Luận văn Thạc sĩ: Giải pháp hoàn thiện quản lý đầu tư công tại Khánh Hoà

Luận văn thạc sĩ kinh tế phân tích các giải pháp hoàn thiện quản lý đầu tư công tại tỉnh Khánh Hòa, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực.

Trường đại học

Đại học Đà Nẵng

Chuyên ngành

Kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2011

95
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan quản lý đầu tư công trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa

Quản lý đầu tư công là một nhiệm vụ trọng tâm, đóng vai trò then chốt trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế địa phương và định hình cơ cấu kinh tế tỉnh Khánh Hòa. Với vị trí địa lý chiến lược tại Duyên hải Nam Trung Bộ, Khánh Hòa sở hữu tiềm năng to lớn về du lịch, kinh tế biển và công nghiệp. Để khai thác các lợi thế này, việc sử dụng hiệu quả nguồn vốn ngân sách nhà nước cho các dự án hạ tầng là yếu tố quyết định. Trong giai đoạn 2001-2010, tỉnh đã huy động hàng chục nghìn tỷ đồng cho đầu tư phát triển, trong đó vốn nhà nước chiếm tỷ trọng đáng kể, khoảng 39,3% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Các dự án này đã tạo ra một diện mạo mới cho tỉnh, với hệ thống giao thông, điện, nước và hạ tầng đô thị ngày càng hoàn thiện, tạo đòn bẩy thu hút đầu tư từ khu vực tư nhân và nước ngoài. Công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản được thực hiện dựa trên một hệ thống văn bản pháp luật phức tạp, bao gồm Luật Ngân sách nhà nước, Luật Xây dựng, và các Nghị định liên quan. Tuy nhiên, theo nghiên cứu của Nguyễn Tiến Phước (2011), quá trình này bộc lộ nhiều tồn tại, đòi hỏi các giải pháp hoàn thiện để nâng cao hiệu quả đầu tư công, đảm bảo nguồn lực của nhà nước được sử dụng đúng mục đích, minh bạch và chống lãng phí, thất thoát.

1.1. Tác động của đầu tư công đến kinh tế xã hội Khánh Hòa

Đầu tư công có những tác động của đầu tư công đến kinh tế - xã hội một cách sâu rộng tại Khánh Hòa. Nguồn vốn này chủ yếu tập trung vào xây dựng kết cấu hạ tầng, vốn là nền tảng cho mọi hoạt động phát triển. Các công trình trọng điểm như đường Nguyễn Tất Thành, đường Phạm Văn Đồng, nâng cấp sân bay Cam Ranh thành cảng hàng không quốc tế đã tạo ra sự kết nối liên vùng, thúc đẩy du lịch và thương mại. Giai đoạn 2001-2010, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân của tỉnh đạt 10,7%/năm, cao hơn mức trung bình cả nước. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực, tăng tỷ trọng ngành dịch vụ - du lịch và công nghiệp - xây dựng. Đầu tư công không chỉ tạo ra tài sản vật chất mà còn là công cụ điều tiết kinh tế, định hướng phát triển theo các mục tiêu chiến lược của tỉnh, đặc biệt là phát triển ba vùng kinh tế trọng điểm: Nha Trang, Cam Ranh, và Vân Phong. Hơn nữa, các dự án phúc lợi xã hội trong giáo dục, y tế cũng góp phần cải thiện đời sống người dân và phát triển nguồn nhân lực.

1.2. Khung pháp lý điều chỉnh quy trình quản lý dự án đầu tư công

Hệ thống chính sách và pháp luật là công cụ quan trọng để nhà nước điều chỉnh quy trình quản lý dự án đầu tư công. Tại thời điểm nghiên cứu (trước 2011), hoạt động này chịu sự chi phối của nhiều văn bản như Luật Xây dựng 2003, Luật Đấu thầu, và các nghị định của Chính phủ như Nghị định 12/2009/NĐ-CP về quản lý đầu tư xây dựng. Các văn bản này đã tạo ra cơ sở pháp lý cho các khâu từ lập chủ trương đầu tư, thẩm định dự án đầu tư, lựa chọn nhà thầu, đến nghiệm thu và quyết toán. Tuy nhiên, hệ thống này còn tồn tại sự chồng chéo, thiếu thống nhất và thường xuyên thay đổi, gây khó khăn cho việc áp dụng. Nhiều quy định chưa đủ chặt chẽ để xử lý các vi phạm, đặc biệt là các chế tài còn nhẹ, chưa đủ sức răn đe. Về sau, sự ra đời của Luật Đầu tư công 2019 đã hệ thống hóa và tạo ra một khung pháp lý thống nhất, chặt chẽ hơn, nhằm khắc phục những tồn tại của giai đoạn trước, hướng tới một nền quản lý đầu tư công minh bạch và hiệu quả hơn.

