Chương I - TÔNG QUAN VỀ LÝ THUYET QUAN LY DAU TU CONG 1. Khái niệm về đầu tư công. Đầu tư công là hình thức đầu tư vốn nhà nước vào các chương trình, dự. án phát triên kinh tế - xã hội, không nhằm mục đích kinh doanh [3], Với định nghĩa như trên, đối tượng sử dụng nguồn vốn nhà nước trong.
đầu tư công rất đa dạng gồm: Chương trình mục tiêu, dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tằng kinh tế -xã hội, các công trình công cộng, quốc phòng, an ninh. đầu tư từ nguồn vốn thuộc phạm vi chỉ ngân sách nhà nước cho đầu tư phát triển. Nguồn hình thành vốn đầu tr công được ly từ thungân sách, thu ngân sách bao gồm các khoản sau: ~ Thu nội địa: thu từ các khu vực kinh tế (thuế đánh lên các doanh nghiệp), thu từ các khu vực khác (thuế nhà đất, thuế nông nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thu xô số kiến thiết, thu phí xing dau, thu phí, lệ phí. - Thu từ hoạt động xuất nhập khẩu: thuế xuất khẩu, nhập khâu, thuế giá trị gia tăng hàng nhập khâu, thu chênh lệch giá hàng nhập khâu.
~ Thu viện try không hoàn hại 1. Các lý thuyết về đầu tư công. Quan điểm của trường phái tân cỗ điển Quan điểm của tường phái này cho rằng nhà nước không nên can thiệp vào nền kinh tế trong quá trình phân bổ nguồn lực như vốn và ho động.mà sự vận động của thị trường sẽ thực hiện tốt hơn vai trò này. Trường phái này khẳng đnh bà một trong các ưu điểm kinh tế thị trường đó là sự phân bổ nguồn lực một cách tự động hay qua bàn tay vô hình của thị trường.
Đầu tư là một hình thức phân bô nguồn lực trong các hình thức đó có phân bổ vốn trong nền kinh tế. “Theo lý thuyết này, các đơn vị sản xuất trong nền kinh tế trong quá trình tìm đến điểm tối đa hoá lợi nhuận sẽ tìm kiếm cơ hội đầu tư tốt nhất cho chính mình, và như vậy nhà nước không cần can thiệp để tạo ra một cơ cấu đầu tư hợp lý cho doanh nghiệp vì bản thân doanh nghiệp biết rõ hơn ai hết là cần phải làm gì để đạt lợi ích tốt nhất cho chính doanh nghiệp. Cộng tắt cả các đơn vị sản xuất này trong nền kinh tế sẽ hình thành một cơ cấu đầu tư của một nền kinh tế và theo lập luận trên, và cơ cấu đó là hợp lý. Vai trò của nhà nước tong trường hợp này chỉ dừng lại ở mức là cung cấp các hàng hoá công cộng cẩn thiết cho nền kinh tế như kết cấu hạ tầng kỹ thuật và kết cấu hạ tằng xã hội mà nếu để thị trường tự vận động thì không.
thể đáp ứng được. Giả định của trường phái tân cô điển là thị trường cạnh tranh hoàn hảo. Đây là thị trường mà người bán và người mua có khả năng. kiểm soát giá và họ có đầy đủ thông tí về thị trường không những trong.
hiện tại ma cả ở trong bi 1. Quan điểm ủng hộ sự can thiệp của nhà mước. Quan điểm này cho rằng do sự không hoàn hảo của thị trường, nhất là các nước đang phát triển, nên sự tự thân vận động cửa thị trường sẽ không mang hi kết quả tối ưu. Thông th không hoàn hảo có.
sẽ dẫn đến sản xuất và đầu tr quá mức. Trong trường hợp này, nhà nước phải à ngư chức cung cấp thông tin tốt để thị trường hoạt động tốthơn. Mặt khác,ở hầu hết các nước đang phát triển, nền kh tế còn lạc hậu, phụ thuộc nhiều vào nông nghiệp, nếu để thị trường tự thân vận động thì sẽ không thể tạo m sự. phát triển công nghiệp mạnh mẽ được mà chuyển dịch cơ cấu là nội dung.
