Chương 1: Xác định những quy định chung gồm 5 điều quy định phạm vi điều chỉnh của Luật Thuế GTGT( Điều 1); khái niệm về thuế GTGT (Điều 2); Đối tượng chịu thuế GTGT (Điều 3); Người nộp thuế GTGT (Điều 4) và Đối tượng không chịu thuế (Điều 5). Chương 2: Xác định căn cứ và phương pháp tính thuế gồm 6 điều (từ điều 6 đến điều 11). Điều 6 quy định căn cứ tính thuế; Điều 7 quy định giá 14 tính thuế; Điều 8 quy định về thuế suất; Điều 9 về phương pháp tính thuế; Điều 10 quy định rõ phương pháp khấu trừ thuế và Điều 11 quy định phương pháp tính trực tiếp trên GTGT. Chương 3: Khấu trừ, hoàn thuế, gồm 3 điều (từ điều 12 đến điều 14) quy định những vấn đề liên quan đến khấu trừ thuế GTGT đầu vào (Điều 12); Các trường hợp hoàn thuế (Điều 13) và hóa đơn, chứng từ (Điều 14).
Chương 4 quy định điều khoản thi hành gồm 2 điều (điều 15 và điều 16). Điều 15 xác định hiệu lực thi hành của Luật Thuế GTGT là từ ngày 01 tháng 01 năm 2009 và thay thế Luật Thuế giá trị gia tăng năm 1997; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng số 07/2003/QH11; Bãi bỏ Điều 2 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật Thuế giá trị gia tăng số 57/2005/QH11. Điều 16 quy định hướng dẫn thi hành Luật Thuế GTGT. Theo đó, Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành các điều 5, 7, 8, 12, 13 và các nội dung cần thiết khác của Luật này theo yêu cầu quản lý.
Nội dung, cơ bản của Luật Thuế GTGT ở Việt Nam thể hiện các vấn đề sau: - Quan niệm về thuế GTGT, đối tượng chịu thuế và không chịu thuế. Luật Thuế GTGT xác định, thuế GTGT là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng“. Đối tượng chịu thuế GTGT là hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam (bao gồm cả hàng hoá, dịch vụ mua của tổ chức, cá nhân ở nước ngoài), trừ các đối tượng không chịu thuế GTGT gồm 25 danh mục (điều 5, phụ lục 1 và điều 1, phục lục 2). - Căn cứ tính thuế GTGT thể hiện ở giá tính thuế, số lượng và mức thuế suất.
Giá tính thuế là một căn cứ quan trọng để xác định số thuế GTGT phải nộp. Nguyên tắc chung xác định giá tính thuế GTGT là giá bán chưa có thuế GTGT được ghi trên hoá đơn bán hàng của người bán hàng, người cung cấp 15 dịch vụ hoặc giá chưa có thuế GTGT được ghi trên chứng từ của hàng hoá nhập khẩu. Việc lựa chọn số lượng và mức thuế suất thuế GTGT khác nhau tuỳ thuộc vào quan điểm, đặc điểm kinh tế-xã hội và mục tiêu đặt ra cho chính sách thuế của từng nước. Ở Việt Nam, Luật Thuế GTGT quy định 3 mức thuế suất là: Một là, Mức thuế suất 0%: Là mức thuế suất áp dụng đối với các hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu, vận tải quốc tế và hàng hoá, dịch vụ không chịu thuế GTGT quy định tại điều 5 Luật Thuế GTGT số 13/QH/2008/QH12 khi xuất khẩu, trừ các trường hợp chuyển giao công nghệ, chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ ra nước ngoài; dịch vụ tái bảo hiểm ra nước ngoài; dịch vụ cấp tín dụng, chuyển nhượng vốn, dịch vụ tài chính phái sinh; dịch vụ bưu chính viễn thông; sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản khai thác chưa qua chế biến.
Hai là, Mức thuế suất 5%: Là mức thuế suất áp dụng đối với các loại hàng hoá, dịch vụ thiết yếu phục vụ cho sản xuất, tiêu dùng và các hàng hoá dịch vụ cần ưu đãi, hàng hoá, dịch vụ phục vụ trực tiếp cho sản xuất trong các lĩnh vực: nông nghiệp, y tế, giáo dục, khoa học - kỹ thuật, nhằm thực hiện chính sách xã hội, khuyến khích đầu tư sản xuất. Ba là, Mức thuế suất 10%: Áp dụng cho các hàng hóa, dịch vụ thông thường không nằm trong diện chịu các mức thuế suất nói trên và danh mục không áp dụng thuế GTGT như: sản phẩm điện tử, dầu mỏ, khí đốt, sản phẩm may mặc, xây dựng, lắp đặt, dịch vụ tư vấn… - Phương pháp tính thuế GTGT. Luật Thuế GTGT quy định việc tính thuế GTGT phải nộp có thể thức hiện bằng phương pháp khấu trừ hoặc phương pháp tính trực tiếp trên GTGT. Một là, Phương pháp khấu trừ thuế: Phương pháp này được áp dụng cho tất cả các đơn vị, tổ chức kinh doanh, doanh nghiệp thành lập theo luật Doanh nghiệp Nhà nước (nay là luật Doanh nghiệp), luật doanh nghiệp, luật hợp tác xã, 16 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các đơn vị tổ chức kinh doanh khác được áp dụng phương pháp khấu trừ theo hướng dẫn của Bộ Tài chính, trừ các đối tượng áp dụng tính thuế theo phương pháp tính trực tiếp trên GTGT theo quy định.