II. Thách thức trong quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản ở đây

Bên cạnh những thành tựu, công tác quản lý đầu tư công trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa phải đối mặt với nhiều thách thức và hạn chế nghiêm trọng. Những yếu kém này xảy ra ở tất cả các giai đoạn của một dự án, từ hoạch định, chuẩn bị đầu tư đến triển khai và vận hành. Tình trạng đầu tư dàn trải, thiếu trọng điểm, quyết định đầu tư mang tính chủ quan, chạy theo thành tích nhiệm kỳ đã dẫn đến nhiều dự án kém hiệu quả, gây lãng phí lớn cho ngân sách. Công tác quy hoạch chưa theo kịp tốc độ phát triển, thiếu sự liên kết giữa các quy hoạch ngành, dẫn đến tình trạng chồng chéo, phải điều chỉnh nhiều lần. Luận văn của Nguyễn Tiến Phước chỉ ra rằng, việc thất thoát trong khâu quyết định chủ trương đầu tư có thể chiếm tới 60-70% tổng lãng phí. Thêm vào đó, năng lực của các chủ đầu tư, ban quản lý dự án, đặc biệt ở cấp huyện, xã còn hạn chế, ảnh hưởng đến chất lượng quản lý chung. Các vấn đề về nợ đọng xây dựng cơ bản và chậm giải ngân vốn đầu tư công cũng là những điểm nghẽn lớn, làm giảm hiệu quả sử dụng vốn và gây khó khăn cho các nhà thầu.

2.1. Hạn chế trong quy hoạch và phê duyệt chủ trương đầu tư

Chất lượng công tác quy hoạch và phê duyệt chủ trương đầu tư là khâu yếu nhất, gây ra những lãng phí lớn và kéo dài. Nhiều quy hoạch được lập ra nhưng thiếu cơ sở khoa học và dự báo đáng tin cậy, mang nặng ý muốn chủ quan. Hệ quả là các dự án được quyết định đầu tư không phù hợp với thực tế, không khai thác được tiềm năng hoặc phải đình hoãn, gây lãng phí. Ví dụ điển hình được nêu trong nghiên cứu là dự án Nhà máy đường Cam Ranh hoạt động cầm chừng do thiếu nguyên liệu, hay dự án Công viên Hoa Biển phải tháo dỡ vì làm mất mỹ quan đô thị, gây tổn thất 9 tỷ đồng. Tình trạng "quy hoạch treo" cũng diễn ra phổ biến. Công tác thẩm định dự án đầu tư nhiều khi chỉ mang tính hình thức, hợp thức hóa các quyết định đã có sẵn thay vì là một bộ lọc hiệu quả để loại bỏ các dự án kém khả thi.

2.2. Bất cập trong phân bổ và giải ngân vốn đầu tư công

Việc phân bổ vốn ngân sách nhà nước còn mang tính bình quân, dàn trải, chưa thực sự tập trung vào các dự án trọng điểm có sức lan tỏa lớn. Nhiều dự án đã được phê duyệt nhưng nhiều năm không được bố trí vốn, hoặc bố trí vốn nhỏ giọt, kéo dài thời gian thi công, làm tăng chi phí và giảm hiệu quả đầu tư công. Quy trình giải ngân vốn đầu tư công còn phức tạp, vướng mắc ở nhiều khâu như đền bù giải phóng mặt bằng, thủ tục thanh quyết toán. Công tác giải phóng mặt bằng thường xuyên chậm trễ do chính sách bồi thường chưa nhất quán và hợp lý, dẫn đến khiếu kiện kéo dài. Các thủ tục nghiệm thu, thanh toán còn rườm rà, gây ra tình trạng nợ đọng xây dựng cơ bản, ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp và tiến độ chung của dự án.