của tiến trình công nghiệp hoá, nhà nước cần phải tạo ra sr khởi động ban đầu để các thành phần kinh tế phát triển, tránh những rủi ro, mất cân đối trong nền kinh tế, và sự can thiệp của nhà nước, nhất là trong việc phân bổ các nguồn lực trong nền kinh tế là rất cần thiết. Quan điểm về sự phát triển cân đối hay không cân đối. ~ Thuyết tăng trưởng cân đối ‘Theo Rosenstain - Rodan, khái niệm tăng trưởng cân đối được đưa ra nhằm mô tả sự tăng trưởng cân đối giữa các ngành trong nền kih tế Ông đề xuất đầu tư nên hướng cùng lúc vào nhiều ngành để tăng cung. cũng như cầu cho nhiều sản phẩm bằng cách tăng thu nhập của lao động trong những ngành này.
Sự phát trên của các ngành công nghiệp chế biến đòi hỏi lượng đầu tư lớn trong một thời gian đài Từ đó phát sinh nhu cầu phát triển song song cả hàng hoá phục vụ sản xuất lẫn phục vụ tiêu dùng. Ý' tưởng về “cú huých” lập luận rằng, một sự gã tăng đột ngột về đầu tư có thể làm cho mức tiết kiệm tăng lên bởi vì sự gia tăng đột ngột của thu nhập. “Cú huých” này biểu hiện thông qua các hoạt động của chính phủ và mục tiêu của viện trợ nước ngoài. Cũng theo Rosnstain-Rodan, mục đích của viện trợ nước ngoài cho các nước kém phát trên là đây nhanh quá trình phát triển kinh tế đến một điểm mà ở đó tốc độ tăng trưởng kinh & mong muốn có thể đạt được trên nền tảng tự duy trì, không phụ thuộc vào các nguồn tài trợ bên ngoài.
~ Thuyết tăng trưởng không cân đối Hichman (1958) đưa ra một mô hình trái ngược với thuyết tăng trưởng cân đối, ông cho rằng sự mất cân đối giữa cung và cầu tạo m động. lực cho nhều dự án mới. Theo đó, cách tếp cận này yêu cầu phần lớn vốn đầu tr được phân phối bởi nhà nước cho những ngành công nghiệp trọng điểm, nhằm tạo ra những cơ hội ở những ngành khác trong nẻn kinh tế, từ đó khuyến khích làn sóng đầu tr thứ hai. Những ngành được chọn m để.
đầu tư nên được đánh giá theo. mối liên hệ giữa ngành đó với các ngành liên quan theo “chuỗi giá trị”, điều này nói đến khả năng tạo ra những ngành mới làm đầu ra hay cung cấp đầu vào cho những ngành được chọn để đầu tư. " Hirchman chấp nhận có sự can thiệp của nhà nước nhưng ông cho rằngý' tưởng “cú huých” là không khả thi mà thay vào đó, sự phát triển tốt nhất là được tạo ra từ những mắt cân đối như thế. Do nguồn vốn có hạn, chính phủ không thể bảo đảm đầu tr một cách rải đều cho.
it cả các ngành khác để đảm bảo phát triển ngành này cũng l tạo điều kiện để ngành khác phát triển “Trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam là một nền kinh tế chuyên đôi, nhiều định chế của cơ chế thị trường chưa hình thành hoàn chỉnh nên các điều kiện của thị trường cạnh tranh hoàn hảo chưa thể đáp ứng được. Mặt khác, nền kinh tế nước ta đang ở trình độ rất thấp, chủ yếu là nền kinh tế nông nghiệp, trình độ cư dân thấp. đòi hỏi phải có vai trò chủ động của nhà nước trong việc hướng phát triển các ngành kinh tế, nhà nước phải tạo những tiền để nhất định như hạ tầng kỹ thuật, nguồn nhân lực. để thúc đây phát triển kinh tế.
