CHƯƠNG 1: NGHÈO ĐÓI - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VÀ THUC TIEN 1. Nghèo đói va các thước do Mục tiêu của tăng trưởng kinh tế, xét cho cùng là nhằm nâng cao đời sống về mọi mặt của con người ở mọi tầng lớp xã hội. Tăng trưởng phải hướng vào lợi ích thiết thực của các tầng lớp nhân dân. Làm thế nào để tăng trưởng phải là điều kiện cho công bằng xã hội, chứ không phải thúc day sự bất công, dẫn tới sự xung đột trong xã hội.
Quan niệm "tăng trưởng để giảm nghèo đói" đã nhấn mạnh đến chiến lược tăng trưởng kinh tế trên diện rộng nhằm tạo ra đủ cơ hội kiếm sống cho người nghèo và cải thiện điều kiện giáo dục, y tế và các công tác xã hội khác giúp người nghèo tận dụng các cơ hội nói trên. Chiến lược này cũng bao gồm một mạng lưới phúc lợi xã hội dành cho những người có cuộc sống bấp bênh. Ở những nước có sự tăng trưởng nhanh và bển vững trong một thời gian đáng kể thì tỷ lệ nghèo đã giảm xuống. Tại Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapo.
tăng trưởng nhanh không chỉ gắn liền với sự giảm đi mức nghèo tuyệt đối mà còn cải thiện sự bất bình đăng về thu nhập. Nền kinh tế Việt Nam đã có nhiều thay đổi: nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa đang phát triển; các thành phần kinh tế đang được khuyến khích phát triển nhằm phát huy những sức mạnh và tài năng của cá nhân và tập thể. Đổi mới các chính sách kinh tế đã và đang tạo nên nhiều chuyển biến trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Tuy nhiên cơ chế thị trường không chỉ có mat tích cực mà còn có mat tiêu cực.
Xu hướng gia tang mức chênh lệch thu thập, vấn đề người nghèo đã trở thành mối quan tâm của Chính phủ, của các cộng đồng dân cư và của các tổ chức xã hội. Để thực hiện thành công chiến lược giảm nghèo, thực hiện công bang xã hội, trước hết phải làm rõ khái niệm giàu nghèo và các chỉ số, thước đo giàu nghèo. Khái niệm nghèo đói 1. Khái niệm nghèo Nghèo là một khái niệm đã được dùng rất lâu trên thế giới để chỉ mức sống của một nhóm dân cư, một nhóm quốc gia so với mức sống của cộng đồng hay các quốc gia khác.
Nghèo không chỉ là vấn đề xã hội ở các nước kém phát triển mà nó còn mang tính toàn cầu. Tại các nước công nghiệp phát triển cũng vẫn tồn tại một bộ phận dân cư bị coi là nghèo. Tuy vậy, quan niệm về nghèo đói và việc xác định mức độ nghèo đói không hoàn toàn thống nhất giữa các quốc gia, thậm chí ngay trong một quốc gia. Căn cứ xác định mức độ nghèo đói cũng biến đổi theo thời gian.
Nghèo tuyết đối: Tại Hội nghị về chống nghèo đói ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương do ASCAP tổ chức tháng 9 - 1993 tại Băng Cốc đã đưa ra khái niệm về nghèo: "Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người, mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của địa phương." Đây là khái niệm nghèo tuyệt đối và điểm mấu chốt của nó là sự không thoả mãn nhu cầu cơ bản của con người như: ăn, mặc, Ở, giáo dục, y tế, văn hoá, đi lại và giao tiếp. Song, ở đây phải hiểu rằng tiêu chuẩn định hướng và thước đo định lượng về nhu cầu cơ bản là tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng khu vực, từng quốc gia và địa phương trong mỗi giai đoạn nhất định. Căn cứ xác định mức độ nghèo là chỉ tiêu quan trọng khi đánh giá mức nghèo. Căn cứ xác định mức độ nghèo được sử dụng trong việc hoạch định chính sách xoá đói giảm nghèo ở các quốc gia hiện nay là thu nhập tính trên đầu người.