Yêu cầu chung đối với các đối tượng nộp thuế theo phuơng pháp khấu trừ là phải có đầy đủ các căn cứ, chứng từ hợp pháp để xác định số thuế GTGT được khấu trừ đầu vào. Số thuế phải nộp được tính như sau: Số thuế phải nộp = A - B Trong đó: A: Thuế GTGT đầu ra. Được tính bằng tích của giá tính thuế của hàng hóa,dịch vụ chịu thuế bán ra và mức thuế suất thuế GTGT. B: Thuế GTGT đầu vào được khấu trừ.
Xác định bằng cách căn cứ vào tổng số thuế GTGT ghi trên hoá đơn GTGT mua hàng hoá, dịch vụ (bao gồm cả tài sản cố định) dùng cho sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT, số thuế GTGT ghi trên chứng từ nộp thuế của hàng hoá nhập khẩu hoặc chứng từ nộp thuế GTGT thay có phía nước ngoài theo hướng dẫn của Bộ Tài chính áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân nước ngoài không có tư cách pháp nhân tại Việt Nam và cá nhân nước ngoài kinh doanh hoặc có thu nhập phát sinh tại Việt Nam. Điều kiện khấu trừ thuế GTGT đầu vào là doanh nghiêp, cá nhân có hoá đơn GTGT hợp pháp của hàng hoá, dịch vụ mua vào hoặc chứng từ nộp thuế GTGT khâu nhập khẩu hoặc chứng từ nộp thuế GTGT thay cho phía nước ngoài theo hướng dẫn của Bộ Tài chính và có chứng từ thanh toán qua ngân hàng đối với hàng hoá, dịch vụ mua vào từ 20 triệu đồng trở lên. Ngoài ra Luật Thuế GTGT và các văn bản hướng dẫn còn quy định điều kiện khấu trừ trong trường hợp hàng hoá, dịch vụ mua vào từng lần theo hoá đơn trên 20 triệu đồng theo giá đã có thuế GTGT nếu không có chứng từ thanh toán qua ngân hàng; mua hàng hoá, dịch vụ trả chậm, trả góp, phương thức thanh toán bù trừ, thanh 17 toán uỷ quyền … Hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu, hoàn thuế GTGT phải đáp ứng đủ các điều kiện khấu trừ nêu trên và các điều kiện sau: Một là, Có hợp đồng theo quy định. Đó là các hợp đồng bán hàng hoá, gia công hàng hoá, cung ứng dịch vụ cho tổ chức, cá nhân nước ngoài, hợp đồng uỷ thác xuất khẩu… Hai là, Có tờ khai hải quan hợp lệ.
Đó là tờ khai hải quan về hàng xuất khẩu có xác nhận đã xuất khẩu của cơ quan Hải quan, trừ một số trường hợp không cần tờ khai hải quan theo quy định. Ba là, Phải thực hiện thanh toán theo yêu cầu của nhà nước. Cụ thể là thanh toán qua hệ thống ngân hàng hay các hình thức thanh toán khác theo quy định của Chính phủ. Bốn là, Có hóa đơn GTGT.
Hóa đơn này có thể là hóa đơn bán hàng hoá, dịch vụ hoặc hóa đơn đối với tiền công gia hàng hoá. Ngoài ra Luật Thuế GTGT còn quy định điều kiện, thủ tục và hồ sơ để khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với một số trường hợp hàng hoá được coi như xuất khẩu (gia công chuyển tiếp, xuất khẩu tại chỗ, hàng hoá do doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu để thực hiện công trình xây dựng ở nước ngoài). Hai là, Phương pháp tính trực tiếp trên GTGT. Đối tượng áp dụng là cá nhân, hộ kinh doanh, tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam không theo luật đầu tư và các tổ chức khác không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ chế độ kế toán, hoá đơn chứng từ theo quy định của pháp luật, các cơ sở kinh doanh mua bán vàng, bạc, đá quý, ngoại tệ.
Số thuế GTGT phải nộp được tính như sau: Số thuế GTGT phải nộp = C x D Trong đó: C là GTGT của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế D là thuế suất thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ. 18 - Quy định về hoá đơn, chứng từ. Hoá đơn là chứng từ kế toán, có vai trò ghi nhận về mặt lượng và giá trị các giao dịch mua bán, trao đổi hàng hoá, dịch vụ trong đời sống, trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Hoá đơn không phải là chứng từ kế toán thông thường mà là chứng từ “gốc” có giá trị hợp pháp cao, bắt buộc phải có để ghi sổ kế toán.
Vì vậy nó có vai trò rất quan trọng đối với doanh nghiệp, người dân, công tác kế toán và cơ quan thuế. Theo đó, khi mua bán hàng hoá dịch vụ phải có hóa đơn. Việc lập hoá đơn là trách nhiệm của người bán hàng hoá dịch vụ, hoá đơn là căn cứ kê khai tính thuế GTGT đầu ra và hạch toán doanh số. Người mua có trách nhiệm lưu giữ hoá đơn, đây là căn cứ để kê khai khấu trừ thuế GTGT đầu vào và hạch toán chi phí sản xuất kinh doanh.
Ngoài ra hoá đơn còn dùng để thanh quyết toán tài chính cho cơ quan, còn là bằng chứng về mua bán hàng hoá dịch vụ. Đối với mối quan hệ giữa cơ quan thuế và doanh nghiệp thì hoá đơn GTGT là chứng từ cơ sở ban đầu dùng để kê khai nộp thuế, khấu trừ, hạch toán chi phí thực tế phát sinh, hoàn thuế và xác định chi phí hợp lệ khi tính thuế. Trong điều kiện Việt Nam từ năm 2012 trở về trước, cơ quan thuế thực hiện phát hành hóa đơn, cung ứng cho doanh nghiệp thực hiện Luật; chỉ có một số doanh nghiệp thực hiện Luật hoá đơn tự in theo quy định.