Quản lý đầu tư công 1. Khái niệm quản lý đầu tư công Hoạt động quản lý đầu tư công là sự tác động có tô chức và điều chính bằng quyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động. của con người, do các eo quan trong hệ thống hành pháp và hành chính thực hiện nhằm hỗ trợ các chủ đầu tư thực hiện đúng vai trò, chức năng, nhiệm vụ. của người đại diện sở hữu trong các dự án đầu tư; ngăn ngừa các ảnh hưởng.
tiêu cực của các dự án; kiểm tra, kiểm soát, ngăn ngừa các hiện tượng tiêu cực tong việc sir dungvi ốn đầu tư nhằm tránh thất thoát, lãng phí các nguồn vốn đầu tr [9] Từ sự tổng hợp các khái niệm trên, ta có cách hiểu sau: Hoạt động. quản lý đầu tư công là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người 2 của các cơ quan trong bộ máy nhà nước nhằm hỗ trợ các chủ đầu tư thực. hiện đúng vai trò, chức năng. nhiệm vụ của người đại diện sở hữu trong các dự án công; ngăn ngừa các ảnh hưởng tiêu cực của các dự án; kiểm tra, kiểm soát, ngăn ngừa các hiện tượng tiêu cực trong việc sử dụng vốn nhà nước nhằm tránh thất thoát, lăng phí vốn đầu tư; đảm bảo hoạt động đầu trr được tốt nhất với chỉ phí thấp nhất.
Chỉ khi đáp ứng được những yêu cầu này. thì hoạt động quản lý đầu tư công mới được coi là có hiệu quả. Quin lý đầu tư công bao gồm bốn chức năng chủ yếu đó là : Hoạch định; tô chức ; lănh đạo và điều phối thực hiện; gám sát thực hiện đầu tư. Hoach định : Đây là giai đoạn xây dựng mục tiêu, xác định công việc, dự.
tính nguồn lực cần thiết để đạt được mục tiêu một cách nhanh nhất và hiệu quả nhất Tổ chức : ĐÈ. bảo đảm các mục tiêu và kế hoạch sẽ được triển khai vào. thực tế, tác động tích cực đến việc sử dụng các nguồn lực một cách hiệu quả. nhất giảm thiểu những sai sót và lăng phí trong hoạt động quản trị.
Lãnh đạo thực hiện. Đây là quá trình phân phối nguồn lực bao gồm tiền vốn, lao động, thiết bị và đặc biệt quan trọng lì điều phối và quản lý tiến độ thời gian. Giai đoạn này chỉ tiết hóa thời gian, lập lịch trình cho từng công việc và toàn bộ dự án (khi nào bắt đầu, khi nào kết thúc), trên cơ sở đó, bổ trí tiền vốn, nhân lực và thiết bị phù hợp. Kiểm tra, giám sắt và đánh giá hiệu quả của dự án: Là quá trình theo dõi kiểm tra tiến trình dự án, phân tích tình hình thực hiện, báo cáo hiện trạng.
và đề xuất biện pháp giải quyết những vướng mắc trong quá trình thực hiện. Cùng với hoạt động giám sát, công tác đánh giá dự án giữa kỳ cuối và cuốikỳ cũng được thực hiện nhằm tổng kết rútkinh nghiệm, kiến nghị các pha sau của dự án.2 Nội dung của Quản lý đầu tr công “Tác giải công tác quản lý đầu ar công thành 5 nội dung chính đó là 1) Quản lý công tác hoạch định đầu tư; 2) Quản lý công tác chuẩn bị đầu tr; 3) Quản lý công tác thực hiện đầu tr; .4) Quản lý công tác vận hành và nghiệm thu công trình đưa vào sĩ dụng, Š) Quản lý công tác giá sát và đánh giá hiệu quả đầu tư.