Chỉ tiêu này thuận lợi trong việc điều tra và đánh giá bởi vì nó là đơn vị đo lường thống nhất bang tiền. Tuy nhiên, việc đánh giá mức nghèo là rất khó, vì người nghèo là người không có khả năng đạt được một tiêu chuẩn thấp nhất của cuộc sống, mà mức sống thay đối tuỳ vùng và từng nước. Muốn xác định mức nghèo của một quốc gia thì trước hết phải xác định tiêu chuẩn sống của các hộ gia đình. Mức ăn và tiêu dùng của một hộ gia đình thay đổi tuỳ theo mức thu nhập, ngoài ra giá cả các mặt hàng thiết yếu của các vùng cũng khác nhau.
Ngoài các hàng hoá hộ gia đình phải mua, còn có các hàng hoá công cộng thay đối rất nhiều tuỳ theo từng nơi. Chỉ tiêu để ấn định đường giới hạn mức nghèo (poverty line) được xác định trên mức tiêu dùng bao gồm hai phần: chi phí cần để đạt một mức dinh dưỡng tiêu chuẩn và một số nhu cầu cơ bản thay đổi tuỳ từng vùng và tuỳ vào giá cả từng nơi. Nhu cầu dinh dưỡng có thể tính bằng nhu cầu calo cần thiết, các nhu cầu khác được xác định mang tính chất chủ quan. Để so sánh giữa các nước cần phải quy về một giá chung gọi là: đôla so sánh sức mua (đôla PPP).
Phương pháp tính giá PPP được tiến hành cho các nước trên thế giới. Theo xác định của nhiều tác giả, đường giới hạn mức nghèo thay đổi như sau: Năm 1960: 50 đôla/người/năm Năm 1971: 75 đôla/ngườinăm Năm 1975: 200 đôla PPP (giá năm 1970)/năm Năm 1980: 355 đôla PPP (giá năm 1980)/năm Nam 1985: 275-370 đôla PPP (giá năm 1985)/nam [21; 50] Con số cuối cùng do Ngân hàng Thế giới đưa ra có giới han trên và dưới tuỳ theo đặc điểm của từng nước. Phương pháp để tính chỉ tiêu này là tính từ giá một ngày ăn chiếm 70% của mức tiêu dùng. Bằng cách sử dụng tiêu chuẩn 1 USD/ người/ngày (với sức mua ngang giá năm 1985) làm giá trị ngưỡng nghèo khổ, thì theo ước tính mới đây của Ngân hàng Thế giới cho thấy rằng khoảng 26% dân Đông Á, kể cả Trung Quốc là nghèo vào thời điểm năm 1993, với con số tuyệt đối khoảng 450 triệu người.
Nếu thêm cả Nam A, nơi có tỷ lê nghèo là 43%, thì Châu Á chiếm tới 40% số người f=) nghèo fo) của thế cSgiới. Cũng theo Ngân hàng Thế giới, nếu lấy chỉ tiêu đánh giá nghèo là thu nhập trên đầu người dưới 370 USD, thì năm 1985 Đông Á có khoảng 280 triệu người nghèo (riêng Trung Quốc có tới 210 triệu người), đến năm 2000 vẫn còn 50 triệu người. Nam Á có số người nghèo cao, lên tới 520 triệu người (riêng Ấn Độ có tới 420 triệu người), chiếm tới 51% dân số của vùng và đến năm 2000 vẫn sẽ có thể còn trên 300 triệu người. Vào cuối thế kỷ XIX ở Anh, Seebohm Rowntree đã bat đầu tiến hành những nghiên cứu đầu tiên liên quan đến hai khái niệm "giàu” và "nghèo".
