Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về đói nghèo và xóa đói giảm nghèo —_ Chương 2: Thực trạng đỏi nghèo và công tác xóa đói giảm nghèo tại huyện Cam Lộ, tính Quảng Trị —_ Chương 3: Giải pháp xóa đói giảm nghèo tại huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị -4- CHUONG 1 MOT SO VAN DE LY LUAN CHUNG VE DOI NGHEO VA XOA DOI GIAM NGHÈO. CAC VAN DE CHUNG VE DOI NGHEO 1. Khái niệm và chuẩn đói nghèo Ngày nay, đói nghèo đang trở thành một vấn ấp bách của nhiều quốc. gia trong khu vực và trên toàn thế giới.
Muốn thực hiện phát triển xã hội bền vững không thê không giải quyết vấn đề đói nghèo. Nghèo đói đã, đang diễn ra trên quy mô lớn và hậu quả của nó tác động. đến mọi vấn đề trong đời sống xã hội từ kinh tế đến chính trị, xã hội và môi trường sinh thái. Nó có ảnh hưởng không chỉ đối với các quốc gia nghèo mà còn có nguy cơ lan rộng và tác động toàn cầu như tàn phá môi trường sinh thái, vấn dé di dân quốc tế ð ạt, tiêu cực xã hội lan rộng v.Vì vậy, sự nghiệp chống nghèo đói không chỉ đối với các nước nghèo mà cả đối với các nước phát triền.
Để giải quyết vấn đề nghèo đói cần thiết phải có quan niệm đúng về nghèo đói. Tại khóa họp đặc biệt của Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc về phát triển XH, tháng. 6 năm 2000 tại Genever - Thụy Sỹ, các thành viên đã thống nhất cam kết, phần đấu giảm một nữa số người nghèo trên thể giới. Hội nghị kêu gọi công đồng quốc tế đây mạnh chiến dịch "Tắn công vào nghèo đói" và khuyến nghị các quốc gia cần có chiến lược toàn điện về XĐGN.
Tại Hội nghị thiên niên kỷ đầu tháng 9 năm 2000, Liên Hợp Quốc, một lần nữa khẳng định: Chống nghèo đói là một trong những mục tiêu ưu tiên hàng đầu của công đồng quốc tế trong. Tuy nhién, qua trình thực hiện XĐGN ở mỗi quốc gia có cách làm và giải pháp khác nhau. Đó là do ở mỗi quốc gia có trình độ phát triển KT-XH, điều kiện địa lý tự nhiên, trình độ dân trí, văn hóa, chính trị khác nhau nên khả năng đáp, ứng các nhu cầu hưởng thụ vật chat, tinh thần cho dân chúng cũng khác nhau. trong một quốc gia thì ở mỗi thời kỳ, giai đoạn lịch sử thì khả năng đáp ứng các nhu cầu trên cho dân chúng cũng không giống nhau.
Điều đó dẫn đến quan niệm về 5. nghèo đói và giải pháp XĐGN của các quốc gia có sự khác nhau. “Trên thế giới vấn đề nghèo đói được xem xét ở nhiều góc độ khác nhau như: nghèo về văn hoá, nghèo về tri thức, nghèo về kinh tế. Dưới góc độ kinh tế, nghèo cũng được xem xét với các lát cắt khác nhau như: nghẻo vẻ lương thực thực phẩm, nghèo về điều kiện sinh hoạt, nghèo trong mối quan hệ với giàu, nghèo trong việc bị hạn chế tiếp cận các nguồn lực phát triển; nghèo trong việc khó tiếp cận được thị trường.
Vay nghéo được hiểu như thế nào? Abapiasen - chuyên gia hàng đầu của tổ chức Lao động quốc tế (ILO) cho. rằng: nghèo đói là sự thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào sự phát triển cộng đồng. (27, t4] UNDP đã đưa ra những định nghĩa về nghẻo| 17, tr. 27] như sau: ~ Sựr nghèo khổ của con người: Thiếu những quyền cơ bản của con người như biết đọc, biết viết và được nuôi dưỡng tạm đủ.
- Sự nghèo khổ về tiển té: Thiéu thu nhập tối thiêu thích đáng và khả năng. chỉ tiêu tối thiểu. ~ Sự nghèo khổ chưng: Mức độ nghèo kém nghiêm trọng hơn được xác định như không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu lương thực và phi lương thực chủ yếu, những nhu cầu này đôi khi được xác định khác nhau ở nước này hay nước khác. Hội nghị bàn về giảm nghèo đói trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức vào tháng 9/1993 tại Bangkok (Thái Lan), các quốc gia trong khu vực đã thống nhất cho rằng: "Aghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư.
không được hưởng và thỏa mãn những như cầu cơ bản của con người đã được XH thừa nhận, tùy theo trình độ phát triển KT-XH và phong tục tập quán của từng địa phương” [12, tr. Đây là khái niệm tương đối đầy đủ và bao quát nên. có thể coi đây là định nghĩa chung nhất và có tính hướng dẫn về phương pháp. nhận điện nét chính yếu phô biến về đói nghèo của các quốc gia.
Tuy nhiên, các tiêu chí và chuẩn mực về mặt lượng hóa chưa được xác định vì còn phải tính đến sự khác biệt về mặt chênh lệch giữa các điều kiện tự nhiên, xã hội và trình độ phát trién của mỗi vùng, miền khác nhau. Uũu điểm của khái niệm này là đã làm rõ được bộ phận dân cư nghèo đói là: "Tùy theo trình độ phát triển KT-XH và phong tục tập quán từng địa phương" Liên Hợp Quốc đưa ra hai khái niệm chính về đói nghèo là đói nghèo tuyệt đối và đói nghẻo tương đối. Đối nghèo myệt đối là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng những nhu cầu cơ bản tối thiểu nhằm duy trì cuộc sống [19, tr. Đói nghèo tương đối là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức trung bình của cộng đồng [19,tr.
306] Nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống là những đảm bảo ở mức tối thiểu về ăn, mặc, ở, sinh họat, vệ sinh, y tế và giáo dục. Ngoài những đảm bảo trên, cũng có ý kiến cho rằng, nhu cầu tối thiểu bao gồm có quyền được tham gia các. quyết định của cộng đồng. Ngân hàng Thế giới sử dụng mức chỉ tiêu 1USD/người/ngày (tính theo giá trị sức mua thực tế) để so sánh mức nghèo khổ ở các nước khác nhau trên thế giới [5, tr.
460] ‘Theo chuẩn quốc tế dụng cho các nước đang phát triển thì đói nghèo được xem xét ở hai mức độ: Đối nghèo về lương thực, thực phẩm là những người có mức chỉ tiêu cho ăn uống dưới mức để đạt 2.100 Kcal/người/ngày [5, tr. 460] Đối nghèo chưng bao gồm cả mặt lương thực, thực phẩm và phi lương thực, thực phẩm. Hiện nay, đang tồn tại nhiều ý quan niệm khác nhau về đói nghèo. Tuy nhiên, về cơ bản các nhà khoa học Việt Nam thống nhất với nhau một số khái niệm sau đây: ANghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn.
các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phương [Š, tr. 457] -7- Nghéo trong doi la tinh trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức. trung bình của cổng đồng tại địa phương đang xét. Nghéo tuyệt đối là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn các nhu cầu tối thiểu cơ bản nhằm duy trì cuộc sống.
"Như câu cơ bản tối thiểu là những đảm bảo ở mức tối thiêu những nhu cầu thiết yếu về ăn, mặc, ở và nhu cầu sinh hoạt hàng ngày gồm văn hóa, giáo dục, đi lại, giao tiết Đối là tình trạng của một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức. tối thiêu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu về mặt vật chất để duy trì cuộc sống. Đó là những hộ dân cu hàng năm thiếu ăn, đứt bữa từ một đến hai tháng, thường vay mượn cộng đồng và thiếu khả năng chỉ trả cộng đồng [5, tr. 458], Tùy thuộc vào khả năng đảm bảo nhu cầu lương thực, thực phẩm dé duy trì cuộc sống trong năm mà phân loại hộ đói thành hộ thiếu đói và hộ đói thường xuyên.
Ở Việt Nam, nghèo đói được phân theo hai cắp độ: Đói và nghéo. ~ Quan niệm về đói: Đói là tình trạng của một bộ phận cư dân nghèo có. mức sống dưới mức tối thiểu và thu nhập không đủ bảo đảm nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống. Đó là những hộ dân cư hàng năm thiếu ăn, đứt bữa từ một đến hai tháng, thường vay mượn của cộng đồng và thiếu khả năng chỉ trả cho cộng đồng.
Đói là nắc thang thấp nhất của nghèo, đây vốn thuần túy là đói ăn, nằm trọn trong. phạm trù kinh tế vật chất và khác với đói thông tin, đói hưởng thụ văn hóa, thuộc. phạm trù văn hóa tỉnh thằn. Khái niệm đói cũng có hai dạng; đói kinh niên và đói cấp tính (đói gay gắt).
+ Đói kinh niên: Là bộ phận dân cư đói nhiều năm liên cho đến thời điểm đang xét. + Đối cắp tính: Là bộ phận dân cư rơi vào tình trạng đói đột xuất do nhiều nguyên nhân như gặp tai nạn, thiên tai, rủi ro khác tại thời điểm đang xét. + Hộ đói: Là hộ cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, con cái khong được học hành đầy đủ, ốm đau không có tiền chữa bệnh, nhà cửa rách nát. -8- ~ Quan niệm nghèo của Việt Nam: Về cơ bản quan niệm nghèo của Việt Nam thống nhất với khái niệm nghèo của ESCAP.
Quan niệm nghèo ở đây có 2 dạng là nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối. ~ Nghèo nuyệt đối là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn nhu cầu cơ bản, tối thiêu để duy trì cuộc sống. Nhu cầu cơ bản, tối thiểu đó là mức bảo đảm tối thiểu về ăn, mặc, nhà ở, nước sinh hoạt, y tế, giáo dục và vệ sinh môi trường. Nhu cầu này cũng có sự thay đổi, khác biệt từng quốc.
gia và cũng được mở rộng dan. ~ Nghèo tương đối là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức trung bình của cộng đồng ở một thời kỳ nhất định. Nghèo tương đối gắn liền với sự chênh lệch về mức sống của một bộ phận dân cư so với mức sống trung. bình của địa phương ở một thời kỳ nhất định.
Vì vậy, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng việc xóa dẫn nghèo tuyệt đối là việc có thé làm, còn nghèo tương đối là hiện tượng thường có trong xã hội và vấn đề cần quan tâm là rút ngắn khoảng cách chênh lệch giàu - nghèo. Khái niệm nghèo tuyệt đối được sử dụng đề so sánh mức độ nghẻo khổ. giữa các quốc gia. Trên cơ sở đó người ta đưa ra khái niệm quốc gia nghẻo là đất nước có thu nhập bình quân đầu người rất thấp, nguồn lực cực kỳ hạn hẹp, cơ sở.
hạ tầng và môi trường yếu kém, có vị trí không thuận lợi trong giao lưu với cộng. đồng quốc tế. Còn trong đầu tranh chống nạn nghèo đói người ta dùng khái niệm nghèo tương đối.