2.3. Vướng mắc trong công tác đấu thầu và quản lý dự án

Mặc dù đấu thầu đã giúp tiết kiệm một phần ngân sách, công tác này vẫn còn nhiều tồn tại. Hiện tượng thông thầu, chia nhỏ gói thầu để chỉ định thầu còn khá phổ biến, làm giảm tính cạnh tranh và minh bạch. Năng lực của một số chủ đầu tư và bên mời thầu còn yếu, dẫn đến chất lượng hồ sơ mời thầu không cao, việc đánh giá hồ sơ dự thầu còn sai sót. Nghiên cứu chỉ ra các vi phạm như tại dự án đường Dã Tượng (bán thầu) hay dự án Nhà máy nước Nam TX Cam Ranh (xét thầu chưa khách quan). Bên cạnh đó, năng lực quản lý dự án của các chủ đầu tư và ban quản lý còn hạn chế, đặc biệt ở cấp cơ sở. Việc thiếu chuyên môn và kinh nghiệm dẫn đến công tác giám sát thi công lỏng lẻo, không kiểm soát được chất lượng, tiến độ và chi phí, gây thất thoát và làm giảm tuổi thọ công trình.

III. Phương pháp hoàn thiện quản lý đầu tư công giai đoạn chuẩn bị

Để nâng cao hiệu quả đầu tư công, việc hoàn thiện công tác quản lý ngay từ giai đoạn chuẩn bị là yêu cầu cấp thiết. Đây là giai đoạn quyết định đến 60-70% sự thành công và hiệu quả của toàn bộ dự án. Các giải pháp cần tập trung vào hai khâu cốt lõi: nâng cao chất lượng quy hoạch và siết chặt quy trình thẩm định, phê duyệt dự án. Một quy hoạch tốt phải có tầm nhìn dài hạn, dựa trên các dự báo khoa học và có tính liên kết cao giữa các ngành và vùng lãnh thổ. Điều này giúp tránh được các quyết định đầu tư sai lầm, gây lãng phí nguồn lực xã hội. Song song với đó, quy trình thẩm định dự án đầu tư phải được thực hiện một cách nghiêm túc, độc lập và khách quan. Cơ quan thẩm định, cụ thể là Sở Kế hoạch và Đầu tư Khánh Hòa, cần được trang bị đủ nguồn lực và công cụ để phân tích chi phí - lợi ích một cách toàn diện, đảm bảo chỉ những dự án thực sự khả thi và cần thiết mới được thông qua. Mục tiêu cuối cùng là đảm bảo mọi đồng vốn đầu tư xây dựng cơ bản đều được chi tiêu một cách khôn ngoan, phục vụ đúng mục tiêu phát triển bền vững của tỉnh.

3.1. Nâng cao chất lượng quy hoạch chống lãng phí thất thoát

Giải pháp hàng đầu để chống lãng phí, thất thoát là nâng cao chất lượng công tác quy hoạch. Cần khắc phục tình trạng quy hoạch cục bộ, khép kín bằng cách lồng ghép quy hoạch phát triển ngành, quy hoạch xây dựng và quy hoạch sử dụng đất trên cùng một không gian lãnh thổ. Công tác dự báo phải được chú trọng, cập nhật thường xuyên để quy hoạch không bị lạc hậu so với thực tiễn. Việc xây dựng quy hoạch cần có sự tham gia của các chuyên gia, nhà khoa học và cộng đồng dân cư để tăng tính khả thi và đồng thuận xã hội. UBND tỉnh Khánh Hòa cần chỉ đạo quyết liệt việc công khai, minh bạch các quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất, đồng thời có chế tài xử lý nghiêm các trường hợp "quy hoạch treo" hoặc điều chỉnh quy hoạch tùy tiện vì lợi ích nhóm, đảm bảo kỷ cương trong quản lý phát triển.

3.2. Cải thiện quy trình thẩm định và phê duyệt dự án đầu tư

Quy trình thẩm định dự án đầu tư cần được cải tiến theo hướng thực chất và hiệu quả. Thay vì chỉ xem xét tính tuân thủ thủ tục, cơ quan thẩm định phải tập trung phân tích sâu về hiệu quả kinh tế - xã hội, tác động môi trường, và khả năng cân đối nguồn vốn. Cần xây dựng các tiêu chí và phương pháp đánh giá khoa học, định lượng để so sánh, lựa chọn phương án đầu tư tối ưu. Việc xác định tổng mức đầu tư và suất đầu tư phải dựa trên cơ sở dữ liệu và định mức chuẩn, tránh tình trạng khai khống, tính thừa khối lượng. Nâng cao năng lực và tính độc lập của các hội đồng thẩm định là yếu tố then chốt. Ngoài ra, cần quy định rõ trách nhiệm của cá nhân, tổ chức trong từng khâu thẩm định và phê duyệt, xử lý nghiêm những sai phạm để ngăn chặn các dự án kém hiệu quả ngay từ đầu.

IV. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý đầu tư công giai đoạn 2

Sau giai đoạn chuẩn bị, việc hoàn thiện quản lý đầu tư công trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa trong giai đoạn thực hiện và kết thúc đầu tư đóng vai trò quyết định đến chất lượng và tiến độ công trình. Các giải pháp chính bao gồm tối ưu hóa quy trình quản lý dự án đầu tư công và tăng cường cơ chế giám sát và đánh giá đầu tư. Cần áp dụng các phương pháp quản lý dự án hiện đại, chuyên nghiệp, phân định rõ quyền hạn và trách nhiệm của chủ đầu tư, ban quản lý dự án, nhà thầu tư vấn và nhà thầu thi công. Đồng thời, việc giám sát phải được thực hiện thường xuyên, chặt chẽ ở mọi khâu, từ chất lượng vật liệu, kỹ thuật thi công đến tiến độ và an toàn lao động. Sự tham gia giám sát của cộng đồng cần được khuyến khích và thể chế hóa để tăng tính minh bạch và phát hiện sớm các tiêu cực. Hoạt động đánh giá sau đầu tư cũng cần được chú trọng để rút kinh nghiệm, làm cơ sở cho việc hoạch định các chính sách và dự án trong tương lai, hướng đến việc sử dụng phân bổ vốn ngân sách nhà nước một cách hiệu quả nhất.

4.1. Tối ưu hóa quy trình quản lý và giải ngân vốn đầu tư công

Để đẩy nhanh tiến độ, cần rà soát và đơn giản hóa các thủ tục hành chính không cần thiết trong quy trình quản lý dự án đầu tư công, đặc biệt là trong khâu thanh quyết toán. Việc đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công không chỉ giúp dự án sớm hoàn thành mà còn giảm bớt gánh nặng tài chính cho nhà thầu, hạn chế tình trạng nợ đọng xây dựng cơ bản. Cần nâng cao năng lực cho các chủ đầu tư và ban quản lý dự án thông qua đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về quản lý, pháp luật và kỹ thuật. Tiêu chuẩn hóa các quy trình, áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý tiến độ và chi phí sẽ giúp tăng cường tính chuyên nghiệp và hiệu quả. Bên cạnh đó, cần có cơ chế phối hợp đồng bộ giữa các sở, ban, ngành liên quan để giải quyết kịp thời các vướng mắc, đặc biệt trong công tác giải phóng mặt bằng.

4.2. Tăng cường giám sát và đánh giá đầu tư các dự án công

Công tác giám sát và đánh giá đầu tư phải được xem là một công cụ quản lý thiết yếu. Cần thiết lập một hệ thống giám sát đa tầng: giám sát nội bộ của chủ đầu tư, giám sát của cơ quan quản lý nhà nước, và giám sát của cộng đồng. Việc kiểm tra, giám sát phải được thực hiện định kỳ và đột xuất, tập trung vào các hạng mục dễ xảy ra sai sót hoặc có nguy cơ tham nhũng, lãng phí cao. Sau khi dự án hoàn thành, cần tổ chức đánh giá tác động để so sánh kết quả thực tế với mục tiêu ban đầu, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm. Kết quả đánh giá phải được công khai và sử dụng làm thông tin đầu vào quan trọng cho việc lập kế hoạch đầu tư công trong các giai đoạn tiếp theo, đảm bảo tính kế thừa và liên tục cải tiến.

V. Phân tích hiệu quả đầu tư công tại Khánh Hòa qua số liệu

Đánh giá hiệu quả đầu tư công không chỉ dựa trên định tính mà cần các chỉ số định lượng cụ thể. Luận văn của Nguyễn Tiến Phước đã sử dụng các số liệu thống kê giai đoạn 2001-2010 để phân tích sâu về vấn đề này tại Khánh Hòa. Kết quả cho thấy, mặc dù còn nhiều hạn chế, đầu tư công đã đóng góp tích cực vào sự phát triển chung của tỉnh. Phân tích hệ số ICOR (Incremental Capital-Output Ratio) cho thấy hiệu suất sử dụng vốn đầu tư trên địa bàn tỉnh có xu hướng cải thiện và hiệu quả hơn so với mặt bằng chung cả nước. Đồng thời, dòng vốn đầu tư từ ngân sách đã tạo ra hiệu ứng lan tỏa, kích thích mạnh mẽ khu vực kinh tế tư nhân phát triển, thể hiện qua tốc độ tăng vốn đầu tư ngoài nhà nước cao hơn. Những con số này là minh chứng cho thấy khi công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản được chú trọng, nó sẽ trở thành động lực mạnh mẽ cho tăng trưởng kinh tế địa phương và góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Khánh Hòa theo hướng hiện đại, bền vững.

5.1. Đánh giá hiệu suất sử dụng vốn công qua chỉ số ICOR

Hệ số ICOR là một thước đo quan trọng để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn đầu tư. Theo số liệu phân tích trong luận văn, giai đoạn 2006-2010, hệ số ICOR chung của Khánh Hòa là 3,07, thấp hơn đáng kể so với mức 4,88 của cả nước, cho thấy để tạo ra một đơn vị GDP, Khánh Hòa cần ít vốn đầu tư hơn. Riêng đối với khu vực nhà nước, hệ số ICOR của Khánh Hòa là 3,07, trong khi của khu vực tư nhân là 2,23. Điều này phản ánh một thực tế rằng đầu tư của khu vực tư nhân có hiệu quả về mặt tài chính cao hơn. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng đầu tư công thường hướng vào các lĩnh vực hạ tầng có thời gian thu hồi vốn dài và mang lại lợi ích xã hội gián tiếp, do đó việc so sánh cần có cái nhìn toàn diện. Dù vậy, các chỉ số này cho thấy tiềm năng cải thiện hiệu quả đầu tư công tại tỉnh vẫn còn rất lớn.

5.2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Khánh Hòa nhờ đầu tư

Đầu tư công vào hạ tầng đã tạo ra nền tảng vững chắc cho sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Khánh Hòa. Giai đoạn 2000-2010, tỷ trọng ngành Nông-Lâm-Thủy sản giảm mạnh từ 26,9% xuống còn 13,6%. Ngược lại, tỷ trọng khu vực Dịch vụ - Du lịch tăng từ 37,8% lên 44,2%, và Công nghiệp - Xây dựng tăng từ 35,3% lên 42,2%. Sự chuyển dịch này hoàn toàn phù hợp với định hướng phát triển của tỉnh. Việc nhà nước đi trước một bước trong việc xây dựng các công trình giao thông, cảng biển, sân bay, và hạ tầng du lịch đã tạo ra một môi trường đầu tư hấp dẫn, là chất xúc tác mạnh mẽ để thu hút đầu tư từ các thành phần kinh tế khác. Đây là minh chứng rõ nét cho vai trò dẫn dắt và kiến tạo của đầu tư công trong quá trình phát triển kinh tế.

VI. Hướng đi tương lai cho quản lý đầu tư công tỉnh Khánh Hòa

Để hoàn thiện công tác quản lý đầu tư công trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa, cần có một chiến lược tổng thể và dài hạn, kết hợp giữa việc cải cách thể chế, nâng cao năng lực thực thi và ứng dụng công nghệ hiện đại. Trong bối cảnh mới, việc tuân thủ và vận dụng sáng tạo các quy định của Luật Đầu tư công 2019 là yêu cầu bắt buộc. Các cơ quan quản lý nhà nước như UBND tỉnh Khánh HòaSở Kế hoạch và Đầu tư Khánh Hòa cần đóng vai trò nòng cốt trong việc chỉ đạo, điều hành và kiểm tra, giám sát. Hướng đi tương lai là xây dựng một nền quản lý đầu tư công chuyên nghiệp, minh bạch, có trách nhiệm giải trình cao và hiệu quả. Điều này không chỉ giúp tiết kiệm ngân sách, chống lãng phí, thất thoát, mà còn góp phần củng cố niềm tin của người dân và doanh nghiệp, tạo động lực cho sự phát triển bền vững của tỉnh trong giai đoạn mới. Các nguồn vốn khác như nguồn vốn ODA hay trái phiếu chính phủ cũng cần được quản lý chặt chẽ theo các nguyên tắc này.

6.1. Kiến nghị chính sách cho UBND và Sở Kế hoạch và Đầu tư

Các cơ quan chức năng của tỉnh cần tập trung vào một số kiến nghị chính sách trọng tâm. Thứ nhất, cần tăng cường phân cấp quản lý đi đôi với việc xác định rõ trách nhiệm của từng cấp, từng đơn vị, đặc biệt là trách nhiệm của người đứng đầu. Thứ hai, cần chú trọng công tác đào tạo, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý đầu tư ở tất cả các cấp. Thứ ba, cần xây dựng một hệ thống cơ sở dữ liệu đồng bộ về các dự án đầu tư công để phục vụ công tác theo dõi, đánh giá và hoạch định chính sách. Sở Kế hoạch và Đầu tư Khánh Hòa nên đóng vai trò là cơ quan tham mưu, đầu mối trong việc rà soát, đề xuất loại bỏ các thủ tục không cần thiết, tạo môi trường đầu tư thông thoáng.

6.2. Ứng dụng Luật Đầu tư công 2019 và chuyển đổi số

Luật Đầu tư công 2019 đã tạo ra một hành lang pháp lý chặt chẽ hơn, với nhiều quy định mới về lập, thẩm định, phê duyệt chủ trương đầu tư và kế hoạch đầu tư công trung hạn. Việc áp dụng nghiêm túc luật này sẽ giúp khắc phục nhiều tồn tại trong quá khứ. Bên cạnh đó, xu hướng chuyển đổi số mở ra cơ hội lớn để hiện đại hóa công tác quản lý. Việc triển khai hệ thống đấu thầu qua mạng, áp dụng phần mềm quản lý dự án, xây dựng các nền tảng công khai thông tin dự án sẽ giúp tăng cường tính minh bạch, giảm thiểu tiêu cực và nâng cao hiệu quả quản lý. Đây là hướng đi tất yếu để Khánh Hòa xây dựng một hệ thống quản lý đầu tư công tiên tiến, đáp ứng yêu cầu phát triển trong kỷ nguyên số.

21/07/2025
Luận văn thạc sĩ kinh tế các giải pháp hoàn thiện quản lý đầu tư công trên địa bàn tỉnh khánh hoà

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I - TÔNG QUAN VỀ LÝ THUYET QUAN LY DAU TU CONG 1. Khái niệm về đầu tư công. Đầu tư công là hình thức đầu tư vốn nhà nước vào các chương trình, dự. án phát triên kinh tế - xã hội, không nhằm mục đích kinh doanh [3], Với định nghĩa như trên, đối tượng sử dụng nguồn vốn nhà nước trong.

đầu tư công rất đa dạng gồm: Chương trình mục tiêu, dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tằng kinh tế -xã hội, các công trình công cộng, quốc phòng, an ninh. đầu tư từ nguồn vốn thuộc phạm vi chỉ ngân sách nhà nước cho đầu tư phát triển. Nguồn hình thành vốn đầu tr công được ly từ thungân sách, thu ngân sách bao gồm các khoản sau: ~ Thu nội địa: thu từ các khu vực kinh tế (thuế đánh lên các doanh nghiệp), thu từ các khu vực khác (thuế nhà đất, thuế nông nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thu xô số kiến thiết, thu phí xing dau, thu phí, lệ phí. - Thu từ hoạt động xuất nhập khẩu: thuế xuất khẩu, nhập khâu, thuế giá trị gia tăng hàng nhập khâu, thu chênh lệch giá hàng nhập khâu.

~ Thu viện try không hoàn hại 1. Các lý thuyết về đầu tư công. Quan điểm của trường phái tân cỗ điển Quan điểm của tường phái này cho rằng nhà nước không nên can thiệp vào nền kinh tế trong quá trình phân bổ nguồn lực như vốn và ho động.mà sự vận động của thị trường sẽ thực hiện tốt hơn vai trò này. Trường phái này khẳng đnh bà một trong các ưu điểm kinh tế thị trường đó là sự phân bổ nguồn lực một cách tự động hay qua bàn tay vô hình của thị trường.

Đầu tư là một hình thức phân bô nguồn lực trong các hình thức đó có phân bổ vốn trong nền kinh tế. “Theo lý thuyết này, các đơn vị sản xuất trong nền kinh tế trong quá trình tìm đến điểm tối đa hoá lợi nhuận sẽ tìm kiếm cơ hội đầu tư tốt nhất cho chính mình, và như vậy nhà nước không cần can thiệp để tạo ra một cơ cấu đầu tư hợp lý cho doanh nghiệp vì bản thân doanh nghiệp biết rõ hơn ai hết là cần phải làm gì để đạt lợi ích tốt nhất cho chính doanh nghiệp. Cộng tắt cả các đơn vị sản xuất này trong nền kinh tế sẽ hình thành một cơ cấu đầu tư của một nền kinh tế và theo lập luận trên, và cơ cấu đó là hợp lý. Vai trò của nhà nước tong trường hợp này chỉ dừng lại ở mức là cung cấp các hàng hoá công cộng cẩn thiết cho nền kinh tế như kết cấu hạ tầng kỹ thuật và kết cấu hạ tằng xã hội mà nếu để thị trường tự vận động thì không.

thể đáp ứng được. Giả định của trường phái tân cô điển là thị trường cạnh tranh hoàn hảo. Đây là thị trường mà người bán và người mua có khả năng. kiểm soát giá và họ có đầy đủ thông tí về thị trường không những trong.

hiện tại ma cả ở trong bi 1. Quan điểm ủng hộ sự can thiệp của nhà mước. Quan điểm này cho rằng do sự không hoàn hảo của thị trường, nhất là các nước đang phát triển, nên sự tự thân vận động cửa thị trường sẽ không mang hi kết quả tối ưu. Thông th không hoàn hảo có.

sẽ dẫn đến sản xuất và đầu tr quá mức. Trong trường hợp này, nhà nước phải à ngư chức cung cấp thông tin tốt để thị trường hoạt động tốthơn. Mặt khác,ở hầu hết các nước đang phát triển, nền kh tế còn lạc hậu, phụ thuộc nhiều vào nông nghiệp, nếu để thị trường tự thân vận động thì sẽ không thể tạo m sự. phát triển công nghiệp mạnh mẽ được mà chuyển dịch cơ cấu là nội dung.

của tiến trình công nghiệp hoá, nhà nước cần phải tạo ra sr khởi động ban đầu để các thành phần kinh tế phát triển, tránh những rủi ro, mất cân đối trong nền kinh tế, và sự can thiệp của nhà nước, nhất là trong việc phân bổ các nguồn lực trong nền kinh tế là rất cần thiết. Quan điểm về sự phát triển cân đối hay không cân đối. ~ Thuyết tăng trưởng cân đối ‘Theo Rosenstain - Rodan, khái niệm tăng trưởng cân đối được đưa ra nhằm mô tả sự tăng trưởng cân đối giữa các ngành trong nền kih tế Ông đề xuất đầu tư nên hướng cùng lúc vào nhiều ngành để tăng cung. cũng như cầu cho nhiều sản phẩm bằng cách tăng thu nhập của lao động trong những ngành này.

Sự phát trên của các ngành công nghiệp chế biến đòi hỏi lượng đầu tư lớn trong một thời gian đài Từ đó phát sinh nhu cầu phát triển song song cả hàng hoá phục vụ sản xuất lẫn phục vụ tiêu dùng. Ý' tưởng về “cú huých” lập luận rằng, một sự gã tăng đột ngột về đầu tư có thể làm cho mức tiết kiệm tăng lên bởi vì sự gia tăng đột ngột của thu nhập. “Cú huých” này biểu hiện thông qua các hoạt động của chính phủ và mục tiêu của viện trợ nước ngoài. Cũng theo Rosnstain-Rodan, mục đích của viện trợ nước ngoài cho các nước kém phát trên là đây nhanh quá trình phát triển kinh tế đến một điểm mà ở đó tốc độ tăng trưởng kinh & mong muốn có thể đạt được trên nền tảng tự duy trì, không phụ thuộc vào các nguồn tài trợ bên ngoài.

~ Thuyết tăng trưởng không cân đối Hichman (1958) đưa ra một mô hình trái ngược với thuyết tăng trưởng cân đối, ông cho rằng sự mất cân đối giữa cung và cầu tạo m động. lực cho nhều dự án mới. Theo đó, cách tếp cận này yêu cầu phần lớn vốn đầu tr được phân phối bởi nhà nước cho những ngành công nghiệp trọng điểm, nhằm tạo ra những cơ hội ở những ngành khác trong nẻn kinh tế, từ đó khuyến khích làn sóng đầu tr thứ hai. Những ngành được chọn m để.

đầu tư nên được đánh giá theo. mối liên hệ giữa ngành đó với các ngành liên quan theo “chuỗi giá trị”, điều này nói đến khả năng tạo ra những ngành mới làm đầu ra hay cung cấp đầu vào cho những ngành được chọn để đầu tư. " Hirchman chấp nhận có sự can thiệp của nhà nước nhưng ông cho rằngý' tưởng “cú huých” là không khả thi mà thay vào đó, sự phát triển tốt nhất là được tạo ra từ những mắt cân đối như thế. Do nguồn vốn có hạn, chính phủ không thể bảo đảm đầu tr một cách rải đều cho.