Năm 1899, Seebohm Rowntree đã tiến hành khảo sát và nghiên cứu thành phố New York, nơi ông cho rằng 9,9% dân số đang sinh sống trong tình trạng nghèo khó. Ông đã dựa vào cơ sở của những kết quả nghiên cứu của Atwater (một nhà dinh dưỡng đã tiến hành các thí nghiệm về bữa ăn của các tù nhân nhằm tìm ra một lượng dinh dưỡng cần thiết duy trì trọng lượng cơ thể) để đưa ra lý thuyết về sự sinh tồn của loài người. Rowtntree đã coi những kết quả này như là chỉ số cơ bản để dự đoán lượng dinh dưỡng trung bình cần thiết đối với người lớn và trẻ em, quy thành khối lượng các loại thực phẩm khác nhau, và sau đó quy ra số lượng tiền tương ứng với khối lượng thực phẩm đó. Trên cơ sở chi phí về thực phẩm, Rowtntree cộng thêm chi phí tối thiểu về quấn áo, nhiên liệu và các chi phí lặt vặt khác tuỳ theo từng loại quy mô gia đình.
Từ đó ông chỉ ra đường giới hạn về mức nghèo. Theo ông, các khoản vay nợ của một hộ gia đình cũng phải được xem như là một khoản không thể tách rời trong tổng thu nhập của họ. Một hộ gia đình sẽ được coi là "nghèo" nếu tổng thu nhập của hộ gia đình trừ đi các khoản vay nợ rơi xuống dưới đường giới hạn về mức nghèo. Ông đã mô tả như sau: "Tổng thu nhập mà không đủ để duy trì những nhu cầu tối thiểu nhằm đảm bảo khả năng duy trì sức lao động là mức nghèo cơ bản”.
Ông đã kết luận: Một gia đình sẽ bị coi là nghèo nếu chỉ phí về thực phẩm chiếm dưới 33% tổng thu nhập đối với hộ gia đình có từ 3 người trở lên và dưới 27% đối với hộ gia đình gồm 2 người. Có thể nói rằng, công trình nghiên cứu về tình trạng nghèo ở thành phố NewYork của Rowntree là một công trình có giá trị lúc bấy giờ và nó đã đặt cơ sở cho các công trình nghiên cứu tiếp theo ở Anh và một số nước khác. Bản thân Rowntree cũng đã tiến hành thêm một số nghiên cứu khác vào năm 1936 và năm 1950. Phương pháp tính toán và suy luận của Rowntree cũng được chính phủ Mỹ vận dụng.
Tuy nhiên, khái nệm "nghèo" ma Rowntree đưa ra vào cuối thé kỷ XIX, đầu thế kỷ XX chỉ mang tính chất tương đối và trừu tượng. Sự phân hoá giàu - nghèo chủ yếu là do những điều kiện để đảm bảo sự sinh tồn, đảm bảo duy trì sức lao động. Giàu hay nghèo chỉ đơn thuần là "có sự sống hay không" hay "có đủ ăn hay không" mà thôi. Với điều kiện kinh tế - xã hội lúc đó thì đối tượng chủ yếu được đề cập khi nghiên cứu là tầng lớp người lao động không lành nghề.
Mức sống giới hạn tối thiểu đối với họ là điều kiện đủ để bảo đảm duy trì sức lao động. Cùng với sự tiến triển của lịch sử, điều kiện kinh tế - xã hội ngày càng được cải thiện, mức sống được cải thiện và đồng thời xã hội trở nên phức tạp và đa dạng hơn. Cơ cấu kinh tế thay đổi, xã hội bị phân chia thành nhiều giai cấp, mâu thuẫn giữa các giai cấp cũng ngày càng thể hiện rõ rệt, các phong trào của quần chúng ngày càng có tổ chức và được mở rộng cả về quy mô và chất lượng. Do vậy, các chính sách đối với người lao động đã và đang được cải thiện theo chiều hướng khả quan hơn, nên khái niệm "nghèo" được đề cập ở trên không còn phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ.