia tăng mức lương ở thành thị ở các nước đang phát triển. Tuy nhiên, đóng góp lớn nhất trong lĩnh vực di dân đã thuộc về mô hình của Harris-Todaro (1970). Mô hình của ông tập trung vào phạm vi các nước đang phát triển, ở đó đang tồn tại dòng lao động nhập cư từ nông thôn vào thành thị, nhưng cách tiếp cận này có thể ứng dụng với di dân nói chung cả hai mặt di dân nội vùng và quốc tế[17]. Mô hình tân cổ điển được phát triển trong mô hình Harris-Todaro mà trong đó di chuyển lao động có nguyên nhân từ khác biệt địa lý trong cung cầu lao động.
Di chuyên lao động xảy ra giữa các vùng bởi chênh lệch tiền lương và việc làm giữa chúng. Những vùng thiế lao động thường có mức lương cao sẽ thu hút dòng lao động nhập cư lớn từ các vùng có mức lương thấp[12]. Harris và Todaro cho rằng quyết định di chuyển kết hợp những kỳ vọng của những người di cư tiềm năng về khả năng thu nhập mà cho phép họ có thu nhập cao hơn nhờ đó mà cuộc sống khá hơn. Họ cũng cho rằng những diễn biến ấy là vì những người di dân mong chờ họ có thể nhận được việc làm tốt và có thu nhập cao và vì vậy họ chấp nhận thất nghiệp hay thiếu việc để chờ đợi cơ hội việc làm tốt trong tương lai.
Những lập luận này giải thích dòng lao động nhập cư lớn từ nông thôn ra thành thị, những người này đến các thành thị và ra nhập vào đội quân thất ngh Mô hình Harris-Todaro là cơ sở cho mô hình kinh tế ï mô về di dân của Borjas (1990). Borjas (1994) khi nghiên cứu hiện tượng di dân vào nước Mỹ đã chỉ ra những ảnh hưởng tích cực của lao động nhập cư tới thị trường lao động mà họ đến. Ông cũng đưa ra khái niệm lao động bổ sung nếu những người dĩ cư tới giúp gia tăng năng suất và tiền lương ở nơi và lao động thay thế tác đông của họ làm giảm cầu lao động và giảm tiền lương ở đây[13]. Vì vậy, khuyến khích thu hút người nhập cư là lao động bổ sung cho vùng cần.
Những đóng góp của người nhập cư đối với những nơi đến được thể hiện không chỉ bằng giúp tăng năng suất lao động mà do người nhập cư nhận mức lương thấp hơn và do đó đóng góp vào lợi ích chung của nơi mà họ đến, đồng thời họ cũng. đóng góp cho nơi mà họ đi[11] Trong nước Ở Việt Nam đã có một số nghiên cứu về di dân, chẳng hạn nghiên cứu của Đặng Nguyên An và nhóm tác giả năm 1997, 2003 và 2006, Đỗ Văn Hoà và Trịnh Khắc Thắm năm 1999, Đỗ Văn Hoà năm 2000, Vũ Quốc Huy năm 2003, Củ Chí Lợi năm 2004 và Lê Thanh Sang năm 2004. Những nghiên cứu này đã tập trung nghiên cứu những yếu tố và đặc trưng cơ bản của hiện tượng di dân ở Việt Nam. Đồng góp quan trọng nhất của nhóm Đặng Nguyên An năm 1997 khi họ sử dụng số liệu điều tra dân số Việt Nam năm 1989 để ước lượng sự di dân phản ứng thế nào với cơ hội thị trường nói chung và dòng lao động nhập cư nói riêng.
Nghiên cứu nảy cũng cho thấy sự thống nhất đất nước dẫn tới phân bổ lại dân cư và chính sách kinh tế mới ở nông thôn trong quá trình đổi mới và những thay đổi cơ cấu vĩ mô đã ảnh hương lớn tới thị trường lao động và góp phần trực tiếp thúc đây di dân mạnh hơn [14]. Ngoài ra những phát hiện của nhóm này từ phân tích đa biến chỉ ra rằng những tỉnh có trình độ phát triển kinh tế xã hội cao hơn sẽ hấp dẫn những người nhập cư; vì vậy, chính sách của chính quyền không khuyến khích sự di dân giữa các tỉnh thành phố. 6 Sau đó năm 2003, nhóm Đăng Nguyên An trên cơ sở áp dụng phân tích thống kê để ước lượng các nhân tố ảnh hưởng tới tình trang di cư nội địa do khác biệt giữa các nhân tố kinh tế xã hội vĩ mô và tính chất đặc thù như mức tiền lương, khác biệt về việc làm, v. Nhóm này đã khai thác nguồn số liệu thứ cấp từ tổng điều tra dân số Việt Nam 1989 và điều tra dân số và nhà ở 1999 được tiến hành trên tắt cả 61 tỉnh thành phố của Việt Nam.
Họ cũng cho rằng các nhân tố kinh tế chẳng hạn thu nhập và cơ hội việc làm có tác động mạnh hơn so với các nhân tố phi kinh tế tới quyết định di chuyển của lao động nhập cư ở Việt Nam; trong. thực tế quyết định di cư thường phản ánh sự khác biệt thu nhập hơn là các biến như tuổi tác, giới tính, trình trạng hôn nhân. Năm 2006 Đặng Nguyên An công bó công trình nghiên cứu về di dân ở các tỉnh miền núi Việt Nam trong những năm 1990. Tác giả đã phân tích thực trạng của vấn để di dân và việc thực thỉ các chính sách di dân ở các tỉnh miền núi của Việt Nam đã khẳng định những thành công của các chính sách này góp phần phân bó.
lại dân cư lao động một cách có tổ chức hạn chế tiêu cực từ quá trình di dân tự do. Ngoài ra còn có một số nghiên cứu kinh tế lượng về di dân nội vùng ở Việt Nam, Lê Thanh Sang năm 2004 đã sử dụng phương pháp thống kê mô tả và mô. hình Box-Cox trong phân tích di dân khu vực đô thị từ 1984 tới 1989 và từ 1994 tới 1999. Những kết quả hồi quy cl i ra cụ thể rằng: khoảng cách địa lý là một trong các rào cản lớn nhất đối với di dân giữa các tỉnh và nông thôn ra thành thị; tỷ lệ dân số đô thị ở các tỉnh và áp lực ruộng đắt cũng ảnh hưởng tới di cư trong cả hai giai đoạn này.
Tác giả cũng cho rằng giai đoạn trước đổi mới hiện tượng. di dân được quản lý bởi nhà nước nên các nhân tố đẩy hay kéo giữa các tỉnh không có ý nghĩa quyết định tới dòng di dân[ 19]. Hai tác giả Lê Ngọc Lân, Phùng Thị Kim Anh, khi phân tích về chính sách việc làm cho lao động nữ nông thôn trong thời kì đổi mới đã cho rằng *Tình trạng thiếu việc làm và thu nhập thấp cũng tạo nên dòng chảy lao động từ nông thôn ra thành phó, trong đó có lều phụ nữ. Họ làm đủ các nghề từ giúp việc nhà, buôn bán phế liệu đến bán hàng rong thậm chí có chị em còn làm những nghề bị xã hội ngăn cắm.Tuy nhiên, việc di chuyển lao động tự do từ các vùng nông thôn ra thành thị, đặc biệt là các đô thị lớn đang la van dé néi cộm, nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp, nhất là các tệ nạn xã h nhận định này cũng đồng nhất với nhận định trong các nghiên cứu của Hà Thị Phương Tiến (1997), Nguyễn Kim Hà (2001) và Nguyễn Thanh Tâm (2003).
Một nhóm nghiên cứu gồm Nguyễn Thị Vân Anh, Tran Thi Minh Đức, Lê Ngọc Hùng, Lê Khanh, Hoàng Mộc Lan, Nguyễn Hồi Loan, Nguyễn Hữu Thụ cùng với tổ chức cứu trợ trẻ em của Thuy Điển (Save the Children Sweden) đã tiến hành nghiên cứu về trẻ em làm thuê, giúp việc gia đình ở Hà Nội năm 2000. Công trình nghiên cứu này đã đề cập một cách khá toàn diện về chân dung những trẻ em làm thuê giúp việc trong các gia đình ở Hà Nội, về nhu cầu, tính chất của lao động thuê mướn, quan hệ xã hội đến nhận thức, thái độ của các em. Mai Huy Bích đã nghiên cứu lao động làm thuê việc nhà của những người phụ nữ nghèo, it hoc từ nông thôn ra thành thị. Tác giả đã phân tích một số điểm tích cực và tiêu cực của hình thức lao động này, (Mai Huy Bích, 2004).
Lao động làm việc nhà phản ánh tiêu cực sự bình đẳng giới và người ta cho rằng làm việc nhà chỉ có người phụ nữ mà thôi, phụ nữ đi làm thuê việc nhà không chỉ diễn ra ở Việt Nam mà đã vượt ra ngoài biên giới. Làn sóng di cư của các cô gái nước ta sang Đài Loan ngày càng tăng. Mỗi năm có đến hàng nghìn cô gái đi lao động ở Đài Loan để làm các công việc trong các gia đình Đài Loan. Chính cuộc di cư này đã làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội cần được quan tâm như: lao động của người phụ nữ nặng nhọc, nhân phẩm bị trà đạp, tình trạng cô đơn.