it cả các ngành khác để đảm bảo phát triển ngành này cũng l tạo điều kiện để ngành khác phát triển “Trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam là một nền kinh tế chuyên đôi, nhiều định chế của cơ chế thị trường chưa hình thành hoàn chỉnh nên các điều kiện của thị trường cạnh tranh hoàn hảo chưa thể đáp ứng được. Mặt khác, nền kinh tế nước ta đang ở trình độ rất thấp, chủ yếu là nền kinh tế nông nghiệp, trình độ cư dân thấp. đòi hỏi phải có vai trò chủ động của nhà nước trong việc hướng phát triển các ngành kinh tế, nhà nước phải tạo những tiền để nhất định như hạ tầng kỹ thuật, nguồn nhân lực. để thúc đây phát triển kinh tế.

Quản lý đầu tư công 1. Khái niệm quản lý đầu tư công Hoạt động quản lý đầu tư công là sự tác động có tô chức và điều chính bằng quyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động. của con người, do các eo quan trong hệ thống hành pháp và hành chính thực hiện nhằm hỗ trợ các chủ đầu tư thực hiện đúng vai trò, chức năng, nhiệm vụ. của người đại diện sở hữu trong các dự án đầu tư; ngăn ngừa các ảnh hưởng.

tiêu cực của các dự án; kiểm tra, kiểm soát, ngăn ngừa các hiện tượng tiêu cực tong việc sir dungvi ốn đầu tư nhằm tránh thất thoát, lãng phí các nguồn vốn đầu tr [9] Từ sự tổng hợp các khái niệm trên, ta có cách hiểu sau: Hoạt động. quản lý đầu tư công là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người 2 của các cơ quan trong bộ máy nhà nước nhằm hỗ trợ các chủ đầu tư thực. hiện đúng vai trò, chức năng. nhiệm vụ của người đại diện sở hữu trong các dự án công; ngăn ngừa các ảnh hưởng tiêu cực của các dự án; kiểm tra, kiểm soát, ngăn ngừa các hiện tượng tiêu cực trong việc sử dụng vốn nhà nước nhằm tránh thất thoát, lăng phí vốn đầu tư; đảm bảo hoạt động đầu trr được tốt nhất với chỉ phí thấp nhất.

Chỉ khi đáp ứng được những yêu cầu này. thì hoạt động quản lý đầu tư công mới được coi là có hiệu quả. Quin lý đầu tư công bao gồm bốn chức năng chủ yếu đó là : Hoạch định; tô chức ; lănh đạo và điều phối thực hiện; gám sát thực hiện đầu tư. Hoach định : Đây là giai đoạn xây dựng mục tiêu, xác định công việc, dự.

tính nguồn lực cần thiết để đạt được mục tiêu một cách nhanh nhất và hiệu quả nhất Tổ chức : ĐÈ. bảo đảm các mục tiêu và kế hoạch sẽ được triển khai vào. thực tế, tác động tích cực đến việc sử dụng các nguồn lực một cách hiệu quả. nhất giảm thiểu những sai sót và lăng phí trong hoạt động quản trị.

Lãnh đạo thực hiện. Đây là quá trình phân phối nguồn lực bao gồm tiền vốn, lao động, thiết bị và đặc biệt quan trọng lì điều phối và quản lý tiến độ thời gian. Giai đoạn này chỉ tiết hóa thời gian, lập lịch trình cho từng công việc và toàn bộ dự án (khi nào bắt đầu, khi nào kết thúc), trên cơ sở đó, bổ trí tiền vốn, nhân lực và thiết bị phù hợp. Kiểm tra, giám sắt và đánh giá hiệu quả của dự án: Là quá trình theo dõi kiểm tra tiến trình dự án, phân tích tình hình thực hiện, báo cáo hiện trạng.

và đề xuất biện pháp giải quyết những vướng mắc trong quá trình thực hiện. Cùng với hoạt động giám sát, công tác đánh giá dự án giữa kỳ cuối và cuốikỳ cũng được thực hiện nhằm tổng kết rútkinh nghiệm, kiến nghị các pha sau của dự án.2 Nội dung của Quản lý đầu tr công “Tác giải công tác quản lý đầu ar công thành 5 nội dung chính đó là 1) Quản lý công tác hoạch định đầu tư; 2) Quản lý công tác chuẩn bị đầu tr; 3) Quản lý công tác thực hiện đầu tr; .4) Quản lý công tác vận hành và nghiệm thu công trình đưa vào sĩ dụng, Š) Quản lý công tác giá sát và đánh giá hiệu quả đầu tư.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